Nghiên cứu sinh học và kỹ thuật trồng rừng Chiêu liêu nước tại Đông Nam Bộ - Luận án tiến sĩ lâm nghiệp

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng rừng Chiêu liêu nước. Phân tích yêu cầu môi trường, quy trình canh tác và ứng dụng bảo vệ đất đai, phát triển

Chuyên ngành

Lâm sinh

Tác giả

Nguyễn Thanh Minh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ lâm nghiệp

2021

187
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về loài chiêu liêu nước trong lâm nghiệp Việt Nam

Chiêu liêu nước (Terminalia calamansanai (Blanco) Rolfe) thuộc họ Combretaceae. Đây là loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao trong ngành lâm nghiệp. Loài này phân bố chủ yếu tại các vùng nhiệt đới Đông Nam Á. Tại Việt Nam, chiêu liêu nước tập trung ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Cây có khả năng sinh trưởng nhanh, cho gỗ chất lượng tốt. Gỗ chiêu liêu nước được sử dụng rộng rãi trong xây dựng và chế biến nội thất. Nghiên cứu về loài cây này bắt đầu được quan tâm từ đầu thập niên 2010. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu. Mục tiêu nhằm phát triển nguồn tài nguyên rừng bền vững. Chiêu liêu nước được đánh giá là loài cây triển vọng cho trồng rừng gỗ lớn. Nhu cầu gỗ nguyên liệu ngày càng tăng tạo động lực phát triển. Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng có ý nghĩa thực tiễn lớn. Đây là cơ sở khoa học cho quy hoạch và phát triển vùng trồng.

1.1. Phân loại khoa học và đặc điểm thực vật học của chiêu liêu nước

Chiêu liêu nước có tên khoa học là Terminalia calamansanai (Blanco) Rolfe. Loài thuộc họ Combretaceae, bộ Myrtales. Cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt 30-35 mét. Thân thẳng, đường kính gốc đạt 60-80 cm. Vỏ cây màu xám nâu, có vết nứt dọc. Lá đơn mọc cách, hình trứng thuôn dài. Cụm hoa dạng chùm ở nách lá. Quả dạng hạch, có cánh giúp phát tán xa. Hệ thống rễ phát triển mạnh, ăn sâu. Cây ưa sáng, chịu được đất nghèo dinh dưỡng. Tốc độ sinh trưởng trung bình đạt 1-1,5 cm đường kính mỗi năm. Tuổi khai thác tối ưu từ 20-25 năm.

1.2. Phân bố tự nhiên và vai trò kinh tế của loài cây này

Chiêu liêu nước phân bố tự nhiên tại Philippines, Malaysia và Indonesia. Tại Việt Nam, loài xuất hiện ở Đông Nam Bộ và một số tỉnh Tây Nguyên. Cây mọc rải rác trong rừng tự nhiên, thường gặp ở độ cao dưới 500 mét. Vai trò kinh tế của loài rất đa dạng. Gỗ được dùng làm đồ nội thất cao cấp, ván sàn và xây dựng nhà cửa. Vỏ cây có chứa tannin dùng trong công nghiệp thuộc da. Một số bộ phận được dùng trong y học dân gian. Chiêu liêu nước còn có tác dụng bảo vệ đất và cải thiện môi trường. Giá trị kinh tế trên một hecta rừng trồng ước tính cao hơn nhiều loài cây bản địa khác.

II. Phân tích đặc điểm sinh học và tái sinh tự nhiên của chiêu liêu nước

Nghiên cứu đặc điểm sinh học là nền tảng để xây dựng kỹ thuật trồng rừng hiệu quả. Chiêu liêu nước có chu kỳ ra hoa tập trung vào tháng 3-5 hàng năm. Quả chín rộ vào tháng 6-8, phát tán nhờ gió và nước. Tỷ lệ nảy mầm tự nhiên đạt 40-55% trong điều kiện thuận lợi. Cây con tái sinh tự nhiên xuất hiện nhiều ở nơi có ánh sáng đầy đủ. Độ tàn che 0,4-0,5 là điều kiện lý tưởng cho tái sinh. Nghiên cứu về sinh trưởng đường kính và chiều cao cho thấy tốc độ tăng trưởng nhanh trong 5 năm đầu. Sau đó, tốc độ sinh trưởng ổn định ở mức trung bình. Cây có khả năng tái sinh chồi tốt sau khi khai thác. Vật hậu diễn ra theo mùa rõ rệt, ảnh hưởng đến chất lượng gỗ. Hiểu biết về đặc điểm sinh học giúp tối ưu hóa thời vụ trồng và chăm sóc. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng trồng.

