Luận án tiến sĩ: Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại trường đại học ngoài công lập - Hoàng Hải Yến

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý trường đại học ngoài công lập. Phân tích các giải pháp quản lý hiệu quả, hệ thống thông tin và chuyển đổi số.

Chuyên ngành

Quản trị Kinh doanh

Tác giả

Hoàng Hải Yến

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2021

200
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ứng dụng công nghệ thông tin

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập đã trở thành một phần quan trọng trong quá trình hiện đại hóa giáo dục. Công nghệ thông tin giúp các trường đại học quản lý thông tin, tài chính, cơ sở vật chất một cách hiệu quả hơn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng giúp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

1.1. Khái niệm cơ bản

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập là việc sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ và nâng cao hiệu quả quản lý trong các cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập. Công nghệ thông tin bao gồm phần cứng, phần mềm và dịch vụ giúp các trường đại học quản lý thông tin, tài chính, cơ sở vật chất một cách hiệu quả hơn.

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Có nhiều nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập. Các nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thực trạng, xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý.

II. Phân tích vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin

Mặc dù ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập đã đạt được một số kết quả tích cực, vẫn còn một số vấn đề tồn tại. Các vấn đề này bao gồm thiếu nguồn lực, thiếu kỹ năng và kiến thức về công nghệ thông tin của cán bộ quản lý và giảng viên.

2.1. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin

Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập hiện nay còn nhiều hạn chế. Các trường đại học cần đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và đào tạo cán bộ quản lý và giảng viên về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng

Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập bao gồm nguồn lực, kỹ năng và kiến thức của cán bộ quản lý và giảng viên, cũng như sự hỗ trợ của lãnh đạo.

III. Giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin

Để nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập, cần có các giải pháp toàn diện. Các giải pháp này bao gồm đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, đào tạo cán bộ quản lý và giảng viên về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin.

3.1. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng

Các trường đại học ngoài công lập cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin để hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Điều này bao gồm việc mua sắm phần cứng, phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin.

3.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Các trường đại học cần đào tạo cán bộ quản lý và giảng viên về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin.

IV. Kết luận và ứng dụng

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập là một phần quan trọng trong quá trình hiện đại hóa giáo dục. Các trường đại học cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và đào tạo cán bộ quản lý và giảng viên về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin.

4.1. Kết luận

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập đã trở thành một phần quan trọng trong quá trình hiện đại hóa giáo dục. Các trường đại học cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

4.2. Ứng dụng

Các trường đại học ngoài công lập cần ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý để nâng cao hiệu quả quản lý. Điều này bao gồm việc sử dụng phần mềm quản lý, xây dựng cơ sở dữ liệu và áp dụng các công nghệ mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI Ứng dụng CNTT trong quản lý đại học đã đƣợc các nƣớc phát tiển trên thế giới nghiên cứu từ những năm 90 của thế k trƣớc. Họ cho rằng CNTT đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ hữu hiệu để giảng dạy cũng nhƣ quản lý trong giáo dục. Vì vậy, CNTT đƣợc nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ tại các nƣớc phát triển khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ và những nƣớc thuộc châu Á nhƣ Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia, Ấn Độ.

Trên thế giới, đặc biệt là ở các nƣớc phát triển nhƣ Pháp, Mỹ, Anh, Nhật Bản, rất chú trọng về vấn đề ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nó là một trong những động lực chính thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Và nhiều quốc gia đã x y dựng chiến lƣợng ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục đại học. Đối với các nƣớc trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng, việc ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục và đào tạo đƣợc thực hiện chƣa đồng bộ.

Các nƣớc nhƣ Úc, Hàn Quốc và Singapore, Bộ Giáo dục của họ đã hình thành một quốc gia CNTT trong chính sách giáo dục với sự đầu tƣ rất quy mô về tài chính. Với mục tiêu tích hợp CNTT vào quá trình quản lý nhằm xây dựng trƣờng học thông minh. Đối với các nƣớc nhƣ Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Malaysia, Philippines, Ấn Độ. chính sách phát triển CNTT trong giáo dục đƣợc liên kết với chính sách và kế hoạch tổng thể về CNTT của quốc gia.

(1) Tại Singapore năm 1981, đã thông qua đạo luật về tin học hóa quốc gia quy định ba nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ dạy tin học ở trƣờng phổ thông; ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý trƣờng học. 8 (2) Năm 1989, tại Philippin chiến lƣợc phát triển CNTT quốc gia đã đƣợc ông bố. Bản chiến lƣợc xác định: công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất nƣớc và học tin học, ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy. (3) Ở Đài Loan Kế hoạch 10 năm phát triển CNTT đã đƣợc công bố năm 1980.

