CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chúng tôi điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu theo 2 cụm vấn đề: thứ nhất, nghiên cứu về dạy học theo định hướng PTNL; thứ hai, nghiên cứu về PTNL đọc cho HS lớ 4, 5 qua dạy học Tiếng Việt. Đây là cơ sở để chúng tôi có thể đánh giá những vấn đề nào liên quan đến luận án đã được nghiên cứu và những vấn đề nào luận án sẽ tiếp tục thực hiện nhằm cung cấp thêm cho người đọc, những người quan tâm đến vấn đề nghiên cứu nguồn tài liệu tham khảo hữu ích, mang tính cập nhật.1 NGHIÊN CỨU VỀ DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1.1 Nghiên cứu về năng lực Năng lực là một khái niệm thuộc phạm trù tâm lí bắt nguồn từ tiếng Latinh – competentia. Trong tiếng Anh, năng lực được dùng tương đương với những thuật ngữ như: competence nghĩa là: “có đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ” [99, tr. (2001); hay theo Moon J.
(2004) cho rằng “competency” liên quan đến khả năng vận dụng kiến thức và cả kĩ năng, thái độ, nhằm thực hiện thành công một công việc cụ thể [103, tr. Bàn đến khái niệm năng lực, cũng đã có nhiều nghiên cứu theo những góc nhìn khác nhau. Cụ thể, tác giả Weinert, F. (2001) cho rằng: “Năng lực là tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của một HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động, có sự phê phán và đi đến giải pháp”[102, tr.
Tremblay Denyse (2002), nhà tâm lí học người Pháp, quan niệm rằng: “Năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [11, tr. Nhà tâm lí học người Mĩ, ông Richard E.Snow (1936 – 1997) thì quan niệm năng lực sự đáp ứng ngay những yêu cầu cụ thể được đặt ra. Do đó, theo tác giả, khái niệm năng lực gắn với tâm thế luôn sẵn lòng tham gia học hỏi và thực hiện tốt một nhiệm vụ cụ thể nào đó. Điểm qua các cách hiểu về năng lực, có thể thấy dù có rất nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau.
Tuy nhiên, có thể tìm thấy những điểm chung từ trong các cách hiểu 8 như sau: năng lực là khả năng đáp ứng yêu cầu cụ thể của một nhiệm vụ hay một hoạt động thực tiễn và nó luôn gắn với hoạt động cụ thể. Ở trong nước, khi đề cập về năng lực cũng có những quan niệm đáng chú ý sau: Theo Theo cách hiểu trong Từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn hành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [84, tr. Cùng quan điểm này, Hoàng Hòa Bình (2015) cho rằng “năng lực của cá nhân được hình thành và phát triển thông qua quá trình rèn luyện để đạt được kết quả nhất định” [8, tr. Trong CT GDPT 2018 quan niệm như sau: “Năng lực vốn là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và thông qua quá trình học tập, rèn luyện; cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [5, tr. Trên cơ sở lược khảo những cách hiểu khác nhau về năng lực, có thể rút ra những điểm tương đồng. Đó là năng lực được hình thành thông qua việc cá nhân tham gia giải quyết các vấn đề cụ thể của cuộc sống. Với quan niệm này, nội hàm của năng lực sẽ bao gồm cấu trúc, chức năng, con đường hình thành và phát triển.
Để vận dụng hiệu quả các PPDH theo hướng PTNL cần xác định cụ thể các thành phần và cấu trúc của năng lực. Cấu trúc chung của năng lực được mô tả là sự kết hợp của bốn năng lực thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Vấn đề phân loại năng lực cũng có nhiều quan điểm, tiêu chí khác nhau. Trong đó đáng chú ý là cách phân loại năng lực theo hai nhóm ở CTGDPT 2018: năng lực chung (Generic competency) và năng lực đặc thù (Subject-specific competency).
“Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội, gồm: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”. Còn “năng lực đặc thù gồm: năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thể chất” [5, tr. Năng lực được hình thành và phát triển thông qua việc cá nhân thực hiện giải quyết các tình huống nhất định. Khi cá nhân thực hành các tình huống với sự phức tạp tăng dần, thì năng lực của cá nhân đó cũng dần được phát triển ở mức độ cao hơn.
Chính vì 9 vậy, khi con người thường xuyên một năng lực nào đó, thì độ thành thạo của năng lực được kích hoạt sẽ trở nên mạnh hơn. Chính vì vậy, nếu năng lực đọc của HS được kích hoạt thường xuyên sẽ giúp các em phát triển được ở mức độ cao hơn. Đối với HS cấp TH, năng lực của các em có thể được hình thành, phát triển không chỉ ở trong phạm vi nhà trường qua việc giải quyết những nhiệm vụ mà GV giao ở các hoạt động học tập cụ thể mà năng lực của các em còn được hình thành thông qua việc các em tham gia các hoạt động bên ngoài như: các hoạt động trong phạm vi gia đình, cộng đồng, môi trường văn hóa xã hội… cũng góp phần bổ sung, hoàn thiện và PTNL cá nhân HS. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, năng lực của mỗi cá nhân con người có được nhờ vào sự bẩm sinh, di truyền và rèn luyện (học tập, lao động…) Trong đó, sự cố gắng rèn luyện, sự chăm chỉ học tập, sự kiên trì vượt khó… có thể nói là những yếu tố không thể thiếu trong việc hình thành và PTNL của HS.2 Nghiên cứu về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh Dạy học theo định hướng PTNL được khởi đầu tại Cannada và Thuỵ Điển.
