PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu luận án Hơn một nửa dân số thế giới sống ở khu vực ven biển, môi trường và kinh tế khu vực ven biển có những đóng góp quan trọng đối với sự giàu có và hạnh phúc của các quốc gia ven biển [1]. Tuy nhiên, những tác động tích lũy của các hoạt động của con người đe dọa cho sự bền vững của tài nguyên vùng bờ: Nguồn lợi thủy sản ven biển đang suy giảm do khai thác quá mức và phá hủy môi trường sống, bãi sinh sản; sự xuống cấp chất lượng nước ven biển; sự phá hoại các hệ sinh thái (HST) do các công trình xây dựng và hoạt động của con người. Dân số tăng trưởng đang gây áp lực lên các HST ven biển, tần suất xuất hiện tần suất cao của thời thiết tiêu cực và bão, sóng thần cũng gây tác động tiêu cực đến sự tài nguyên vùng bờ [2].
Quản lý vùng bờ theo mô thức QLTH vùng bờ được đặt ra như một tất yếu cho phát triển bền vững (PTBV) cho các vùng bờ và hải đảo [3]. Quản lý tổng hợp vùng bờ (QLTHVB) liên kết hoạt động đối tác, tập hợp các bên có quyền lợi, đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quy hoạch và quản lý hệ thống TN&MT (TN & MT), có xét đến các đặc điểm lịch sử, văn hoá – xã hội, mâu thuẫn lợi ích và sử dụng [4]. Việt Nam có vùng biển rộng lớn với diện tích trên 1 triệu km2, đường bờ biển dài khoảng trên 3260 km và có hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ nằm dọc chiều dài bờ biển từ Bắc đến Nam. Khoảng 50% đô thị lớn và quan trọng của cả nước nằm ở dải ven biển.
Có 23,1% dân số Việt Nam sống tại các khu đô thị ven biển. Ngày nay, nhiều vấn đề đang nổi lên, như dân số tại vùng ven biển tăng cao; đa dạng sinh học (ĐDSH) suy giảm, các hệ sinh thái quan trọng bị suy thoái (rạn san hô, rừng ngập mặn, các vùng đất ngập nước, vũng vịnh, cửa sông, các đảo,. ); đất canh tác ven biển bị suy thoái do nhiễm mặn hoặc phèn hoá; suy giảm tài nguyên khoáng sản do khai thác quá mức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến vùng ven biển, nhất là các đảo (đặc biệt việc khai thác cát ở các đảo, vùng cửa sông gây sạt lở, thay đổi cấu trúc vùng bờ, ảnh hưởng đến nơi cư trú của thủy sinh vật); nguy cơ ô nhiễm môi trường vùng ven biển hiện hữu các khu du lịch, bến cảng, cửa sông; ô nhiễm nước ngầm tầng nông ven biển; các sự cố môi trường như tràn dầu, việc nhấn chìm, đổ thải, xói lở bờ biển, bồi lắng cửa 2 sông, thủy triều đỏ. Môi trường biển chưa quan tâm bảo vệ và xác định như là nguồn lực cơ bản đảm bảo cho sự phát triển bền vững (PTBV) của nền kinh tế xã hội (KT-XH) [5].
Việt Nam hiện có 12 huyện ở 9 tỉnh thành, ngoài 2 huyện đảo nằm xa đất liền là Hoàng Sa và Trường Sa, còn lại 10 huyện đảo ở ven bờ là: Cô Tô và Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh; Cát Hải và Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng; Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị; Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi; Phú Quý thuộc tỉnh Bình Thuận; Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Kiên Hải và Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang. Các huyện đảo ven bờ đều có đặc điểm chung là có đầy đủ các hoạt động sản xuất, đời sông dân sinh và coi trọng việc bảo vệ và phát triển TN&MT như là một điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững. Mặc dù đã có những thảo luận về sự cần thiết phải có mô hình chính quyền phù hợp với từng vùng miền (như mô hình chính quyền đô thị, chính quyền nông thôn), tuy nhiên, hiện vẫn chưa có mô hình quản lý phù hợp gắn với phương thức tổ chức quản lý đặc thù nhằm hướng tới sự PTBV đối với các huyện đảo. Huyện đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh, cách đất liền trên 40 km, nằm tiếp giáp với đường phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc, trong thời gian gần đây có sự chuyển dịch mạnh mẽ về kinh tế, với sự gia tăng đột biến lượng khách du lịch, KT-XH đã và đang phát triển mang tính chất đa ngành: Công nghiệp (sửa chữa tàu thuyền, chế biến thủy sản, hậu cần nghề cá), dịch vụ (du lịch thăm quan, khám phá biển, nghỉ dưỡng; dịch vụ cảng), nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản),.
Dựa trên nền tảng tài nguyên môi trường biển đảo và cách tiếp cận quản lý đơn ngành dẫn đến nhiều bất cập hiện hữu như: Sự tàn phá các HST vùng bờ: rạn san hô (RSH) (chết lên tới 90% - Nguyễn Đức Cự & cộng sự, 2010 [6]), nhóm loài San hô cành đã hầu như biến mất hoàn toàn, sản lượng cá biển có giá trị kinh tế và các loài hải sản có giá trị kinh tế khác ở khu vực giảm sút [7]; Các ngành kinh tế hoạt động xung đột nhau về không gian và lợi ích, biến đổi khí hậu, sạt lở bờ, các sự cố tràn dầu. đã tạo lên thách thức đối với quản lý đơn ngành đối với huyện đảo Cô Tô. Việc nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý tổng hợp (QLTH) theo mô thức QLTHVB cho huyện đảo Cô Tô góp phần bảo vệ TN&MT, phát triển bền vùng biển đảo quan trọng này, đồng thời tạo mô hình QLTHVB nhân rộng cho cả hệ thống đảo ven bờ Việt Nam. 3 Tác giả lựa chọn luận án “Nghiên cứu xây dựng mô hình QLTH huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh” nhằm đáp ứng một số đòi hỏi thực tiễn sau: Một là, làm rõ tiềm năng, lợi thế phát triển KT-XH, những xung đột, mâu thuẫn giữa các ngành lĩnh vực, đánh giá thực trạng môi trường và dự báo các tai biến thiên nhiên để phục vụ quản lý biển đảo huyện đảo Cô Tô.
