Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và hướng nghiên cứu về phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng trưởng kinh tế trong trường hợp ngành điện tử 5 Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá tác động của phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử đến tăng trưởng kinh tế Chương 3: Thực trạng tác động của phát triển công nghiệp hỗ trợ đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam: trường hợp ngành điện tử Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ HƢỚNG NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ TRONG TRƢỜNG HỢP NGÀNH ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan các công trình khoa học đã đƣợc công bố trong và ngoài nƣớc về công nghiệp hỗ trợ và tăng trƣởng kinh tế trong trƣờng hợp ngành điện tử Các nghiên cứu về CNHT và TTKT đang là những chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây. Do ý nghĩa của việc phát triển ngành CNHT đối với thúc đẩy sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm công nghiệp, thúc đẩy TTKT, nghiên cứu về phát triển CNHT gắn với TTKT là vấn đề cần thiết cả về lý luận và thực tiễn. Cùng với đó, các đề tài nghiên cứu về tác động của CN tới tăng trưởng kinh tế cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
Một số vấn đề nghiên cứu thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu là: (i) Các lý thuyết về phát triển CNHT và CNHT ngành điện tử, bao gồm: các định nghĩa về CNHT, các điều kiện để phát triển CNHT, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT, các tiêu chí để đo lường sự phát triển CNHT, chính sách phát triển CNHT; (ii) Vai trò của phát triển CNHT, vai trò của ngành CNĐT đối với phát triển công nghiệp, TTKT; (iii) Đánh giá tác động của phát triển công nghiệp chế biến chế tạo đến TTKT;. Các công trình nghiên cứu trong nước 1. Nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ và phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử Trong thời gian gần đây, ngày càng có nhiều nghiên cứu liên quan đến công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam nói chung và từng ngành cụ thể nói riêng. Tuy 7 nhiên, do mục đích nghiên cứu khác nhau, cũng như thời gian thực hiện khác nhau nên mỗi nghiên cứu lại có những nhận định và hàm ý khác nhau.
Xem xét về khái niệm, phạm vi của CNHT, tại Việt Nam, CNHT đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy theo cách tiếp cận và mục tiêu trong từng công trình nghiên cứu. Nguyễn Thị Xuân Thúy (2005)[31,tr. 39] đề xuất định nghĩa về CNHT ở Việt Nam là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra các linh kiện phụ tùng này) cho ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến. Còn theo Hoàng Văn Châu (2010)[5, tr.
23] CNHT là “Công nghiệp sản xuất ra các linh kiện, phụ tùng, sản phẩm trung gian, … đóng vai trò là đầu vào và lắp ráp chúng để trở thành sản phẩm cuối cùng. Tương tự, Trương Thị Chí Bình (2010)[2, tr. 15] cho rằng CNHT chỉ toàn bộ việc tạo ra những linh phụ kiện tham gia vào việc hình thành các sản phẩm hoàn thiện cho người tiêu dùng. Sản phẩm CNHT chủ yếu bao gồm một số lĩnh vực như kim loại, nhựa và cao su, điện và điện tử.
Trong các nghiên cứu tiếp theo, phạm vi CNHT được mở rộng, theo đó, CNHT được hiểu là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Khái niệm này được sử dụng trong các nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung Huệ (2012)[12], Hà Thị Hương Lan (2014)[15], Phạm Thu Phương (2013)[20], Lê Xuân Sang và Nguyễn Thị Thu Huyền (2011)[22], Nguyễn Ngọc Sơn (2008)[23], Trần Đình Thiên (2012)[25], Đỗ Minh Thụy (2013[30]), … Còn theo Hoàng Văn Việt (2014)[43, tr.12] đưa ra định nghĩa CNHT là “những doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất hàng hóa trung gian làm đầu vào cho các ngành sản xuất, chế biến, lắp ráp hàng hóa cuối cùng”. 8 Nghiên cứu về đặc điểm của ngành CNHT, theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế trung ương (2009)[41, tr.4], ngành CNHT có 4 đặc điểm là: (i) Sự phát triển CNHT là tất yếu của quá trình phân công lao động; (ii) CNHT là ngành phức tạp và rộng lớn; (iii) CNHT góp phần tạo nên “chuỗi giá trị”; (iv) CNHT không phải là ngành công nghiệp phụ. Theo đó, ngành CNHT có đặc điểm là ngành phức tạp và rộng lớn, cả về mặt liên kết ngành hay địa lý do để sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh cần sự tham gia của nhiều DN, nhiều ngành khác nhau; nhờ có CNHT, chuỗi giá trị sẽ được kéo dài và mở rộng ra hầu hết các ngành CN cơ bản và tạo ra giá trị cho nhiều ngành CN khác.
Còn theo Hoàng Văn Châu (2010)[5, tr. 26-31], CNHT có các đặc điểm là tính đa cấp; tính hệ thống liên kết theo quy trình sản xuất, theo khu vực và phụ thuộc vào ngành công nghiệp chính; đa dạng về công nghệ và trình độ công nghệ; thu hút số lượng lớn doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm này bao gồm nghiên cứu của Nguyễn Thị Huế (2012)[11], Nguyễn Thị Dung Huệ (2012)[12] , Hà Thị Hương Lan (2013)[15], Nguyễn Thị Kim Thu (2012)[27],. Nhận dạng đặc trưng của CNHT ngành điện tử, theo Trương Thị Chí Bình (2010) [2, tr.
