MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Luận án Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương, có vị trí chiến lược về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng đối với khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước. Nghị quyết số 33 NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ Chính trị đã xác định mục tiêu: “Xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ…”. Nghị quyết số 66/2008/NQ-HĐND ngày 03/07/2008 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2011- 2020 theo hướng xây dựng và phát triển Đà Nẵng trở thành trung tâm công nghiệp, trung tâm phân phối của khu vực và cả nước.
Nhìn chung, cả Trung ương và chính quyền thành phố đều xác định xây dựng Đà Nẵng theo hướng là địa hạt của khu vực trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại vào năm 2020. Nằm vị trí nằm ở trung độ đất nước, với vai trò là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và là cửa ngõ phía đông của tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây, Đà Nẵng có vị trí chiến lược về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng đối với khu vực miền Trung – Tây Nguyên và cả nước. Đồng thời, Đà Nẵng có hệ thống giao thông thuận lợi nối liền với các tỉnh, vùng, miền trong cả nước, và là trung tâm kinh tế lớn nhất miền Trung nên Đà Nẵng đã, đang và sẽ là trung tâm công nghiệp và thương mại của khu vực và cả nước. Sự tăng trưởng và phát triển công nghiệp và thương mại của Đà Nẵng có sức mạnh lan tỏa rộng lớn và tác động mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, khu vực và cả nước.
Những năm qua, ngành công thương (bao gồm ngành công nghiệp và thương mại) Đà Nẵng đã đạt được những thành tựu đáng kể, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP của thành phố. Trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới và chuyển mạnh sang xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, công nghiệp và thương mại Đà Nẵng càng có nhiều cơ hội phát triển và đóng góp ngày càng quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Tuy nhiên, sự phát triển của công nghiệp và thương mại thời gian qua thực sự chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của nó, những đóng góp của công nghiệp 2 và thương mại vào GDP của thành phố còn chưa bền vững (tỷ trọng GDP công nghiệp và thương mại hàng hóa so với GDP của TP lần lượt là 31,83% và 9,55% năm 2012), công nghiệp tăng trưởng cao nhưng tỷ lệ sản phẩm công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao còn thấp, tốc độ tăng trưởng thương mại thấp hơn tốc độ tăng trưởng bình quân GDP toàn thành phố (6,90%/năm so với 11,48%/năm giai đoạn 2001-2012). Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng và trình độ công nghệ của ngành nhìn chung vẫn còn lạc hậu, chậm đổi mới; năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành thấp; cấu trúc và phân bố thị trường còn bất hợp lý; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu và chưa đồng bộ; mô hình tăng trưởng công nghiệp và thương mại vẫn chủ yếu theo chiều rộng; liên kết chính sách thương mại và chính sách công nghiệp trong công tác quản lý nhà nước về phối hợp xây dựng và thực thi chính sách còn nhiều bất cập, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, chưa tương xứng với vị trí địa hạt trung tâm của một vùng kinh tế.
Hiện nay, chưa có một nghiên cứu cụ thể nào chỉ ra những điều kiện cần và đủ để Đà Nẵng trở thành trung tâm công nghiệp và thương mại của khu vực. Để góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Đà Nẵng đến năm 2020 trở thành thành phố công nghiệp, trung tâm phân phối của khu vực trong bối cảnh xây dựng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế, cần phải có sự nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và có cơ sở khoa học. Vì vậy, việc nghiên cứu và mở rộng thêm cơ sở lý luận và thực trạng phát triển công nghiệp và thương mại trên địa bàn Đà Nẵng, từ đó đề xuất những giải pháp có tính khoa học và khả thi, thúc đẩy công nghiệp và thương mại thành phố phát triển bền vững, xứng tầm với vị trí trung tâm kinh tế - xã hội của khu vực, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là vấn đề vừa có ý nghĩa cấp thiết, vừa có tầm quan trọng chiến lược lâu dài. Đó chính là lý do nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Phát triển công thƣơng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án 2. Mục đích nghiên cứu Luận án xác lập các cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng các định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp và thương mại (CN&TM) Đà Nẵng trong thời gian tới, nhằm thực hiện mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2020 Đà Nẵng trở thành trung 3 tâm CN&TM của khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa, luận giải và góp phần bổ sung cơ sở lý luận về phát triển CN&TM trên địa bàn tỉnh/thành phố (TP) theo lý thuyết kinh tế học hiện đại, đó là lý thuyết về cực phát triển và lý thuyết lợi thế cạnh tranh. - Phân tích, đánh giá một cách khoa học và khách quan thực trạng phát triển CN&TM trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (TPĐN) trong thời gian qua; chỉ ra các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân để tạo cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng định hướng và giải pháp.
