CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các lý thuyết chung về cạnh tranh và cạnh tranh của doanh nghiệp Cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng đã được nghiên cứu từ rất lâu, tuy nhiên năng lực cạnh tranh và nghiên cứu về năng lực cạnh tranh một cách có hệ thống chỉ mới bắt đầu bùng nổ vào những năm 1980.1 Cạnh tranh theo quan điểm trường phái cổ điển Thuật ngữ “Cạnh tranh” ngày càng được sử dụng phổ biến trên các diễn đàn kinh tế cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng trong các đề tài nghiên cứu khoa học, thì nội dung khoa học của cạnh tranh vẫn chưa được thống nhất một cách tuyệt đối trong cách hiểu và vận dụng của các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn. Chính vì thế, cạnh tranh luôn là chủ đề nghiên cứu thu hút được sự quan tâm lớn của nhiều thế hệ các nhà khoa học từ thế kỷ 17 đến nay. Các nhà kinh tế ở thế kỷ thứ 17,18 đã tiến hành nghiên cứu cạnh tranh trên nền tảng của thế giới quan tư sản mà điển hình đó là Adam Smith và David Ricardo. Phát triển các nghiên cứu của Adam Smith, David Ricardo đã đưa ra lý thuyết về lợi thế so và sánh để lý giải nguồn gốc thương mại giữa những người sản xuất có lợi thế tuyệt đối cao và thấp (Trần Bình Trọng, 2013,tr.
Theo ông mỗi một nước đều có cơ cấu ngành sản xuất với những mức chi phí rẻ và đắt khác nhau. Chỉ cần các nước tiến hành sản xuất những loại hàng hóa có mức chi phí rẻ tương đối so với những loại hàng hóa khác và tiến hành trao đổi ngang giá, bình đẳng (cạnh tranh tự do) với nhau thì tất cả các nước đều có nhiều của cải hơn. Tư tưởng về lợi thế so sánh của David Ricardo đã tạo cơ sở để hiểu sâu sắc hơn tác động của trao đổi hàng hóa theo nguyên tắc thị trường, cạnh tranh, đến tăng trưởng của cải quốc gia. Karl Marx đã phát triển lý luận cạnh tranh ở tầm cao hơn, gồm cạnh tranh để chiếm đoạt giá trị thặng dư, cạnh tranh thông qua cải tiến chất lượng và cạnh tranh nguồn lực giữa các ngành.
Ba mặt đó diễn ra xoay quanh việc trao đổi ngang giá hàng hóa. Trên cơ sở ủng hộ thuyết giá trị - lao động của Adam Smith, Karl Marx đã chỉ ra cơ chế chuyển hóa giá trị hàng hóa thành giá trị thị trường, giá cả sản xuất thông qua cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành (Trần Bình Trọng, 2013,tr.2 Cạnh tranh theo quan điểm trường phái Tân cổ điển Sự khác biệt giữa hai trường phái cổ điển và tân cổ điển trong những nghiên cứu về cạnh tranh là cơ sở và trạng thái của cạnh tranh. Trường phái cổ điển nghiên cứu dựa trên lý luận về giá trị lao động ở dạng tĩnh, trường phái tân cổ điển nghiên cứu ở trạng thái động dựa trên tiêu chuẩn hiệu quả (tối đa hóa đầu ra trên cơ sở đầu vào khan hiếm). Các nhà kinh tế theo trường phái tân cổ điển rất đông đảo, từ những người khởi đầu như W.Walras (1834-1910) đến các nhà kinh tế đương đại.