Hay ở Australia, năm 2000 hội đồng Bộ trƣởng đã ủng hộ hƣớng đi đƣợc trình bày trong tài liệu “cơ cấu phát triển thúc đẩy ứng dụng CNTT, quản lý ứng dụng CNTT” (4) Năm 2009, tại Hội nghị Á – Âu về học tập suốt đời tổ chức tại Nha Trang, Việt Nam đã thống nhất phối hợp nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời cho mọi ngƣời. Năm 2010 diễn đàn về học tập suốt đời tổ chức tại Hà Nội, các đại biểu đến từ Đan Mạch, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. cũng đã có nhiều báo cáo ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục. Ngày nay, vấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục và đào tạo đã đƣợc hầu hết các nƣớc trên thế giới quan tâm.

Tại hội nghị Bộ trƣởng các nƣớc Châu Á- Thái Bình Dƣơng APEC đã đề cập đến "Giáo dục không biên giới" mà vai trò của CNTT là khâu then chốt. Ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục sẽ hỗ trợ đắc lực cho những cán bộ quản lý. (5) Năm 1991, VeronicaMc Givney và Frances Murray đã đề ra các biện pháp tiến hành trong quá trình DH nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HV lớn tuổi bao gồm: biên soạn và cấu trúc nội dung tài liệu học phù hợp, cung cấp tài liệu tra cứu, tăng cƣờng các TBDH hiện đại kết hợp với việc thiết kế các TBDH đơn giản rẻ tiền ở địa phƣơng, tăng cƣờng tự học ở trên lớp và ở nhà.Tinnio năm 2003 đã viết cuốn sách “Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục” [164]. Cuốn sách này đƣợc trình bày trong dung lƣợng 49 trang và chia làm 5 phần khác nhau, trong đó: 9 Phần 1: Định nghĩa thuật ngữ Phần 2: Triển vọng của ICT đối với giáo dục Phần 3: Sử dụng ICT trong giáo dục Phần 4: Những vấn đề về sử dụng ICT trong giáo dục Phần 5: Những thách thức trong việc lồng ghép ICT vào giáo dục.

Với cách trình bày khoa học, lô gic dựa trên 5 phần trên, công trình đã các Khái quát rõ nét trên các khía cạnh: Thứ nhất, những ích lợi tiềm năng của việc sử dụng CNTT và truyền thông trong giáo dục và các cách ứng dụng CNTT và truyền thông khác nhau đã đƣợc sử dụng trong giáo dục từ trƣớc đến nay. Thứ hai, đặt ra bốn vấn đề cơ bản trong việc sử dụng CNTT và truyền thông trong giáo dục là tính hiệu quả, chi phí, sự hợp lý và tính ổn định. Thứ ba, những thách thức quan trọng mà các nhà hoạch định chính sách ở các nƣớc đang phát triển cần lƣu ý khi đƣa ra các quyết định về việc ứng dụng CNTT và truyền thông vào giáo dục, đó là các vấn đề chính sách, quy hoạch giáo dục, cơ sở hạ tầng, quy mô x y dựng, ngôn ngữ, nội dung, và vốn cấp [164]. (7) Jeannette Vos – Gorden Dryden (2004), trong cuốn Cách mạng học tập những yếu tố và phƣơng pháp để học tập tốt có nói đến vai trò mới của những phƣơng tiện liên lạc điện tử: “Chính sự kết hợp Internet, máy tính và cách mạng trang Web, thế giới đang đƣợc định hình lại toàn bộ thế hệ, thậm chí còn mạnh mẽ hơn so với trƣớc đ y khi báo chí, in ấn, radio và TV đã tạo ra”.

Tác giả còn đề cập đến vai trò của máy vi tính đối với GV và NH: “Máy vi tính với công nghệ tiên tiến cao có khả năng phục vụ những ngƣời thầy phụ đạo và nhƣ những thƣ viện, cung cấp thông tin và ý kiến phản hồi nhanh chóng cho từng ngƣời học”[163]. Có thể nói, cuốn sách Cách mạng học tập những yếu tố và phƣơng pháp để học tập tốt đã đƣợc hai tác giả nổi tiếng (Jeannette Vos và Gorden Dryden) 10 đƣa ra thông điệp: Chúng ta cần có một cuộc cách mạng về học tập để tƣơng xứng với cuộc cách mạng tri thức. (8) Nghiên cứu việc ứng dụng CNTT đảm bảo ph hợp với chiến lƣợc phát triển giáo dục, cũng nhƣ đặc th ở một quốc gia nhất định, nhóm 3 tác giả Sharmela Devi, Mohammad Ziwaan, Shubash Chander trong bài viết “Information and communication technology for quality education in India - Công nghệ thông tin và truyền thông cho chất lượng giáo dục ở Ấn Độ” [159] đã nhấn mạnh việc ứng dụng CNTT và truyền thông trực tiếp n ng cao chất lƣợng giáo dục chính quy và không chính quy; trong phát triển nội dung giáo dục, quản lý giáo dục. Các tác giả khẳng định: “CNTT và truyền thông là một trong những thành phần không thể thiếu ở xã hội đƣơng đại trong tất cả các cấp học ở Ấn Độ.