2.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển qua các giai đoạn

Giai đoạn cây con (0-1 năm): Chiều cao đạt 0,5-1,2 mét. Rễ phát triển mạnh theo chiều sâu. Giai đoạn cây nhỏ (1-5 năm): Tăng trưởng đường kính nhanh, trung bình 1,5-2 cm/năm. Chiều cao đạt 5-8 mét. Giai đoạn cây choái (5-15 năm): Sinh trưởng ổn định, bắt đầu ra hoa kết quả. Giai đoạn cây trưởng thành (trên 15 năm): Đường kính đạt 25-35 cm. Sản lượng gỗ tối ưu đạt được ở tuổi 20-25. Điều kiện dinh dưỡng đất ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng.

2.2. Đặc điểm tái sinh tự nhiên và vật hậu theo mùa

Tái sinh tự nhiên của chiêu liêu nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Mật độ cây con tái sinh đạt 200-500 cây/ha trong rừng tự nhiên. Tỷ lệ cây triển vọng chiếm 15-25% tổng số cây tái sinh. Vật hậu diễn ra rõ rệt theo mùa. Ra hoa tập trung vào mùa khô (tháng 3-5). Quả chín vào đầu mùa mưa (tháng 6-8). Sự phát tán hạt nhờ cánh giúp lan tỏa xa 50-100 mét. Cây tái sinh phát triển tốt ở đất tơi xốp, thoát nước tốt. Độ tàn che 0,4-0,5 là điều kiện tối ưu cho tái sinh hạt. Tái sinh chồi cũng đóng vai trò quan trọng sau khai thác.

III. Kỹ thuật trồng rừng và nhân giống chiêu liêu nước hiệu quả

Kỹ thuật trồng rừng chiêu liêu nước bao gồm nhiều yếu tố quan trọng. Tiêu chuẩn cây con đem trồng phải đạt chiều cao 30-40 cm, đường kính cổ rễ 0,5 cm. Cây con khỏe mạnh, không sâu bệnh là điều kiện tiên quyết. Phương pháp nhân giống bằng hạt và giâm hom đều khả thi. Giâm hom sử dụng chất kích thích sinh trưởng IBA 1.500 ppm cho tỷ lệ sống cao. Giá thể ruột bầu tối ưu gồm 50% đất tầng mặt và 50% xơ dừa. Thời gian xử lý thuốc 60 giây đạt hiệu quả tốt nhất. Tuổi cây mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom. Mật độ trồng khuyến nghị 1.100-1.600 cây/ha. Phân bón NPK đầy đủ giúp tăng sinh trưởng 30-40%. Đất bazan và đất feralit xám phù hợp nhất cho trồng rừng. Phương thức trồng hỗn giao giúp cải thiện chất lượng rừng. Trồng làm giàu rừng tự nhiên là hướng đi bền vững.

3.1. Kỹ thuật giâm hom và xử lý chất kích thích sinh trưởng

Giâm hom là phương pháp nhân giống hiệu quả cho chiêu liêu nước. Chất kích thích sinh trưởng IBA nồng độ 1.500 ppm dạng nước cho kết quả tốt nhất. Thời gian xử lý thuốc tối ưu là 60 giây. Giá thể giâm hom gồm 50% đất tầng mặt và 50% xơ dừa. Hom từ cây 2-3 tuổi có tỷ lệ ra rễ cao nhất. Kỹ thuật trẻ hóa chồi mẹ giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống. Nhiệt độ 28-32 độ C, độ ẩm 80-85% là điều kiện lý tưởng. Tỷ lệ sống của hom đạt 65-80% sau 60 ngày giâm.

3.2. Kỹ thuật trồng rừng và chăm sóc sau trồng

Mật độ trồng khuyến nghị 1.100 cây/ha cho rừng gỗ lớn. Kích thước hố trồng 40x40x40 cm. Bón lót 200g phân NPK mỗi hố. Thời vụ trồng tốt nhất vào đầu mùa mưa (tháng 5-6). Phương thức trồng hỗn giao với các loài bản địa cải thiện đa dạng sinh học. Chăm sóc năm đầu gồm 3 lần phát dọn cỏ. Bón thúc năm thứ 2 và thứ 3 giúp tăng sinh trưởng. Tỷ lệ sống sau trồng đạt 85-92% với kỹ thuật đúng. Cắt tỉa cành sớm giúp hình thành thân thẳng, chất lượng gỗ cao.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu chiêu liêu nước