Hai là, xây dựng mô hình QLTH cho huyện đảo Cô Tô theo mô thức QLTHVB, thiết lập bản đồ phân vùng QLTH huyện đảo Cô Tô để khắc phục những tồn tại hạn chế mô hình quản lý đơn ngành, hướng tới PTBV tại huyện đảo. Ba là, đề xuất các giải pháp và công cụ thúc đẩy thực hiện QLTH huyện đảo Cô Tô. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được cơ sở khoa học cho việc xây dựng mô hình QLTH huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh. - Đề xuất mô hình quản lý tổng hợp vùng bờ cho huyện đảo Cô Tô và đề xuất các giải pháp thực hiện, góp phần PTBV vùng biển đảo này.
Nội dung, nhiệm vụ nghiên cứu 3. Nội dung 1: Điều tra khảo sát bổ sung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, thiên tai và KTXH và đánh giá tổng hợp tài liệu để xây dựng các bộ hồ sơ về TN&MT phục vụ xây dựng mô hình QLTH huyện đảo Cô Tô. Nội dung 2: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho xây dựng mô hình QLTH huyện đảo Cô Tô. Nội dung 3: Nghiên cứu đề xuất mô hình QLTH huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh phù hợp với cơ sở pháp lý và điều kiện thực tiễn địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu - Hệ thống lý thuyết về QLTHVB, quá trình nghiên cứu áp dụng QLTH trên thế giới, tại Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh. 4 - Điều kiện tự nhiên, TN&MT, KT-XH, cơ sở khoa học, thực tiễn và pháp lý cho công tác QLTH huyện đảo Cô Tô. Phạm vi nghiên cứu 4.
Phạm vi không gian Luận án nghiên cứu trên phạm vi địa giới hành chính của huyện đảo Cô Tô (toàn bộ các đảo thuộc quần đảo Cô Tô) và vùng biển ven đảo từ mép thủy triều thấp nhất ra phía biển là 3 hải lý. Lý do: để phù hợp với năng lực quản lý của chính quyền cấp huyện và thẩm quyền giao khu vực biển tại điểm a khoản 2 Điều 44 Luật Thủy sản, 2017 quy định Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp huyện “Phạm vi giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm đến 03 hải lý thuộc phạm vi quản lý [8]. Phạm vi thời gian - Luận án tập trung nghiên cứu trên cơ sở thông tin và tư liệu trong giai đoạn 2010 – 2021. - Khung thời gian đề xuất mô hình QLTH giai đoạn 2023-2040 (nhằm phù hợp với giai đoạn thực thi Quy hoạch chung xây dựng huyện đảo Cô Tô đến năm 2040).
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5. Phương pháp luận - Tiếp cận tổng hợp: Luận án đánh giá toàn diện về điều kiện tự nhiên, môi trường và KT-XH huyện đảo Cô Tô, năng lực quản lý của chính quyền cấp huyện, tiềm năng lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các căn cứ pháp lý; Từ đó đưa ra các giải pháp quản lý tạo sự thống nhất về không gian giữa khu vực đảo và vùng biển quanh đảo Cô Tô, thống nhất giữa các cấp quản lý trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện; giữa quy hoạch phát triển KT-XH và bảo vệ môi trường vùng bờ, thống nhất về quản lý Nhà nước và có sự tham gia của cộng đồng, đảm bảo lợi ích Nhà nước gắn liền với lợi ích cộng đồng, góp phần xóa đói, giảm nghèo và ổn định xã hội. - Tiếp cận hệ thống: Khu vực huyện đảo Cô Tô là một hệ thống thống nhất, chịu sự tương tác giữa môi trường biển, môi trường vùng đất tự nhiên trên đảo và môi 5 trường xã hội. Để hướng tới sự PTBV phải đảm bảo sự cân bằng hệ thống trên cả ba phương diện: Kinh tế, xã hội và môi trường, cũng chính là hướng tới cân bằng các hệ thống cấu thành vùng biển, đảo thông qua hoạch định chính sách, chiến lược phát triển, quản lý vùng bờ.
Trong luận án, với cách tiếp cận hệ thống, việc xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp quản lý huyện đảo Cô Tô cần được tiếp cận trên cơ sở một hệ thống toàn vẹn thống nhất, không chia cắt về không gian, đảm bảo sự thống nhất và chủ thể quản lý giữa cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện. - Tiếp cận lịch sử: Việc đánh giá các vấn đề cần xác định trong bối cảnh lịch sử cụ thể, do vậy cần xây dựng cơ sở dữ liệu với chuỗi số liệu tin cậy, đủ dài và toàn diện làm cơ sở khoa học cho việc định hướng khai thác toàn diện, hiệu quả hợp lý tài nguyên trong vùng nghiên cứu.