Luận án TS: Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại Việt Nam

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại việt nam chuyên ngành kinh tế phát triển, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

246
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu

1.2. Các nghiên cứu về nước ngoài

1.3. Các nghiên cứu về Việt Nam

1.4. Kết luận từ tổng quan nghiên cứu và xác định “khoảng trống” nghiên cứu

1.5. Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa THNS và THTM

1.6. Cơ sở lý thuyết về ngân sách và thâm hụt ngân sách

1.7. Cơ sở lý thuyết về thâm hụt thương mại

1.8. Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại

1.9. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Khái quát về phương pháp nghiên cứu

2.2. Phương pháp phân tích định tính

2.3. Phương pháp định lượng

2.4. Khung phân tích của Luận án

2.5. Mô hình nghiên cứu của Luận án

2.6. Cơ sở lựa chọn mô hình nghiên cứu

2.7. Nguồn số liệu

2.8. Biến nghiên cứu và thang đo

2.9. Các biến số và thang đo

2.10. Mô hình thực nghiệm

2.11. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2017

3.1. Bối cảnh kinh tế vĩ mô của thế giới và Việt Nam giai đoạn 2005-2017

3.2. Bối cảnh thế giới và Việt Nam giai đoạn 2001-2010

3.3. Bối cảnh thế giới và Việt Nam giai đoạn 2011-2020

3.4. Diễn biến cán cân thương mại hàng hóa và cán cân ngân sách Việt Nam giai đoạn 2005-2017

3.5. Diễn biến của cán cân thương mại hàng hóa

3.6. Diễn biến thâm hụt ngân sách

3.7. Diễn biến của các biến vĩ mô có liên quan

3.8. Một số đánh giá về phản ứng chính sách thương mại và tài khóa trong giai đoạn 2005-2017

3.8.1. Về thương mại

3.8.2. Về chính sách tài khóa và cải cách quản lý tài chính công

3.8.3. Về sự phối hợp giữa các chính sách tài khóa, thương mại và những chính sách vĩ mô khác có liên quan

3.9. Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại của Việt Nam giai đoạn 2005-2017

3.9.1. Phân tích định tính về các mối quan hệ

3.9.2. Phân tích định lượng về các mối quan hệ

3.10. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KIỂM SOÁT THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI GIAI ĐOẠN 2018-2030

4.1. Tổng hợp nhận định về tình hình kinh tế vĩ mô của thế giới và Việt Nam giai đoạn 2018-2030

4.1.1. Tổng hợp nhận định về tình hình kinh tế vĩ mô của thế giới

4.1.2. Tổng hợp nhận định về những thuận lợi và khó khăn đối với Việt Nam

4.2. Các mục tiêu chính sách kinh tế cơ bản của Chính phủ

4.3. Một số kịch bản cho giải pháp về kiểm soát thâm hụt ngân sách và thương mại trong giai đoạn 2018-2030 của Việt Nam

4.4. Một số đề xuất nhằm quản lý thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2030

4.4.1. Nhóm giải pháp trong ngắn và trung hạn

4.4.2. Nhóm giải pháp dài hạn

4.5. TÓM TẮT CHƯƠNG 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại

Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách (THNS) và thâm hụt thương mại (THTM) là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu kinh tế phát triển tại Việt Nam. THNS được hiểu là tình trạng khi tổng chi tiêu của chính phủ vượt quá tổng thu từ thuế trong một khoảng thời gian nhất định. Ngược lại, THTM xảy ra khi giá trị hàng hóa nhập khẩu lớn hơn giá trị hàng hóa xuất khẩu. Sự tương tác giữa hai loại thâm hụt này có thể ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế và phát triển bền vững của quốc gia.

1.1. Định nghĩa và vai trò của thâm hụt ngân sách

THNS là một chỉ số quan trọng phản ánh tình hình tài chính của chính phủ. Khi THNS gia tăng, nó có thể dẫn đến việc chính phủ phải vay nợ, từ đó ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu cho các dự án phát triển kinh tế. Theo Mishkin (1998), THNS có thể thúc đẩy tăng trưởng nếu được sử dụng hiệu quả.

