Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới theo hướng đô thị hóa 1. Nông thôn và phát triển nông thôn 1. Khái niệm nông thôn Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phân chia toàn bộ lãnh thổ của mình thành hai khu vực lớn là nông thôn và thành thị với những tiêu chí, tiêu chuẩn phân biệt hai khu vực này.
Hiện nay, nhiều quốc gia sử dụng tiêu chuẩn về quy mô, mật độ dân số để phân biệt nông thôn và thành thị, trong đó có Việt Nam. Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị. Tuy nhiên, với các quốc gia khác nhau, với những thời kỳ, thời điểm khác nhau, với những khu vực khác nhau thì quy định về tiêu chuẩn này cũng không giống nhau. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thì khái niệm vùng nông thôn được quy định cụ thể như sau: “Vùng nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn phường thuộc thị xã, quận và thành phố”.
Tuy nhiên, với xu thế đô thị hóa nông thôn thì đặc điểm của nông thôn cũng ngày một thay đổi, khái niệm như trên còn chưa thực sự rõ ràng và ngày càng nhiều người có những quan điểm không đồng nhất về phân biệt giữa nông thôn và đô thị. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đưa ra những quan điểm về tiêu chuẩn phân biệt nông thôn một cách khác nhau. Ngoài quan điểm về sử dụng chỉ tiêu về số lượng và mật độ dân cư thì còn có những quan điểm khác. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị.
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hoá để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hoá và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn. Với những khái niệm chưa thực sự thống nhất về nông thôn cũng đã làm cho các nghiên cứu về vấn đề nông thôn chịu những ảnh hưởng nhất định, ngoài ra cũng gây khó khăn trong việc hoạch định các chính sách sách lược về phát triển nông thôn. 7 Thêm nữa, có những vùng nông thôn giáp ranh đô thị cũng xuất hiện những khu vực nông thôn liền cạnh, tạo nên khu vực nông nghiệp ven đô. Nông nghiệp ven đô nước ta có những đặc thù chung như nhiều nước trên thế giới và đặc thù riêng của Việt Nam.
Đó là nông nghiệp ở khu vực nông thôn cận kề với đô thị, có các hoạt động mang đặc thù của cả nông thôn và đô thị bởi sự liên thông mật thiết 3 thành phần - 3 sắc thái trong hệ thống nông thôn - ven đô - đô thị. Do ĐTH nước ta còn chậm chạp (bình quân 1%/năm), các sắc thái đô thị - nông thôn còn lẫn lộn, mờ nhạt, xen lẫn… nên sự tương tác giữa nông nghiệp với 3 thành phần này ở nước ta có tính đặc thù. Tuy nhiên, chúng đang ngày càng mạnh lên, phức tạp hơn trong quá trình CNH, ĐTH, từ đó hình thành các đặc trưng ngày càng rõ nét của NNVĐ. Từ các vấn đề đó, trong phần này, tác giả sẽ đưa ra khái niệm về nông thôn ở nhiều mặt khác nhau của các nhà nghiên cứu trước đây, sau đó tiến hành phân tích để đưa ra cái nhìn tổng quát hơn về khái niệm nông thôn nhằm sử dụng trong luận án và để các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách tham khảo.
Thứ nhất, định nghĩa về mặt nghề nghiệp, nông thôn là khu vực sinh sống định cư của những người lấy nông nghiệp làm ngành nghề chính. Tuy nhiên, góc độ này vẫn có những điểm còn hạn chế. Một là, nếu lấy hoạt động sản xuất nông nghiệp làm chủ thể của nông thôn thì quyết định bởi số lượng người làm công việc nông nghiệp hay quyết định bởi sự quan trọng của nền sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế của khu vực hay là tỉ lệ diện tích đất sử dụng cho hoạt động nông nghiệp trong tổng diện tích đất của khu vực?. Có thể nói, định nghĩa như vậy sẽ không rõ ràng và cho dù lấy số lượng người làm nông nghiệp, cơ cấu ngành nghề hay tỉ lệ sử dụng đất để quyết định một khu vực có phải là nông thôn hay không thì cũng chưa thực sự chính xác.
Hai là, đối với số lượng người làm nông nghiệp, có thể ở một số khu vực chỉ thuần túy chỉ có ngành nghề sản xuất nông nghiệp thì số lượng người làm nông nghiệp sẽ được xác định một cách rõ ràng, nhưng với sự thay đổi của xã hội, sự phát triển kinh tế thì sẽ có nhiều dân số vừa làm nông nghiệp vừa làm những ngành nghề phi nông nghiệp. Trong đó, có những hộ dân có phần lớn thu nhập lại đến từ những ngành nghề phi nông nghiệp. Do đó, việc xác định tỷ lệ dân số làm nông nghiệp cũng chưa rõ ràng. 8 Thứ hai, định nghĩa về mặt dân cư sinh sống.