Lý luận chính của trường phái này là cạnh tranh hoàn hảo mang tới hiệu quả và cạnh tranh theo tổ chức ngành.3 Cạnh tranh theo quan điểm trường phái kinh tế học Áo Trường phái Áo ra đời vào những năm 80 của thế kỷ XIX ở Áo với đại diện nổi bật là J. Họ cho rằng cạnh tranh hoàn hảo không phù hợp với xã hội hiện thực. Mặc dù không phủ nhận cân bằng thị trường, nhưng họ cho rằng đó là cân bằng động hướng tới thông tin mới và phát minh mới làm thay đổi thị hiếu và dư thừa tài nguyên. Do đó, yếu tố cạnh tranh luôn xuất hiện trên thị trường và đó là cơ hội của doanh nghiệp.
Trường phái Áo ủng hộ độc quyền ở phương diện khuyến khích sáng tạo, đổi mới và bảo hộ sáng chế, phát minh. Một điều quan trọng nữa là cạnh tranh trong kinh tế học Áo nhấn mạnh vai trò của tri thức và học hỏi trong thị trường cạnh tranh động (dynamac competitive markets). Tri thức liên tục thay đổi sẽ dẫn đến thị trường thay đổi, và sự thay đổi này tạo ra bất cân bằng thị trường (disequilibrium). Điều này đem lại cơ hội mới về lợi nhuận cho công ty.
Với cách nhìn thị trường ở dạng động, tuy rằng đơn vị phân tích của kinh tế học Áo là ngành và nền kinh tế (Trần Bình Trọng, 2013, tr., trường phái cạnh tranh này là cơ sở cho lý thuyết về năng lực động của công ty.4 Cạnh tranh theo quan điểm của Karl Marx Theo quan điểm của Karl Marx, cạnh tranh được phân tích trên 3 khía cạnh: cạnh tranh về giá trị thặng dư, cạnh tranh chất lượng, cạnh tranh giữa các ngành và đều diễn ra xoay quanh giá trị và chỉ có lao động trừu tượng mới tạo ra giá trị mới. Marx chỉ ra cơ cấu chuyển hóa giá trị thặng dư thành lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hóa thành giá cả sản xuất trong điều kiện tự do cạnh tranh. Marx đã định nghĩa “cạnh tranh có nghĩa là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế lợi ích, mục tiêu xác định” (Nguyễn Hữu Thắng , 2008, tr. Trong lĩnh vực kinh tế cạnh tranh thể hiện đó là sự “đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng hơn, luan an 9 thu hút được nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá thấp hoặc cung cấp một chất lượng hàng hóa cao hơn” (Đinh Thị Nga 2010, tr.
Kết quả của cạnh tranh là thanh lọc, loại bỏ những doanh nghiệp kinh doanh kém phát triển. Đó cũng là quy luật tất yếu của phát triển kinh tế.5 Cạnh tranh theo lý thuyết tổ chức công nghiệp (IO) Theo lý thuyết tổ chức công nghệp gọi tắt là IO (Industrial Organization), được tổng quát hóa thông qua mối quan hệ giữa cơ cấu ngành (Structure of industry), vận hành hay chiến lược (Conduct/strategy) của công ty và kết quả kinh doanh (Performance) của ngành, còn gọi là mô hình SCP (Structure Conduct Performance) hay mô hình Bain – Masson. Điểm then chốt của mô hình IO là kết quả kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào cơ cấu của ngành mà các công ty đang cạnh tranh với nhau. Cơ cấu của ngành quyết định hành vi (chiến lược kinh doanh) của công ty và điều này sẽ dẫn đến kết quả kinh doanh ngành.
Mô hình SPC được củng cố bởi lý thuyết cạnh tranh nhóm (oligopoly theory) – rất hữu ích trong việc hình thành chiến lược và đánh giá bản chất của cạnh tranh trong ngành. Mô hình này cũng giúp phân tích kết quả kinh doanh của ngành và nhận dạng tiềm năng của từng ngành kinh doanh. Đơn vị phân tích trong lý thuyết IO nguyên thủy là ngành, vì vậy nó không có hữu ích nhiều khi phân tích và so sánh kết quả kinh doanh của các công ty khác nhau trong cùng một ngành. Những phát triển tiếp theo của IO đã chuyển đơn vị phân tích vừa là công ty, vừa là ngành.