1.2. Định nghĩa và vai trò của thâm hụt thương mại

THTM là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá sức cạnh tranh của nền kinh tế. Hall và Lieberman (2008) cho rằng THTM có thể phản ánh sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng đến cán cân thanh toán và an ninh tài chính quốc gia.

II. Vấn đề và thách thức trong mối quan hệ giữa THNS và THTM

Mối quan hệ giữa THNS và THTM tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự gia tăng THNS có thể dẫn đến áp lực lên THTM, trong khi THTM cao cũng có thể làm gia tăng THNS. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn khó khăn cho các nhà hoạch định chính sách. Việc hiểu rõ mối quan hệ này là cần thiết để đưa ra các giải pháp hiệu quả.

2.1. Tác động của thâm hụt ngân sách đến thâm hụt thương mại

Nghiên cứu của Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài (2011) cho thấy THNS có thể làm gia tăng THTM thông qua việc chính phủ phải vay nợ nước ngoài, từ đó làm tăng áp lực lên tỷ giá và giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.

2.2. Tác động của thâm hụt thương mại đến thâm hụt ngân sách

Ngược lại, THTM có thể dẫn đến THNS khi chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn để hỗ trợ các ngành sản xuất trong nước. Trịnh Thị Trinh và cộng sự (2013) đã chỉ ra rằng THTM có thể làm gia tăng gánh nặng nợ công, từ đó ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu của chính phủ.

III. Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa THNS và THTM

Luận án sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng để phân tích mối quan hệ giữa THNS và THTM. Phương pháp định tính giúp tổng hợp các nghiên cứu trước đó, trong khi phương pháp định lượng sử dụng các mô hình kinh tế để kiểm định các giả thuyết. Điều này giúp cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về mối quan hệ phức tạp này.

3.1. Phương pháp định tính trong nghiên cứu

Phương pháp định tính được sử dụng để tổng hợp các tài liệu và nghiên cứu trước đó về THNS và THTM. Điều này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng và khoảng trống trong nghiên cứu hiện tại.

3.2. Phương pháp định lượng trong nghiên cứu

Phương pháp định lượng sử dụng các mô hình hồi quy để phân tích dữ liệu và kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ giữa THNS và THTM. Mô hình này giúp xác định mức độ tác động của từng yếu tố đến hai loại thâm hụt.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa THNS và THTM tại Việt Nam là phức tạp và có sự tương tác qua lại. Việc hiểu rõ mối quan hệ này có thể giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn trong việc kiểm soát hai loại thâm hụt này. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cần có sự phối hợp giữa các chính sách tài khóa và thương mại để đảm bảo sự phát triển bền vững.

4.1. Kết quả chính từ nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng THNS có tác động tiêu cực đến THTM trong dài hạn, trong khi THTM không có tác động đáng kể đến THNS trong ngắn hạn. Điều này cho thấy cần có các biện pháp kiểm soát THNS để giảm thiểu tác động đến THTM.

4.2. Ứng dụng chính sách từ kết quả nghiên cứu

Các nhà hoạch định chính sách cần xem xét các biện pháp tài khóa linh hoạt hơn để kiểm soát THNS, từ đó giảm áp lực lên THTM. Việc cải cách chính sách tài khóa và thương mại là cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho nền kinh tế.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về THNS và THTM

Mối quan hệ giữa THNS và THTM là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu kinh tế phát triển tại Việt Nam. Việc hiểu rõ mối quan hệ này không chỉ giúp cải thiện tình hình tài chính của chính phủ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Tương lai của nghiên cứu này cần tiếp tục được mở rộng để tìm ra các giải pháp hiệu quả hơn.

5.1. Tóm tắt các phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng THNS và THTM có mối quan hệ phức tạp và cần được xem xét một cách toàn diện. Các yếu tố vĩ mô như tỷ giá, lãi suất cũng cần được đưa vào phân tích để có cái nhìn đầy đủ hơn.