Nghiên cứu đã xác định đầy đủ đặc điểm sinh học của chiêu liêu nước tại vùng Đông Nam Bộ. Kết quả cho thấy loài cây này có tiềm năng lớn cho trồng rừng gỗ lớn. Tốc độ sinh trưởng nhanh, chất lượng gỗ tốt là ưu điểm nổi bật. Kỹ thuật giâm hom với IBA 1.500 ppm cho tỷ lệ sống cao. Giá thể 50% đất và 50% xơ dừa là tối ưu cho sản xuất cây con. Mật độ trồng 1.100 cây/ha phù hợp cho mục đích gỗ lớn. Phương thức trồng hỗn giao giúp cải thiện hệ sinh thái rừng. Kết quả nghiên cứu áp dụng được tại các tỉnh Đông Nam Bộ. Bà con nông dân và các lâm trường có thể áp dụng quy trình kỹ thuật. Phát triển rừng chiêu liêu nước góp phần bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Nghiên cứu mở ra hướng đi mới cho lâm nghiệp bền vững. Cần tiếp tục nghiên cứu chọn giống cải thiện năng suất và chất lượng.

4.1. Ý nghĩa khoa học và đóng góp mới của luận án

Luận án cung cấp bộ dữ liệu đầy đủ về đặc điểm sinh học chiêu liêu nước. Đây là nghiên cứu đầu tiên về loài cây này tại vùng Đông Nam Bộ. Kết quả xác định được quy trình kỹ thuật trồng rừng hoàn chỉnh. Nghiên cứu đóng góp vào khoa học lâm nghiệp nhiệt đới. Phương pháp giâm hom tối ưu hóa được công bố lần đầu. Dữ liệu sinh trưởng theo thời gian là tài liệu tham khảo quý giá. Kết quả áp dụng được trong quy hoạch phát triển vùng trồng gỗ lớn.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và hướng phát triển bền vững

Kết quả nghiên cứu áp dụng trực tiếp vào sản xuất lâm nghiệp. Quy trình kỹ thuật được chuyển giao cho các lâm trường và nông hộ. Rừng chiêu liêu nước cho thu nhập cao gấp 2-3 lần các loài truyền thống. Thời gian thu hoạch rút ngắn còn 20-25 năm so với 30-40 năm. Hướng phát triển bền vững bao gồm trồng rừng chứng chỉ FSC. Liên kết chuỗi giá trị từ trồng đến chế biến nâng cao hiệu quả. Nghiên cứu mở rộng sang các vùng sinh thái khác là cần thiết.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ lâm nghiệp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng rừng chiêu liêu nước terminalia calamansanai blanco rofe tại vùng đông nam bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về kết cấu loài cây gỗ Khi nghiên cứu về rừng, nhà lâm học quan tâm đến thành phần loài cây gỗ, vai trò và tính ổn định của chúng trong quần xã thực vật. Nhiều nhà lâm học (Richards, 1952; Baur, 1961) [40], [1], cho rằng mỗi kiểu rừng được hình thành bởi những loài cây khác nhau.

Vì thế, khi phân tích tổ thành rừng, cần phải xác định tên loài cây và tỷ lệ của mỗi loài. Dựa vào những loài cây hình thành rừng, Richards (1952) [40] đã phân chia rừng mưa nhiệt đới thành 2 nhóm. Nhóm 1 là rừng mưa hỗn hợp với nhiều loài cây ưu thế và đồng ưu thế. Nhóm 2 là rừng mưa đơn ưu thế.

Theo Richards (1968) [41], tổ thành thực vật của rừng nhiệt đới ẩm ở Đông Nam Á thường có một nhóm loài chiếm ưu thế đến 50% quần thụ. Đó là những loài cây gỗ của họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae). Trong tổ thành rừng mưa nhiệt đới, có hơn 40 loài cây gỗ trên mỗi hecta. Trong sinh thái học và lâm học, vai trò của các loài cây gỗ trong quần xã thực vật rừng (QXTV) có thể được xác định theo nhiều phương pháp khác nhau do Curtis và McIntosh (1951 đề xuất đã sử dụng thuật ngữ chỉ số giá trị quan trọng của loài IVI%) để biểu thị cho vai trò của loài trong QXTV.