Porter là một trong những người tiên phong trong ứng dụng lý thuyết IO trong xây dựng chiến lược, đặc biệt là mô hình năm lực cạnh tranh, trong đó cơ cấu ngành là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh. Mô hình này được sử dụng rộng rãi trong phân tích cạnh tranh của ngành.6 Cạnh tranh theo kinh tế học Chamberlin Cạnh tranh theo kinh tế học Chamberlin còn gọi là cạnh tranh độc quyền (monopolistic competition), tập trung vào sự khác biệt (diferentiation) của sản phẩm và dịch vụ. Mô hình cạnh tranh trong IO và mô hình cạnh tranh độc quyền trong kinh doanh của Chamberlin đều chú trọng vào việc giải thích chiến lược (C) của công ty và kết quả kinh doanh (P) trong cạnh tranh. Tuy nhiên, như đã giới thiệu, mô hình IO bắt đầu bằng việc tập trung vào cơ cấu (S) của ngành và tiếp theo là hành vi/chiến lược (C) và kết quả (P).
Kinh tế học Chamberlin bắt đầu thông qua việc tập trung vào năng lực đặc biệt của công ty và tiếp theo là theo dõi tác động của sự khác biệt này vào chiến lược và kết quả kinh doanh mà công ty theo đuổi. Cạnh tranh trong ngành dựa vào sự khác biệt của công ty và đây chính là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của luan an 10 công ty. Hơn nữa, chiến lược của công ty làm thay đổi cơ cấu ngành. (Đinh Thị Nga 2010, tr.23) Trong mô hình cạnh tranh của Chamberlin, công ty vẫn tập trung vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc xác định doanh thu biên bằng với chi phí biên như trong mô hình cạnh tranh hoàn hảo.
Tuy nhiên, nếu thành công trong khác biệt sẽ mạng lại lợi nhuận vượt mức. Vì vậy, chiến lược của công ty đóng vai trò quan trọng thông qua việc tận dụng hiệu quả nguồn lực khác biệt của công ty. Mô hình cạnh tranh trong kinh tế học IO và Chamberlin không đối kháng nhau mà chúng bổ sung lẫn nhau. Cơ cấu ngành ảnh hưởng lớn tới chiến lược tận dụng lợi thế khác biệt của công ty trong việc xác định chiến lược cạnh tranh.
Kinh tế học IO cũng thừa nhận lợi thế khác biệt quyết định rất lớn đến chiến lược kinh doanh mà công ty theo đuổi. Và lợi thế khác biệt này của công ty chính là cơ sở cho lý thuyết nguồn lực của công ty 1.7 Cạnh tranh theo quan điểm của Michael E.Porter 1) Lý luận về lợi thế cạnh tranh Micheal E. Năm 1985, lý luận “lợi thế cạnh tranh” của Michael E.Porter giải thích hiện tượng thương mại quốc tế dưới góc độ cạnh tranh và vai trò nổi bật của doanh nghiệp. Theo ông, của cải nhiều hay ít là do năng suất quyết định.
Năng suất phụ thuộc vào môi trường cạnh tranh (mô hình kim cương) và được xác định bởi 4 yếu tố chính: Điều kiện về các yếu tố sản xuất; điều kiện về nhu cầu; chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh trong nước của công ty; các ngành công nghiệp có liên quan và các ngành phụ trợ. 2) Lý luận về canh tranh ngành Micheal E.Porter, khái niệm về tập hợp ngành là rất quan trọng. Khi phân tích cạnh tranh ngành Michael E.Porter xem xét 5 yếu tố quan trọng là nhà cung cấp, người mua, sản phẩm thay thế, những đối thủ mới tiềm năng và cạnh tranh giữa các đối thủ mới trong ngành. 3) Vai trò của chính phủ trong nâng cao vai trò cạnh tranh quốc gia, ngành và toàn cầu hóa.