5.2. Đề xuất cho nghiên cứu tương lai

Cần có các nghiên cứu sâu hơn về tác động của các chính sách tài khóa và thương mại đến THNS và THTM. Việc áp dụng các mô hình kinh tế hiện đại có thể giúp cải thiện độ chính xác của các dự báo và phân tích.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Luận án tiến sĩ mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại việt nam chuyên ngành kinh tế phát triển

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu Từ những năm 1980, sự tồn tại song hành của THNS và THTM tại Mỹ đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của các chuyên gia kinh tế để rồi sau đó xuất hiện trào lưu nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới. Các nhà kinh tế học gọi đây là hiện tượng “thâm hụt kép”1. Khi nghiên cứu về mối quan hệ này, do đặc thù cán cân vãng lai được quyết định chủ yếu bởi tình trạng cán cân thương mại nên trong những trường hợp không sẵn có về số liệu, nhà nghiên cứu thường thay thế THTM bằng THVL.

Kết quả nghiên cứu trên thế giới được phân theo 4 quan điểm: 1- THNS là nguyên nhân gây nên THTM (còn gọi là quan điểm Keynes); 2- THTM là nguyên nhân của THNS; 3- THNS và THTM có tác động qua lại lẫn nhau ; 4- THNS và THTM tồn tại song song nhưng độc lập với nhau (thuyết cân bằng Ricardo). Các nghiên cứu về nước ngoài 1. Quan điểm cổ điển (quan điểm Keynes): THNS là nguyên nhân gây nên THTM Những nghiên cứu phát hiện ra mối quan hệ này chủ yếu được thực hiện với các nước đang phát triển. Từ nửa sau thế kỷ 20, những nghiên cứu tiêu biểu như của Milne (1977), Bernhem (1987), Zietz và Pemberton (1990) sử dụng phương pháp OLS và kỹ thuật mô phỏng đã ghi nhận mối quan hệ đồng biến giữa THNS và THVL.

Từ sau năm 2000, vấn đề này vẫn thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhưng được thực hiện chủ yếu với phương pháp tiên tiến hơn như mô hình VAR (VECM) hay là sự kết hợp giữa VAR và một mô hình khác. Kouassi và cộng sự (2004), Abbas và cộng sự (2011), sử dụng mô hình VAR với hai biến là THNS và THTM (số liệu tính theo nửa năm) đã khẳng định THNS là nguyên nhân gây nên THTM ở nhiều quốc gia đang phát triển, thu nhập thấp hoặc mới nổi trong giai đoạn cuối những năm 60 và đầu những năm 90 của thế kỷ 20. Tương tự, Asrafuzzaman và cộng sự (2013) khi nghiên cứu cho Bangladesh giai đoạn 1972-2011 cũng chỉ ra mối quan hệ dương và có ý nghĩa thống kê giữa THNS và THTM cả trong ngắn hạn và dài hạn. Suliková và cộng sự (2014), sử dụng số liệu theo quý, mô hình VECM gồm 3 biến THNS, THVL và đầu tư, kết hợp với kiểm định quan hệ nhân quả và phân tích phân rã phương sai, cũng khẳng định ở Latvia 1 Như vậy, khái niệm “thâm hụt kép” đã được sử dụng phổ biến trên thế giới với hàm ý nghiên cứu về sự tồn tại của mối quan hệ qua lại giữa cán cân ngân sách và cán cân thương mại.

Nó không nhất thiết hàm ý rằng mối quan hệ này chỉ được xem xét khi hai cán cân đều diễn ra tình trạng thâm hụt theo nghĩa hẹp. Luận án sử dụng thuật ngữ “thâm hụt” theo quan niệm này. 9 và Estonia trong giai đoạn từ 1999Q1 đến 2011Q2, THTM là hệ quả của THNS. Với khoảng thời gian nghiên cứu tương tự, cũng sử dụng VECM song với số lượng biến nhiều hơn khi bổ sung thêm các biến GDP, lãi suất cho vay và lạm phát, Lwanga và Mawejje (2014) nghiên cứu cho Uganda giai đoạn 1999 - 2011 cũng khẳng định có tồn tại thâm hụt kép tại quốc gia này.