- Đề xuất quan điểm, mục tiêu, định hướng và các giải pháp phát triển CN&TM nhằm góp phần xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm CN&TM của miền Trung thời kỳ đến năm 2020. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận án 3. Đối tƣợng nghiên cứu Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển CN&TM của TPĐN theo hướng tiếp cận phát triển bền vững (mô thức, các chính sách và giải pháp phát triển CN&TM của TP Đà Nẵng). Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Luận án tập trung luận giải cơ sở lý luận phát triển CN&TM của một tỉnh/TP; đánh giá thực trạng phát triển CN&TM hàng hoá của TPĐN và đề xuất các giải pháp có tính đồng bộ nhằm phát triển nhanh và bền vững CN&TM của TPĐN đến năm 2020, phấn đấu trở thành trung tâm CN&TM của khu vực.
Trong đó, nghiên cứu phát triển CN được tập trung vào CN có lợi thế; nghiên cứu TM được tập trung vào TM nội địa và xuất nhập khẩu (XNK). Nghiên cứu liên kết chính sách thương mại (CSTM) và chính sách công nghiệp (CSCN) trong công tác quản lý nhà nước (QLNN) về phối hợp xây dựng và thực thi chính sách. - Về không gian: Nghiên cứu phát triển CN&TM tại Đà Nẵng, nhưng có xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng, tác động qua lại ở phạm vi của cả khu vực miền Trung – Tây Nguyên, Hành lang kinh tế Đông – Tây và cả nước. - Về thời gian: Đánh giá thực trạng phát triển CN&TM trên địa bàn TPĐN giai đoạn 2001 - 2012, đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển đến năm 2020.
4 - Về lĩnh vực nghiên cứu: CN&TM hàng hoá. Phƣơng pháp nghiên cứu của Luận án Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Luận án sử dụng các phương pháp sau để nghiên cứu: - Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để thu thập thông tin về cơ sở lý thuyết, các công trình nghiên cứu trước đây, chính sách pháp luật của Trung ương (TW) và của TPĐN về CN&TM; thực trạng phát triển CN&TM Đà Nẵng; kinh nghiệm phát triển CN&TM của một số tỉnh/TP trong và ngoài nước… để phục vụ cho những yêu cầu và nhiệm vụ của Luận án. - Phương pháp mô hình hóa để phân tích, tổng hợp các mô hình phát triển CN&TM. - Phương pháp thống kê, hệ thống hóa và khái quát hóa được sử dụng trong việc phân tích, đánh giá thực trạng phát triển CN&TM của TPĐN, với vai trò là địa hạt trung tâm của khu vực miền Trung – Tây Nguyên; có so sánh và đối chiếu một số chỉ tiêu về phát triển CN&TM của Đà Nẵng với một số tỉnh/TP khác, với khu vực miền Trung – Tây Nguyên và cả nước.
- Phương pháp điều tra, khảo sát đối tượng nghiên cứu (các doanh nghiệp ngành CN&TM, người tiêu dùng) được sử dụng để phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách phát triển CN&TM của TPĐN. - Phương pháp chuyên gia được sử dụng trong đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, các cơ hội và thách thức, xây dựng các quan điểm, định hướng phát triển CN&TM Đà Nẵng; đề xuất các giải pháp phát triển CN&TM của Đà Nẵng thời kỳ đến năm 2020. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ THƢƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH/THÀNH PHỐ 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Vai trò của hoạt động CN&TM trong sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của các quốc gia đã được khẳng định trong nhiều nghiên cứu (Armand Dayan, H.
Sự phát triển của CN&TM bị chi phối bởi nhiều tác nhân khác nhau: Điều kiện SX, giao thông vận tải, công nghệ quản lý, luật pháp và các qui định của nhà nước, các nhà cung ứng dịch vụ (DV) và đặc biệt là các điều kiện về thị trường (M. Phần lớn các nghiên cứu trong lĩnh vực này chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa nhà sản xuất (SX) và nhà phân phối (Ferrier Didier, 1997); viễn cảnh pháp lý và tác động của nó đối với hoạt động CN&TM (Combe, Karin, 2000); sự biến động các hình thức phân phối (R. Mairicourt, 1999); vai trò của phân phối hiện đại trong sự phát triển kinh tế (Noronha Vaz, 1997). Nhìn chung, các nghiên cứu đi sâu phân tích và kiểm chứng các quan hệ riêng rẽ từng tác nhân đối với sự phát triển CN&TM trên giác độ quốc gia hoặc phạm vi doanh nghiệp (DN).
Lý thuyết “Cực phát triển” được khởi xướng bởi nhà kinh tế học người Pháp Francois Perroux (1950).