38-39], sản phẩm CNHT ngành điện tử bao gồm 3 nhóm chi tiết linh kiện chính là kim loại, nhựa, cao su; có thể chia thành 2 loại chính là các linh kiện nhỏ, hao tốn ít nguyên vật liệu, tích hợp công nghệ cao, có thể vận chuyển trên toàn thế giới và Các linh kiện chi tiết máy móc lớn, hao tốn nhiều nguyên vật liệu, công nghệ đơn giản hơn, thường được thực hiện sản xuất hoặc thuê sản xuất tại quốc gia có nhà máy lắp ráp. Về các nhân tố thúc đẩy sự phát triển CNHT, theo Diễn đàn phát triển Việt Nam (2007) [9, tr. 4-27], dung lượng thị trường là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong phát triển CNHT – và yếu tố này có thể được mở rộng thông qua việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu. Các yếu tố khác bao gồm: nguồn nhân lực công nghiệp chất lượng cao; các ưu đãi về thuế; môi trường chính sách; khoảng 9 cách về thông tin và nhận thức; các tiêu chuẩn công nghiệp và tiêu chuẩn an toàn; sự phát triển của công nghiệp sản xuất nguyên liệu thô.
Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2009) [41, tr.5] lại chỉ ra rằng, các yếu tố ảnh hưởng đến CNHT là: thị trường của khu vực hạ nguồn; Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ; Nguồn lực tài chính; Mức độ bảo hộ thực tế; Các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu, ảnh hưởng của các tập đoàn xuyên quốc gia và Chính sách Nhà nước liên quan đến phát triển CNHT. Tương tự, Trần Đình Thiên (2012)[25, tr. 32-51] cho rằng, các yếu tố quyết định sự phát triển của CNHT bao gồm: Khả năng cạnh tranh; Dung lượng thị trường; Nguồn nhân lực công nghiệp; Môi trường chính sách và Khoảng cách giữa thông tin và nhận thức… Tác giả cho rằng, CNHT Việt Nam còn thiếu và yếu là do dung lượng thị trường nhỏ, không đủ đảm bảo cho các doanh nghiệp CNHT phát huy quy tắc “hiệu quả nhờ quy mô”; Môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp chậm được cải thiện, sức cạnh tranh của sản phẩm hỗ trợ còn thấp do năng suất thấp, giá thành cao, chất lượng không ổn định, thời hạn giao hàng không đảm bảo; Thiếu các cơ sở sản xuất vật liệu cơ bản đạt chất lượng; Chưa có chính sách khuyến khích phát triển CNHT một cách thỏa đáng, ổn định… Tuy nhiên, CNHT Việt Nam vẫn có tiềm năng phát triển trong bối cảnh của xu thế phát triển KHCN của thế giới, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhu cầu thị trường của các công ty đa quốc gia và sự gia tăng của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, … Còn theo Trương Thị Chí Bình (2010)[2, tr. 25-36], nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT trước tiên chính là vai trò của chính phủ, từ việc lựa chọn quan điểm phát triển CNHT đến chính sách phát triển công nghiệp, các chính sách này tạo điều kiện hay kìm hãm phát triển CNHT là do quan điểm, định hướng phát triển của chính phủ về vấn đề này.
Nhân tố tiếp theo là sự phát triển của các tập đoàn đa quốc gia (TĐĐQG). Theo tác giả, TĐĐQG đầu tư ở đâu thường kéo theo các công ty con, những nhà sản xuất linh kiện phụ trợ, hay các 10 nhà cung ứng cho chính họ. Như vậy, TĐĐQG không chỉ giúp hiện đại hóa một ngành kinh tế mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho quốc gia đó bên cạnh những đóng góp cho xã hội. Nhân tố thứ ba là năng lực mỗi quốc gia trong phát triển CNHT.
Các năng lực này bao gồm: năng lực nội địa hóa, sự tích tụ công nghiệp và lợi thế cạnh tranh quốc gia và sự phát triển của các cụm liên kết ngành. Nghiên cứu của Lưu Tiến Dũng, Nguyễn Minh Quân (2014)[10] trên cơ sở dữ liệu khảo sát 245 doanh nghiệp sản xuất xe máy, cơ khí, dệt may, điện tử, quy trình sản xuất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cho thấy rằng có năm yếu tố trực tiếp tác động đến sự phát triển của các ngành CNHT bao gồm (1) nguồn nhân lực công nghiệp chất lượng cao, (2) khả năng cạnh tranh (3) chính sách thuế và ưu đãi thuế (4) môi trường chính sách ổn định và (5) Quy mô của nhu cầu. Về tiêu chí đánh giá mức độ phát triển của CNHT, Hoàng Văn Châu (2010)[5, tr. 42-45], đưa ra bộ tiêu chí đánh giá sự phát triển của CNHT bao gồm 5 tiêu chí: số lượng doanh nghiệp CNHT; quy mô DN CNHT; trình độ công nghệ của DN CNHT; mức độ liên kết giữa DN CNHT với khách hàng và các nhà cung cấp; mức độ đáp ứng của ngành CNHT đối với ngành CN sản xuất sản phẩm chính.
Tương tự, Nguyễn Thị Kim Thu (2012)[27], Hà Thị Hương Lan (2013)[15, tr.