Một số nghiên cứu không chỉ sử dụng VAR mà còn kết hợp giữa VAR và những mô hình khác như Ye (2007) kết hợp sử dụng mô hình VAR - GARCH với mô hình phân tích cấu trúc khi nghiên cứu cho nước Mỹ giai đoạn 1948 - 2005 hay Arize và Malindretos (2008) kết hợp giữa mô hình ARFIMA và VECM nghiên cứu cho 10 nước Châu Phi năm 1973Q2 đến 2005Q4. Cả hai nghiên cứu này cùng có chung nhận định là trong dài hạn, giảm THNS chính là chìa khóa để giải quyết tình trạng thâm hụt kép tại Mỹ và Châu Phi. Kết luận tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Adnan và Asghar (2010) cho Pakistan từ năm 1971 đến 2007 với mô hình phân phối trễ tương quan (ARDL) kết hợp với bình phương nhỏ nhất động (DOLS). Ngoài những nghiên cứu cho thấy thâm hụt kép tồn tại với quan hệ đồng biến trong ngắn hạn hoặc dài hạn (tức là tăng (giảm) mức độ THNS sẽ làm tăng (giảm) THTM), cũng có nghiên cứu phát hiện ra mối quan hệ này là nghịch biến.

Đó là trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ với số liệu thống kê theo quý từ năm 2001 đến năm 2012 được thực hiện bởi Seyfettin và Çagri (2014). Bằng phương pháp đồng tích hợp và kiểm định Peseran, nhóm tác giả đã khẳng định nếu giảm THNS sẽ khiến THTM trầm trọng thêm trong ngắn hạn. Như vậy, các nhà nghiên cứu đã tạo nên một bức tranh khá đa dạng và phong phú về mối quan hệ giữa hai loại thâm hụt (đồng biến, nghịch biến) nhưng các nghiên cứu trên đây đều có chung một điểm yếu là chưa chỉ ra được cơ chế truyền dẫn tác động của THNS đến THTM là gì và mô hình sử dụng đều là mô hình đối xứng. Bên cạnh những nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở mức độ công bố về chiều tác động và loại quan hệ như vậy thì cũng có nhiều nghiên cứu về chủ đề này đã đạt được mức cụ thể hơn, giải thích được cơ chế tác động giữa hai loại thâm hụt, tuy nhiên cơ sở phân tích vẫn là đối xứng.

Tiêu biểu là công trình của Lau và Hock-Ann (2002) nghiên cứu cho Malaysia giai đoạn 1976-2000 hay Baharumshah và Lau (2007) nghiên cứu đối với Thái Lan giai đoạn 1976 - 2001. Hai công trình này áp dụng mô hình tương tự nhau (VECM cho Malaysia và VAR cho Thái Lan) với các biến nghiên cứu hoàn toàn giống nhau bao gồm THVL, THNS, tỷ giá danh nghĩa, lãi suất ngắn hạn với bộ số liệu thống kê theo quý. Điểm chung của các nghiên cứu này là đều phát hiện thấy có tồn tại thâm hụt kép và phát hiện được con đường tác động của THNS đến THVL bằng cả hai con đường trực tiếp và gián tiếp. Đối với con đường trực tiếp thì gia tăng THNS trực tiếp làm trầm trọng thêm THVL mà không cần sự truyền dẫn của bất kỳ biến trung gian nào.

10 Đối với gián tiếp, nghiên cứu chỉ rõ cách thức xảy ra tác động: Một là, THNS sẽ khiến lãi suất tăng lên dẫn tới sự lên giá của đồng nội tệ và làm gia tăng THVL (cho cả Malaysia và Thái Lan). Tương tự, ở 17 nước OECD giai đoạn 1978 - 2009, Bluedorn và Leigh (2011) cũng ghi nhận khi THNS giảm 1% sẽ kéo theo THVL giảm 0,6% thông qua các biến trung gian là lãi suất và tỷ giá thực. Hai năm sau đó Mehmet và Filiz (2013) sử dụng hai biến THNS và THVL nghiên cứu về một số nước OECD giai đoạn 1990 - 2007 cũng ghi nhận kết quả tương tự trong dài hạn tại khu vực này. Còn trong công trình của Eldemerdash và cộng sự (2014), ngoài việc khẳng định THNS tác động thuận chiều đến THVL, nhóm tác giả còn chỉ rõ ảnh hưởng của chi tiêu ngân sách và thuế đến THVL.