(1) Nông thôn chỉ những nơi có số lượng dân cư tương đối nhỏ, sinh sống trên vùng diện tích lớn, cũng có nghĩa là những khu vực rộng lớn có mật độ phân bố nhân khẩu thấp. (2) Nông thôn là khu vực nằm bên ngoài thành thị, cụ thể hơn đó là những khu vực nằm bên ngoài quy hoạch đô thị. (3) Nông thôn là khu vực có sử dụng đất đai một cách đặc thù.Wibberley định nghĩa: “Thuật ngữ "nông thôn" đề cập đến những khu vực của một quốc gia có dấu hiệu rõ ràng về việc sử dụng quá nhiều đất đai trong hiện tại hoặc gần đây”.2 (4) Nông thôn không chỉ là chỉ những khu vực có cư dân ít mà còn chỉ những khu vực tương đối biệt lập với những nơi có đông dân cư. Các định nghĩa trên về nông thôn thông qua tiêu chuẩn dân cư sinh sống chủ yếu dựa vào giả thuyết: Hình thái xã hội có thể được xem như một sản phẩm của sự thích nghi của văn hóa nhân loại đối với các đặc điểm môi trường, và môi trường cũng thay đổi để thích ứng với con người.
Sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn về mật độ dân số, môi trường sống, tỉ lệ sử dụng đất đai hay sự biệt lập … đều có sự ảnh hưởng quan trọng của xã hội, điều này là nhân tố quan trọng trong việc tạo nên sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn. Các định nghĩa về nông thôn thông qua tiêu chuẩn dân cư sinh sống đều đã bỏ qua sự chuyên môn hóa về ngành nghề kinh tế, chỉ đề cập đến các đặc tính chủ yếu như diện tích đất được sử dụng lớn, quy mô dân số nhỏ, mật đố dân số thấp. Nhưng nếu xét về sự ảnh hưởng của thành thị, cách định nghĩa này cũng mang nhiều nội hàm về xã hội học. Mặc dù cách định nghĩa về nông thôn thông qua tiêu chuẩn về dân cư và môi trường sinh sống trên được áp dụng tương đối rộng rãi, tuy nhiên chúng ra có thể thấy rằng, hạn chế lớn nhất của cách định nghĩa trên đó là tính tương đối và không đồng nhất trong tiêu chuẩn phân loại, tiêu chuẩn phân loại của các quốc gia hầu như không giống nhau vì vậy sự so sánh giữa các quốc gia là rất khó khăn.
Thứ ba, định nghĩa nông thôn về mặt văn hóa xã hội. Các nhà xã hội học và nhân loại học dựa trên những đặc điểm văn hóa xã hội để định nghĩa về nông thôn, cũng như xác định sự khác nhau về hành vi và thái độ của cư dân thành thị và nông 2 G. Định nghĩa nông thôn căn cứ theo mặt văn hóa xã hội đã nắm bắt được tính bản chất và cốt lõi của xã hội nông thôn, cũng như sự khác biệt về mặt văn hóa xã hội giữa nông thôn và thành thị. Nhưng cũng tồn tại một số vấn đề: Một là, việc xác định mang tính tuyệt đối hóa, vì vậy các khu vực trung gian, giao thoa sẽ không được xác định là nông thôn hay thành thị.
Hai là, với xã hội ngày nay, việc phân loại một cách tuyệt đối về văn hóa cá nhân giữa người nông thôn và người thành thị. Những người làm nông nghiệp, hay nói cách khác là nông dân từ xã hội phong kiến đến xã hội hiện đại đều có sự chuyển biến nhất định, đến nay còn tồn tại rất ít những khu vực thuần nông thôn, thuần văn hóa nông thôn mà đa phần nông thôn và nông dân hiện nay chuyển biến thành một hình thức mới, nâng cao hơn nhận thức xã hội, nghề nghiệp cũng được phân hóa. Ba là, tiêu chuẩn để phân định nông thôn và thành thị thông qua các tiêu chuẩn văn hóa xã hội là rất khó khăn. Nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay, nông thôn và thành thị cũng đã có nhiều điểm tương đồng về kinh tế, xã hội và ngày càng có nhiều khu vực dân cư mang đặc tính hỗn hợp của cả nông thôn và thành thị.
Sau cùng, qua những phân tích ở trên, có thể thấy việc định nghĩa nông thôn thực sự không dễ dàng, có nhiều vấn đề phức tạp cần được làm rõ ví dụ như sự biến đổi và phát triển tổng thể của nông thôn, các yếu tố cấu thành nông thôn, sự khác nhau giữa nông thôn và thành thị và vấn đề thành thị hóa nông thôn. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội, vấn đề đô thị hóa nông thôn cũng không ngừng được đẩy nhanh. Các đặc trưng mang tính truyền thống của nông thôn cũng không ngừng thay đổi, biểu hiện như nền kinh tế chuyển đổi từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, xã hội có sự phân hóa người lao động (lao động nông nghiệp - lao động phi nông nghiệp - lao động nông nghiệp kiểu mới), các khu vực dân cư cũng biến chuyển từ hình thái nông thôn sang hình thái thị trấn, thành thị hay văn hóa truyền thống của nông thôn cũng chịu ảnh hưởng và biến đổi v. Điều này làm biến đổi mạnh mẽ các khu vực dân cư, xuất hiện các khu vực đô thị hóa nông thôn nằm giữa thành thị và nông thôn.
Đây cũng là minh chứng cho sự phát triển và tiến bộ của văn minh nhân loại. Nhưng với mối quan hệ giữa các khu vực như trên đã nêu thì làm thế nào có một tư duy khái niệm chính xác về nông thôn?