Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp Park Sung Sang (1977), “Growth and Development: A Physical Output and Employment Strategy - Tăng trưởng và phát triển: Chiến lược đầu ra và việc làm”, sách tham khảo [138]. Tác giả cuốn sách cho rằng: Phát triển nông nghiệp trải qua ba giai đoạn: sơ khai, đang phát triển và phát triển.
Mỗi giai đoạn phát triển này, thì sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như: đất đai, lao động, phân bón, thuốc trừ sâu, KH&CN,… và được tác giả mô tả, phân tích dưới dạng hàm sản xuất. Do đó, trong từng giai đoạn phát triển của nông nghiệp, cần đầu tư, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn vốn và nguồn lực KH&CN để gia tăng sản lượng và tốc độ tăng trưởng nông nghiệp. Tác giả cuốn sách lấy giải quyết việc làm, thu nhập của người dân là mục tiêu thông qua mối quan hệ giữa phát triển hai khu vực của nền kinh tế là nông nghiệp và phi nông nghiệp. Theo tác giả, giai đoạn đầu của sự tăng trường, để tạo việc làm cho thời gian nhàn rỗi cần đầu tư phát triển nông nghiệp theo chiều rộng; giai đoạn hướng tới việc làm đầy đủ, cần đầu tư phát triển đồng thời cả nông nghiệp và công nghiệp; giai đoạn sau khi có việc làm đầy đủ, cần phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ theo chiều sâu để giảm cẩu về lao động.
Với quan điểm như vậy, tác giả cho rằng: Tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ không dẫn tới phân hóa xã hội và sự bất bình đẳng trong thu nhập. Michael Paul Todaro (1989), “Economic Development in the Third World - Kinh tế học cho thế giới thứ ba” [136]. Cuốn sách được các tác giả: Nguyễn Lâm Hoè, Nguyễn Quang Đức, Trần Đoàn Kim, Đặng Như 12 Vân biên dịch. Nội dung cuốn sách được thể hiện trong bốn phần, 25 chương; tập trung giải quyết vấn đề đói nghèo ở các nước Á, Phi, Mỹ la tinh cần phải chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp và quá trình phát triển nông nghiệp trải qua ba giai đoạn từ thấp đến cao: Giai đoạn tự cung tự cấp; giai đoạn đa dạng hóa và giai đoạn chuyên canh, thương mại hóa hiện đại.
Mỗi giai đoạn phát triển này, ông đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản về quy mô, trình độ về phương thức và hiệu quả sản xuất nông nghiệp; đồng thời, cho rằng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và việc tăng cường sử dụng giống mới kết hợp phân bón hóa học và tưới tiêu khoa học đã làm tăng năng suất, sản lượng, tiết kiệm được diện tích đất canh tác và chi phí khác. Báo cáo của Nhóm nghiên cứu đã phân tích khá sâu kinh nghiệm của Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Philipin, Malaixia trong việc tăng năng suất và tăng cường khả năng cạnh tranh của khu vực nông nghiệp, thúc đẩy kinh tế nông thôn và đưa ra những kiến nghị hành động cụ thể có thể thực hiện để phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020. Tác giả bài viết đánh giá kết quả thực hiện chính sách trợ cấp cho nông nghiệp của Trung Quốc từ năm 2011. Theo đó, Trung Quốc đã tăng nguồn lực tài chính ở cả cấp trung ương và địa phương cho nông nghiệp, tập trung đầu tư vào kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; trợ cấp cho nông dân về hạt giống tốt, trợ cấp mua máy móc, thiết bị nông nghiệp, trợ cấp trực tiếp cho sản xuất ngũ cốc và giống gia súc, gia cầm tốt.
Tổng trợ cấp sẽ tiếp tục phát triển, loại trợ cấp sẽ tiếp tục tăng, cơ chế trợ cấp sẽ được cải thiện hơn nữa và lợi 13 ích của nông dân từ chính sách trợ cấp sẽ tiếp tục được nâng lên. Bài viết đánh giá khá chi tiết kết quả triển khai Dự án phát triển nông dân mới của Thái Lan trong cải cách đất nông nghiệp những năm qua. Đặc biệt, bài viết đã làm rõ quy trình phối hợp trong xây dựng đề án đào tạo, bồi dưỡng; chỉ rõ nội dung chương trình và các giải pháp gắn giữa đào tạo, bồi dưỡng lý luận với thực hành cho người học được Bộ Nông Nghiệp Thái Lan chủ trì phối hợp giữa các cơ quan chính phủ với các cơ sở đào tạo và các địa phương thực hiện. Organization for Economic Cooperation and Development (OECD) (2015), “Agricultural development policy of Vietnam in 2015” - Chính sách phát triển nông nghiệp của Việt Nam năm 2015, Báo cáo giám sát chuyên đề của OECD [137].
Nội dung báo cáo được trình bày trong ba chương, tập trung đánh giá bối cảnh chính sách và xu hướng chính sách nông nghiệp của Việt Nam trên cơ sở áp dụng phương pháp mà OECD dùng để giám sát các chính sách nông nghiệp của các nước thành viên và một số nước không phải là thành viên của OECD. Đặc biệt, báo cáo đã chỉ ra thực trạng về chính sách nông nghiệp của Việt Nam so với các quốc gia khác và những kiến nghị cho việc hoàn thiện các chính sách thương mại mà Việt Nam cần tính đến trong những năm tới để thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển trong bối cảnh thương mại hóa toàn cầu. Các công trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp hàng hóa M. Ataman Aksoy, John C.Beghin đại diện cho nhóm các tác giả thuộc Ngân hàng thế giới (WB) (2005), “Global agricultural trade and developing countries - Thương mại nông nghiệp toàn cầu và các nước đang phát triển”, báo cáo thường niên [134].