Cụ thể khi chi tiêu chính phủ tăng 1% sẽ làm THVL tăng 0,73% hay tăng thuế 1% GDP sẽ khiến cán cân vãng lai thặng dư khoảng từ 0,35% - 0,75% GDP. Một năm sau đó Bakarr (2014) đã đóng góp thêm kênh truyền tải ảnh hưởng của THNS đến THVL khi phát hiện thấy GDP và tình trạng chính trị cũng là các biến trung gian khi nghiên cứu trường hợp của Sierra Leone trong giai đoạn 1980 - 2012. Với mục tiêu nghiên cứu những nền kinh tế đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình kinh tế tập trung sang mô hình kinh tế thị trường và có cán cân vãng lai và ngân sách thâm hụt ở mức cao, Tosun và cộng sự (2014) chọn 7 nước Trung và Đông Âu gồm Bungari, Latvia, Lithunia, Ba Lan, Rumani, Serbia và Slovenia trong giai đoạn 1998- 2010. Chỉ sử dụng hai biến số là cán cân vãng lai/GDP và cán cân ngân sách/GDP, kết quả thực nghiệm cho thấy, chỉ có Bungari và Ba Lan là tồn tại thâm hụt kép do THNS gây nên.

Từ nghiên cứu này, nhóm tác giả có nhận định đối với các nền kinh tế đang trong giai đoạn quá độ thì cán cân vãng lai không chỉ phụ thuộc vào cán cân ngân sách, mà còn phụ thuộc vào lãi suất thực tế và tăng trưởng. Do đó, nhóm tác giả khẳng định cần có những nghiên cứu sâu hơn về chủ đề này, cần thiết phải bổ sung thêm những biến thực tế như như lãi suất thực và tăng trưởng kinh tế để kết quả phân tích tốt hơn. Từ sau năm 2010, chủ đề về mối quan hệ về thâm hụt ở khu vực ngân sách và thương mại bắt đầu xu thế mới khi phương pháp phân tích bất đối xứng dần được đưa vào nghiên cứu thực nghiệm. Tiêu biểu là công trình của Antonakaris và cộng sự (2016) thực nghiệm về mối quan hệ giữa THNS và THTM trong giai đoạn 1791- 2013 tại Mỹ cho thấy tồn tại quan hệ đồng biến dài hạn giữa hai loại thâm hụt.

Sử dụng kiểm định Bound test để đánh giá quan hệ dài hạn và mô hình QARDL (mô hình ARDL biến đổi theo phân vị) để đánh giá về tính bất đối xứng, các tác giả kết luận quan hệ giữa hai biến là phi tuyến tính. Cụ thể, THNS có tác động mạnh tới THTM ở những phân vị nhỏ hơn giá trị trung bình. Ngược lại, ở những phân vị lớn hơn giá trị trung bình, người tiêu dùng 11 phản ứng theo thuyết Ricardo (tiết kiệm nhiều hơn để chi trả thuế cao hơn trong tương lai) nên THNS không tác động đến THTM. Cũng với mục đích tìm hiểu về tính bất đối xứng, bằng phương pháp mới là tách tác động của một biến độc lập lên biến phụ thuộc theo hai cơ chế riêng biệt là tác động trong xu thế tăng và tác động trong xu thế giảm, Turan và Karakas (2018) đã sử dụng mô hình NARDL với bộ số liệu theo quý từ 1999 - 2016, gồm 3 biến: THNS, THVL (đều tính theo%GDP) và GDP cho 7 nước Croatia, Séc, Hungary, Ba Lan, Rumani, Slovakia và Slovenia.

Kết quả cho thấy, trong dài hạn, tồn tại thâm hụt kép tại Sec, Hungari, và Slovakia theo hướng THNS tác động đến THVL. Trong nghiên cứu có tên: “Giả thuyết thâm hụt kép, nghiên cứu lại trường hợp của Ấn Độ” với mô hình phi tuyến, do Javed và Naresh công bố năm 2018, mối quan hệ giữa THNS và THVL được kiểm định lại trên cơ sở thêm các biến độ mở thương mại và tăng trưởng của sản lượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