Chỉ số IVI% được tính bằng tổng hoặc giá trị trung bình của ba tham số: độ thường gặp tương đối (F%), mật độ tương đối (N%) và tiết diện ngang thân cây tương đối (G%) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2010) [48]. Chỉ số IVI được xác định theo hai phương pháp kể trên có nhược điểm là nó thay đổi tùy theo kích thước và số lượng ô mẫu. Khi số lượng ô mẫu lớn, thì việc tính chỉ tiêu F sẽ gặp khó khăn (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2010) [48], 6 Khi nghiên cứu về cấu trúc và tổ thành thực vật sau tác động của con người và sự xâm lấn của thực vật Addo-Fordjour và cs (2009) [58] đã thiết lập ngẫu nhiên 3 ô tiêu chuẩn (50 x 50 m), tương ứng với 3 khu rừng tại khu bảo tồn Tinte Bepo cho thấy có 108 loài thực vật thuộc 37 họ, 77 chi và 88 dạng sống được tìm thấy trong tất cả các khu rừng, trong đó loài Celtis mildbraedii. Eng và Triplochiton scleroxylon K.Shum là loài chiếm ưu thế.

Khi nghiên cứu sự đa dạng các loài thực vật và đặc điểm cấu trúc của rừng ở Vườn Quốc gia Dulhazara Safari của Bangladesh, Mijan Uddin và Misbahuzzanman (2007) [80] đã thống kê được 560 cá thể có đường kính D 1.3 >5 cm của 82 loài đại diện thuộc 31 họ và 62 chi, xác định được bốn tầng chính với các loài chiếm ưu thế khác nhau. Kết quả tính toán chỉ số IVI% của tác giả cho thấy, họ Dầu là họ chiếm ưu thế với loài Dầu bao (Dipterocarpus turbinatus). Nghiên cứu về tái sinh, vật hậu và hạt giống Tái sinh tự nhiên của rừng là một quá trình rất phức tạp. Khi nghiên cứu tái sinh rừng, người ta thường tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế.

Các nhà nghiên cứu cho rằng hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng ít nhiều đã bị biến đổi. Van Steenis (1956) [89] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng. Richards (1952) [40] đã tiến hành nghiên cứu tái sinh ở rừng mưa nhiệt đới và cho xuất bản cuốn “Rừng mưa nhiệt đới”.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tái sinh rừng mưa nhiệt đới vô cùng phức tạp, cây tái sinh tự nhiên chủ yếu có phân bố cụm một số khác có phân bố Poisson. Theo Ghent (1969) [71], tầng cây bụi thảm tươi có ảnh hưởng lớn đến quá trình tái sinh của loài cây gỗ 7 đồng thời thảm mục và chế độ thủy nhiệt tầng đất mặt đều có ảnh hưởng tới tái sinh tự nhiên ở mức độ khác nhau. Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ. Dưới những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của chúng đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể.

Ngược lại, ở những lâm phần rừng thưa hoặc đã qua khai thác thảm cỏ có điều kiện phát triển mạnh mẽ, khiến chúng trở thành nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973; dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [46]. Giáng hương ở Thái Lan nẩy chồi vào tháng 2-3, hoa nở và thụ phấn tháng 3-4, kết thúc thụ phấn vào đầu tháng 5 (Ramin và Owens, 1998) [85]. Quả Giáng hương hình thành từ tháng 5, quả chín vào tháng 10-11, khi đó cũng là lúc bắt đầu rụng (Coles và Boyle, 1999) [63]. Kết quả nghiên cứu về cây Cóc hành của Dorthe Jᴓker (2000) [67] cho thấy, thời gian ra hoa và kết quả của Cóc hành thay đổi giữa các địa phương.

Ở phía bắc Thái Lan, Cóc hành rụng lá vào tháng giêng tới tháng hai. Lá non mọc ngay khi lá già rụng, khi lá mới chuyển sang màu xanh cây bắt đầu ra hoa. Cóc hành ra hoa từ tuổi 6 đến tuổi 7. Hoa ra làm 2 đợt, đợt 1 vào khoảng tháng 2 và tập trung vào tháng 3, đợt 2 vào tháng 4 - 5.

Hoa có mùi thơm, dài từ 5,0 - 6,5 mm, rộng từ 1,5 - 2,5 mm và bông dài khoảng 4 mm. Nhụy chia thành ba lá noãn. Tóm lại, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng, tái sinh tự nhiên, vật hậu và hạt giống của các quần thể rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng trên thế giới rất phong phú. Nhiều công trình nghiên cứu đã đem 8 lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng.

Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững. Một số nghiên cứu về trồng rừng gỗ lớn bằng cây gỗ bản địa Theo Matti Leikola (1995) [77], các nhà lâm nghiệp đã biết thực hiện từ rất sớm trong các nghiên cứu chọn loài cây trồng rừng. Từ những thử nghiệm thăm dò đến khảo nghiệm loài và xuất xứ, các thí nghiệm được bố trí một cách nghiêm túc theo các nguyên tắc khoa học để từ đó chọn loài cây thích hợp cho mỗi vùng sinh thái. Ở một số nước đã có một số nghiên cứu xây dựng các mô hình toán để tối ưu cơ cấu cây trồng cho từng vùng.

Ở các nước vùng ôn đới số loài cây chính dùng trong trồng rừng thường không nhiều, nên người ta đã tìm hiểu mối quan hệ giữa cây và lập địa rất cụ thể, chi tiết cho từng loài riêng biệt. Khi nghiên cứu về trồng loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trong các mô hình rừng trồng, Matthew và cs (1995) [78] đã xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân gỗ với cây họ đậu. Kết quả cho thấy, cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính. Kết quả này cho thấy sử dụng các loài cây họ đậu làm cây phù trợ cho các loài cây trồng chính trong mô hình rừng trồng hỗn loài là rất phù hợp.

Ngoài việc xác định được loài cây phù trợ thích hợp thì việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của các loài cây cũng là vấn đề rất quan trọng khi xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài. Trong nghiên cứu trồng một số loài cây gỗ bản địa trong rừng thứ sinh Negeri Sembilan, Malaysia Affendy và cs, (2009) [59] đã trồng thử nghiệm thành công trên 42 ha với 5 loài cây gỗ bản địa nhằm kinh doanh gỗ lớn theo phương thức làm giàu rừng theo đám. Hashim và cs (2015) [72] đã đánh giá lại lịch sử trồng rừng của Malaysia cho biết, trước những năm 1980 chủ yếu trồng các loài Thông, sau thời kỳ này chuyển sang trồng một số loài cây mọc nhanh như Keo và Bạch 9 đàn và một số loài cây gỗ bản địa như Tếch, Dầu rái, Nhạc ngựa, Xà cừ, Cao su lấy gỗ. Các tác giả cũng cho biết trong chiến lược trồng rừng, Malaysia đã đề xuất nhiều loài cây cho từng loại rừng trồng theo các luân kỳ khác nhau.

Đối với luân kỳ ngắn từ 15 đến 25 năm, mật độ trồng ban đều từ 1.110 cây/ha đến 2.500 cây/ha, tỉa thưa 2 lần vào tuổi 4-6 và tuổi 15 cho các loài bản địa gỗ lớn mọc nhanh như Berembang bukit (Duabanga grandiflora), cây Vừng (Endospermum diadenum), cây Choại (Terminalia bellirica), Thục quỳ (Maesopsis eminii). Với luân kỳ ngắn, trung bình 45 năm đến 60 năm, thì chọn các loài ưa sáng, tỉa thưa 3 lần gồm một số loài họ Dầu như Dầu rái, Sao đen, một số loài Sến. Những nghiên cứu về chi Chiêu liêu và loài Chiêu liêu nước 1. Phân loại thực vật và đặc điểm hình thái Chi Terminalia là chi lớn thứ hai của họ Bàng (Combretaceae) với khoảng 200 loài cây gỗ và cây bụi.

Hầu hết các loài thuộc chi này đều là những cây gỗ lớn, đặc biệt có loài có chiều cao lên tới 75 m (Fahmy và cs, 2015) [70]. Theo các tài liệu mô tả về thực vật ở Trung Quốc (Flora of China, 2007) [93], đặc điểm chung của chi Chiêu liêu thường là cây lớn hiếm khi là cây bụi, cây gỗ thường xanh hoặc rụng lá. Cành mọc theo tầng, lá hình xoắn ốc, mọc đối hoặc mọc cách, ít khi mọc vòng, mép lá nguyên, đôi khi có răng cưa, gốc lá thường có tuyến. Phiến lá hình thuôn, hình elip hoặc ô van, có lông hoặc nhẵn, Cánh hoa 4 hoặc 5, hoa lưỡng tính.

Quả giả có múi hoặc có 2 đến 5 cánh, quả thịt hoặc quả khô có 1 hạt. Chiêu liêu nước có tên khoa học là Terminalia calamansanai (Blanco) Rolfe. Tên thương mại là Kwako, Yellow terminalia. Đây là cây gỗ thuộc chi Chiêu liêu, họ Bàng.

Ngoài ra, Chiêu liêu nước còn có tên khoa học khác là Gimbernaca calamansanai. Blanco; Petatera mollis.Presl; Terminalia blancoi. Mern; Terminalia latialata.White; Terminalia Papilio. Tuy nhiên, tên Terminalia calamansanai (Blanco) Rolfe vẫn được các 10 nhà khoa học sử dụng phổ biến (http://www.org /taxon/urn:lsid:ipni.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