Tiếp cận CNTT và truyền thông trong giai đoạn đầu của nền giáo dục sẽ giúp cho thế hệ trẻ đối diện với những gì ở phía trƣớc” [159, tr. Chỉ ra mối quan hệ giữa CNTT với giáo dục, tác giả Seyling Wen có công trình “Công nghệ thông tin và nền giáo dục trong tương lai” [100]. Trong công trình này, tác giả đã khẳng định rằng nhận thức việc đổi mới giáo dục không còn là một khẩu hiệu, mà là những hành động cụ thể. Hiên nay cả thể giới đã đi vào cuộc cải cách giáo dục với mục tiêu là giáo dục trở thành nền tảng căn bản nhất trong thế k 21.

Đặc biệt, trong thế k này, CNTT và truyền thông đã tạo ra sự biến đổi xã hội một cách s u sắc, toàn diện thì giáo dục không thể nằm ngoài sử tác động của nó. CNTT và truyền thông đã làm thay đổi mạnh mẽ cách thức dạy, học và quản lý. Vì vậy, mọi tổ chức cá nh n giáo dục có thể chọn cách thức hiệu quả nhất đối với công việc cụ thể [100]. Đề cập trực tiếp đến vai trò của CNTT và truyền thông đối với giáo dục hiện nay, tác giả Sukanta Sarkar thuộc Khoa quản lý Trƣờng Đại học ICFAL của Ấn Độ trong bài viết “The Role of Information and Communication Technology (ICT) in Higher Education for the 21st- Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục đại học của thế kỷ 11 21” [161] cho rằng CNTT và truyền thông đã tác động vào thực tiễn giáo dục, góp phần tăng trƣởng đáng kể cho các hoạt động giáo dục đại học Và vấn đề dạy học trực tuyến đã phát triển phổ biến và đƣợc thực hiện mạnh mẽ thông qua hệ thống CNTT.

Công cụ này đã giúp cho sinh viên gặp bớt đƣợc nhiều khó khăn để đến trƣờng do: Việc làm, trách nhiệm gia đình, vấn đề sức khỏe, về thời gian, thì giáo dục trực tuyến là lựa chọn duy nhất cho họ. Hệ thống đào tạo trực tuyến này đã thành công trong một số trƣờng ở Ẩn Độ và các trƣờng đại học ở các nƣớc khác nhƣ: Đại học Phoenix, Đại học Athabasca Canada , Đại học Harvard và Đại học Toronto. Tác giả Sukanta Sarkar nhận thấy, trong những vấn đề phát triển tiềm năng giáo dục, UNESCO đã đóng một vai trò quan trọng, tiên phong đƣa ra sáng kiến để triển khai, tận dụng tiềm năng của CNTT. Tại hội nghị Dakar về chƣơng trình Giáo dục cho tất cả mọi ngƣời do UNESCO tổ chức; Sukanta Sarkar 2007 đã phát biểu xem việc tích hợp CNTT trong giảng dạy và học tập là vấn đề quan trọng trong đổi mới giáo dục đại học, đồng thời xem CNTT nhƣ là công cụ không thể thiếu trong xã hội tri thức; và nó phải đƣợc xem nhƣ là "Một khía cạnh thiết yếu của bộ công cụ văn hóa giảng dạy trong thế k XXI”.

Đồng thời, tác giả lƣu ý về bốn vấn đề khi đƣa CNTT vào hoạt động giảng dạy: Một là, sử dụng công nghệ cần phải xem xét nhu cầu của ngƣời học và vấn đề nội dung; Hai là, không áp đặt hệ thống công nghệ từ trên xuống dƣới mà phải thông qua ngƣời dạy và ngƣời học; Ba là, áp dụng nội dung từ các khu vực, quốc gia khác phải t y cơ ứng biến cho ph hợp với thực trạng; Bốn là, x y dựng nội dung, thiết kế bài giảng phải ph hợp với công nghệ sử dụng. Từ các vấn đề trên cho thấy, trong thực tiễn giáo dục, CNTT đã thể hiện vai trò mạnh mẽ trong mở rộng hoạt động đào tạo ở các nƣớc trên thế giới; và nhờ ứng dụng mạnh mẽ ICT đã làm tăng trƣởng hệ thống giáo dục đại học ở Ấn Độ[161].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