Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP 1. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP 1. Một số nội dung cơ bản về trái phiếu doanh nghiệp 1. Khái niệm về trái phiếu Trái phiếu là một chứng chỉ vay nợ phản ánh quan hệ giữa người đi vay (chủ thể phát hành trái phiếu) với người cho vay (chủ sở hữu trái phiếu); trong đó chủ thể phát hành trái phiếu cam kết trả cho người chủ sở hữu trái phiếu một số tiền nhất định, vào những khoảng thời gian nhất định, và phải trả lại tiền gốc khi khoản tiền vay đến hạn.
Trái phiếu là loại chứng khoán nợ thông thường có tính chất trung hạn và dài hạn, chủ thể phát hành trái phiếu với tư cách là người đi vay, người mua trái phiếu là người cho vay và được gọi là trái chủ [27]. Trái phiếu phản ánh các quan hệ vay mượn, sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay, trên nguyên tắc hoàn trả và nó không chỉ đơn thuần là một hình thức vận động về tiền tệ mà còn là mối quan hệ về xã hội (như mối quan hệ về lòng tin). So với một số hình thức tín dụng khác thì trái phiếu ra đời muộn hơn và phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển. Trên thị trường, trái phiếu có nhiều loại khác nhau và có thể được phát hành dưới dạng chứng chỉ vật chất hay phi vật chất (bút toán ghi sổ hay điện tử) và dù tồn tại ở hình thức nào thì chúng đều phải bao gồm những nội dung như sau: Mệnh giá hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu, là giá trị được ghi trên trái phiếu.
Giá trị này được gọi là vốn gốc. Mệnh giá trái phiếu là căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay (lợi tức trái phiếu) mà chủ thể phát hành trái phiếu phải trả. Mệnh giá cũng thể hiện số tiền mà chủ thể phát hành trái phiếu phải hoàn trả cho người sở hữu trái phiếu khi trái phiếu đáo hạn. 12 Lãi suất danh nghĩa là lãi suất được ghi trên trái phiếu hoặc do chủ thể phát hành trái phiếu công bố được gọi là lãi suất danh nghĩa.
Lãi suất này thường được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) so với mệnh giá của trái phiếu và cũng là một trong những căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu. Thời hạn của trái phiếu (Kỳ hạn của trái phiếu) là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày chủ thể phát hành trái phiếu hoàn trả tiền vốn lần cuối cho người sở hữu trái phiếu. Trái phiếu ngắn hạn thông thường có thời hạn 1 năm trở xuống, trái phiếu trung hạn có kỳ hạn từ trên một năm đến dưới 5 năm, trái phiếu dài hạn có kỳ hạn từ 5 năm trở lên. Kