CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Lược khảo và đánh giá nghiên cứu liên quan Nghiên cứu về CNHT xuất hiện sớm ở Nhật Bản vào đầu thập niên 1980, và sau đó nhanh chóng nhận được sự quan tâm rộng rãi của cả giới học thuật và giới hoạch định chính sách, nhất là ở các quốc gia và vùng lãnh thổ công nghiệp hóa mới ở châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Malaixia, Trung Quốc. Đây là các trung tâm sản xuất sản phẩm công nghiệp mà nhiều chi tiết, linh kiện, phụ tùng thường được gia công ở một khu vực hoặc quốc gia khác.
Hiện nay, CNHT được xem là trung tâm của nền công nghiệp của mỗi quốc gia. Theo đó, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm phát triển và hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết cũng như việc xây dựng các chương trình, chính sách phát triển CNHT của các quốc gia. Nhánh nghiên cứu đầu tiên hướng vào lý thuyết và vai trò của CNHT trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. Bộ Công thương Nhật Bản (MITI, 1985) trong ấn phẩm Sách trắng về Công nghiệp và Thương mại đã lần đầu tiên đề cập tới thuật ngữ CNHT khi nói đến các DNNVV sản xuất các loại trang thiết bị, linh phụ kiện có đóng góp quan trọng vào sự phát triển công nghiệp ở các quốc gia châu Á trong trung và dài hạn.
Trước ảnh hưởng tiêu cực của việc đồng Yên lên giá mạnh so với USD sau Thỏa ước Plaza (tháng 9 năm 1985), nhiều doanh nghiệp sản xuất phục vụ xuất khẩu của Nhật Bản đã thực hiện chuyển một số công đoạn sản xuất sang các quốc gia có nguồn lao động giá rẻ nhưng một vấn đề lớn xuất hiện, đó là các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư sản xuất ở nước ngoài vẫn phải nhập khẩu các loại linh kiện, phụ tùng cần thiết (chủ yếu do các DNNVV sản xuất) từ Nhật Bản. Nhu cầu về các loại linh phụ kiện phục vụ sản xuất sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh của các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và sự thiếu hụt các cơ sở sản xuất linh kiện, phụ tùng ở các nước mà doanh nghiệp Nhật Bản lựa chọn đầu tư thực chất đã chỉ ra vai trò quan trọng của CNHT đối với cả các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư ở nước ngoài và cả các quốc gia tiếp nhận đầu tư. Thực tế, trong báo cáo của MITI, vai trò quan trọng của CNHT trong quá trình CNH, HĐH cũng như phát triển khu vực DNNVV ở các quốc gia ASEAN, đặc biệt là các nước ASEAN-4 7 đã được ghi nhận. Cục xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) sau này khi phân tích về các nhà cung ứng sản phẩm CNHT và tình hình thuê ngoài của các doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản ở các nước châu Á (ASEAN và Ấn Độ) trong một báo cáo về các Nhà sản xuất Nhật Bản tại châu Á (2003) từ đó chỉ ra những thuận lợi và khó khăn cũng như những cơ hội và thách thức của các nhà sản xuất Nhật Bản tại các nước châu Á đã tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của CNHT.
Báo cáo khảo sát hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp của Nhật Bản ở nước ngoài của Ngân hàng hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC, 2004) tiếp tục làm rõ vai trò quan trọng của CNHT được hình thành nhờ sự hỗ trợ của các doanh nghiệp sản xuất trang thiết bị linh phụ kiện từ Nhật Bản ở các nước Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia. Nói chung, sự hình thành và phát triển CNHT ở một số nước châu Á đã góp phần hoàn chỉnh quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp và cũng qua đó góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước này. Porter (1990) trong công trình về lợi thế cạnh tranh quốc gia với “mô hình kim cương” cũng chỉ rõ vai trò của CNHT. Theo ông, CNHT (các ngành cung cấp trang thiết bị linh phụ kiện) được xem là một trong những yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của một quốc gia.
Vì vậy, để phát triển một ngành công nghiệp ở bất kỳ quốc gia nào đều phải chú trọng phát huy khả năng đổi mới và sáng tạo, chú trọng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và đặc biệt, cần đảm bảo tính liên kết bền vững của các yếu tố của mô hình kim cương. Một số tác giả như Prema-Chandra Athukorala (2002), Do Manh Hong (2008) trong các nghiên cứu của mình đã khẳng định rằng CNHT ngày càng có trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển, đồng thời chỉ rõ tầm quan trọng của phát triển CNHT trong việc thu hút FDI cho mục tiêu phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển. Theo các tác giả này, do sự thiếu hụt các nguồn lực cơ bản cho phát triển, các nước đang phát triển cần tạo điều kiện thu hút FDI và để thu hút, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI thì cần thiết phải xây dựng và phát triển lĩnh vực CNHT. Nhánh nghiên cứu thứ hai tập trung vào phương thức và cơ chế nhằm phát triển CNHT.
Trong một nghiên cứu về các mối liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và CNHT nội địa, Goh Ban Lee (1998) đã ghi nhận tầm quan trọng của các chính sách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cũng như chính sách hỗ trợ của nhà nước nhằm tạo ra các mối quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn chuyên sản xuất các sản phẩm điện tử gia dụng của Nhật Bản trong hoạt động sản xuất các 8 linh phụ kiện phục vụ cho ngành công nghiệp điện tử ở Malaixia. Tác giả cũng cho rằng quan hệ hợp tác và phân công lao động giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp FDI thực sự đóng vai trò trung tâm trong quá trình phát triển các hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp và góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế Malaixia. Thảo luận về phát triển CNHT của Thái Lan và Malaixia sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, Ryuichiro Inoue (1999) đã làm rõ tầm quan trọng của việc điều chỉnh chiến lược phát triển công nghiệp để thích ứng với tình hình thực tế sau khủng hoảng. Ryuichiro Inoue cũng đề xuất một hệ thống các giải pháp về chính sách phát triển công nghiệp, bao gồm: chú trọng phát triển các lĩnh vực CNHT; tăng cường liên kết trong sản xuất công nghiệp; xây dựng các khu, cụm công nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất công nghiệp và nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống CNHT hoàn chỉnh cho các ngành công nghiệp.
Khi nghiên cứu trường hợp ngành công nghiệp điện và điện tử của Malaixia, Halim Mohd Noor, Roger Clarke và Nigel Driffield (2002) chỉ rõ vai trò chính phủ đối với sự phát triển của CNHT cho ngành điện và điện tử của Malaixia, thể hiện ở khía cạnh hỗ trợ đổi mới và kích thích sự sáng tạo của các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng các sản phẩm CNHT. Khi phân tích về mối quan hệ giữa các DNNVV và sự phát triển CNHT tại Nhật Bản và Thái Lan, Ratana Eiamkanitchat (1999) cho rằng để phát triển CNHT thì một trong những giải pháp cần thiết và hoàn toàn khả thi là tạo điều kiện phát triển các DNNVV. Trong một công bố về đẩy mạnh CNHT từ kinh nghiệm của châu Á, Tổ chức Năng suất châu Á (Asia Productivity Organiazation, 2002) đã đúc kết kinh nghiệm phát triển CNHT của các quốc gia châu Á, và phân tích sâu chính sách phát triển CNHT của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan qua các thời kỳ. Công trình này đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách thu hút FDI để phát triển CNHT ở các quốc gia châu Á, đồng thời thì các quy định về tỷ lệ nội địa hoá cũng như các chính sách hỗ trợ từ phía chính phủ nhằm thúc đẩy liên kết các doanh nghiệp cũng được coi là những điều kiện tiên quyết để phát triển CNHT.
Dennis McNamara (2004) trong công trình nghiên cứu của mình đã phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển CNHT của các quốc gia APEC. Tác giả cho rằng các thành viên APEC cần đẩy mạnh hợp tác liên kết giữa các quốc gia trong khu vực, thúc đẩy mạng lưới các DNNVV hoạt động hiệu quả hơn dưới sự hỗ trợ của các doanh nghiệp FDI. Nhánh nghiên cứu thứ ba tập trung vào đánh giá thực trạng phát triển CNHT cũng như mối liên hệ giữa phát triển CNHT với phát triển kinh tế. 9 Khi nghiên cứu về trường hợp Thái Lan, Peter Larkin (2011) kết luận rằng CNHT Thái Lan có sự phát triển toàn diện.
Các nhu cầu về trang thiết bị, linh kiện, phụ tùng cho các hoạt động sản xuất, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh đã được đáp ứng bởi các nhà cung cấp ngay tại Thái Lan. Điều này đã góp phần vào việc nâng cao hiệu quả của các ngành sản xuất, góp phần vào sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Thái Lan. Đồng thời, sự phát triển của CNHT đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc thu hút FDI của Thái Lan so với các nước khác trong khu vực như Inđônêxia, Malaixia và Việt Nam. Đó cũng là một trong những lý do Thái Lan đã trở thành là một trong những quốc gia có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế, nhất là các nhà đầu tư Nhật Bản.
Trong một báo cáo điều tra, Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF và JICA, 2011) đã phân tích và so sánh phát triển CNHT ở Thái Lan, Malaixia và Việt Nam. Các tác giả đã phân tích trường hợp Malaixia và Thái Lan và cho thấy đây là hai quốc gia điển hình trong khu vực đã phát triển thành công CNHT của họ. Các tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của chính phủ Malaixia và Thái Lan trong xây dựng chiến lược, chính sách và các chương trình phát triển CNHT từ thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Trong khi đó, CNHT của Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển với rất nhiều bất cập về khung chính sách.
Một số nghiên cứu khác, như Thomas Brandt (2012) cung cấp một bức tranh tương đối toàn diện về CNHT cơ khí tại Malaixia trong 3 thập kỷ qua. Tác giả phân tích thực trạng CNHT cơ khí của Malaixia dựa trên các tiêu chí về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các sản phẩm CNHT trong lĩnh vực cơ khí. Tác giả cũng khẳng định vai trò quan trọng của CNHT cơ khí đối với sự phát triển các ngành công nghiệp nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế Malaixia nói chung.