Sau đó mở rộng sang Pháp, Hà Lan những năm 90 của thế kỉ XX và đã trở thành xu hướng giáo dục chung trên thế giới hiện nay. Ở Việt Nam, dạy học theo định hướng PTNL cũng không còn mới vì từ khi có Nghị quyết số 29-NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT, nhiều nghiên cứu về dạy học theo hướng PTNL ở các bậc học đã được chú trọng. Có những nghiên cứu đã đóng góp nhất định trong việc làm sáng rõ thêm các vấn đề về dạy học theo hướng PTNL như: Phát triển chương trình, biên soạn SGK theo hướng PTNL, đổi mới PPDH, xây dựng kế hoạch dạy học theo định hướng PTNL,. Đi theo hướng nghiên cứu này có thể kể đến những nghiên cứu của Đặng Thành Hưng, Đỗ Ngọc Thống, Lương Việt Thái,…và gần đây nhất là Chương trình Ngữ văn 2018.
Trong đó, các nhà giáo dục đặc biệt nhấn mạnh đến việc GV thay đổi quan niệm và PPDH theo hướng PTNL cho người học và Đỗ Ngọc Thống cho đó là “tư tưởng quan trọng trong dạy học ở chương trình mới” [66, tr. Lương Việt Thái (2011) trong đề tài nghiên cứu Phát triển Chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học [62] đã đề cập đến một số nội dung quan trọng như khái niệm về năng lực; vai trò của việc xây dựng chương trình theo hướng PTNL; sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở các quốc gia về vấn đề PTNL cho người hoc; chương trình theo định hướng PTNL người học; những ưu điểm của chương trình theo định hướng năng lực và một số yêu cầu khi thực hiện chương trình theo định 10 hướng PTNL người học. Có thể nói, công trình nghiên cứu của tác giả đã khái quát được cái nhìn tổng thể về diện mạo của chương trình giáo dục mới; định hướng những vấn đề nghiên cứu mới cho người đọc về các vấn đề liên quan đến chương trình giáo dục theo định hướng PTNL. Đặng Thành Hưng (2011) trong chuỗi các nghiên cứu về năng lực, tác giả đã giới thiệu về cơ cấu, dạng thức, kiểu loại của năng lực.
Vấn đề cơ bản của giáo dục theo tiếp cận năng lực được xác định thành khung năng lực (7 lĩnh vực tương ứng với 7 mục tiêu giáo dục cơ bản). Bài viết Năng lực và giáo dục theo tiếp cận năng lực [37], đã bàn về quan niệm năng lực, cơ cấu, dạng thức, kiểu loại và những vấn đề trọng tâm của giáo dục theo tiếp cận năng lực. Khi xác định khung năng lực, bài viết cho rằng có bảy lĩnh vực tương ứng với bảy mục tiêu giáo dục cơ bản. Chuẩn đánh giá kết quả giáo dục và xác định những lĩnh vực cần ưu tiên nghiên cứu hàng đầu về giáo dục như: Ngôn ngữ, Công nghệ, Nghệ thuật và Giáo dục Công dân.
Hoàng Hoà Bình (2015) trong bài viết Năng lực và cấu trúc của năng lực, cho rằng năng lực có các dạng cơ bản: dạng được bộc lộ qua hoạt động cụ thể; dạng hoạt động có hiệu quả. Mỗi năng lực như vậy sẽ ứng với một loại hoạt động. Tác giả cho rằng một khi có cách hiểu đúng về năng lực sẽ là cơ sở để chúng ta đổi mới PPDH; đổi mới cách đánh giá kết quả dạy học để hướng đến mục đích chính là chú trọng chuẩn năng lực đầu ra của HS như chúng ta mong đợi. Qua bài viết, tác giả đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nhận thức đúng về năng lực.
Đây là yêu cầu cần của hoạt động đổi mới dạy học. Một khi GV nhận thức được những năng lực nào cần thiết để phát triển ở người học, khi đó GV sẽ có sự lựa chọn phù hợp về nội dung dạy học; xác định được những cách thức đánh giá người học phù hợp. Có thể nói, yếu tố này chính là điều kiện đủ để hướng đến mục tiêu đổi mới giáo dục theo hướng PTNL của người học; đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục như chúng ta mong mỏi.