Báo cáo mô tả thương mại nông nghiệp toàn cầu từ những năm 1980 trên cơ sở khảo sát một loạt các vấn đề liên quan đến chính sách thương mại nông nghiệp, bao gồm cả bảo hộ nông nghiệp của các nước, 14 ảnh hưởng của ưu đãi thương mại mà các nước phát triển dành cho các mặt hàng nông sản đến từ các nước đang phát triển và tác động của nó đến an toàn thực phẩm, các tiêu chuẩn nông nghiệp và các hậu quả có thể có từ tự do hóa thương mại nông nghiệp thông qua việc phân tích thực trạng thương mại và chính sách nông nghiệp đối với những mặt hàng cụ thể như: đường, sữa, gạo, lúa mì, cà phê, bông, lạc, các loại trái cây và rau quả, và các sản phẩm thủy hải sản. Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO) (2015), “The State of Agricultural Commodity Markets 2015 - 2016”- Tình tình của thị trường hàng hóa nông nghiệp 2015 - 2016, báo cáo chuyên đề [132]. Báo cáo đã cung cấp sự tác động của thương mại nông nghiệp đến vấn đề an ninh lương thực, vấn đề đói nghèo trên thế giới và cách thức mà thương mại nông nghiệp cần được điều chỉnh để bảo đảm rằng tăng cường mở cửa thương mại có lợi cho tất cả các nước. Đồng thời, đề xuất một số chủ đề và minh chứng bằng các số liệu thực tiễn giúp cho cuộc Hội thảo của FAO để lựa chọn một cách đúng đắn chính sách thị trường hàng hóa nông nghiệp cho các quốc gia, vùng lãnh thổ.
Bài viết đã trình bày những thành công của một số mô hình HTXNN của Thái Lan như: HTX Khao Kitchakood, Hợp tác xã Thủy sản Phan và HTX Xanh Lục. Đồng thời, chỉ ra rằng: những thành công của các HTXNN, ngoài việc làm tốt các chức năng dịch vụ truyền thống, đã tiến hành đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị tổng hợp trong chuỗi cung ứng nông sản như: tập trung vào việc mua bán; lưu trữ, vận chuyển và chế biến; phân loại và tiêu chuẩn, chia sẻ tài chính, rủi ro và thông tin thị trường. The World Bank (WB) (2016), “Transforming Vietnamese agriculture : gaining more from less” - Chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam: tăng giá trị, giảm đầu vào, Báo cáo phát triển Việt Nam [139]. Báo cáo gồm bốn chương, 15 tập trung phân tích sự thay đổi cấu trúc nông nghiệp trên thế giới những năm gần đây và định vị nông nghiệp Việt Nam trong cấu trúc đó; đánh giá khái quát những thành tựu, hạn chế của nông nghiệp Việt Nam trên cơ sở so sánh với các quốc gia khác; phác thảo kịch bản tương lai, đề ra một số mục tiêu cần thực hiện đến năm 2030 và khuyến nghị đổi mới thể chế, chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam hiệu quả hơn trong những năm tới.
Tác giả bài viết cho rằng thị trường sản phẩm nông nghiệp của Trung Quốc từ năm 2004 đến 2013 đã có sự phát triển cả về quy mô và cơ cấu. Có được kết quả này là do, Trung Quốc đã tập trung phát triển các loại thị trường nông sản quốc gia và thị trường nông thôn gắn với mỗi làng một sản phẩm; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước các cấp trong chỉ đạo, quản lý và đầu tư phát triển thị trường; chú trọng vào xây dựng thương hiệu từng loại nông sản; lấy tín hiệu từ thị trường để định hướng sản xuất và tiêu chuẩn hóa các loại nông sản. Trong bài viết “Recent Development of Agricultural Products Market System in China - Sự phát triển gần đây của hệ thống thị trường sản phẩm nông nghiệp ở Trung Quốc” (2017) [142], tác giả Zhen Zhong, tiếp tục khẳng định kết quả và vai trò phát triển của hệ thống thị trường sản phẩm nông nghiệp ở Trung Quốc những năm gần đây, bổ sung thêm sự cần thiết và các giải pháp kỹ thuật để phát triển thương mại điện tử nông nghiệp. Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài 1.
Các công trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp Trần Thành (2010), “Phát triển nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long và tác động của nó đến củng cố khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) trên địa bàn Quân khu 9 hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị 16 [93]. Luận án tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long với xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) trên địa bàn Quân khu 9. Đặc biệt, luận án đã đưa ra quan niệm về phát triển nông nghiệp ở nước ta hiện nay là quá trình chuyển nền nông nghiệp sản xuất nhỏ lạc hậu sang phát triển toàn diện nền sản xuất tiên tiến hiện đại có cơ cấu hợp lý, gắn với mở rộng thị trường hội nhập tạo ra những tiền đề, điều kiện cho sự phát triển KT - XH, nâng cao chất lượng cuộc sống nông dân và xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa. Đoàn Xuân Thuỷ (2011), “Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, sách tham khảo, Nxb Chính trị Quốc gia [102].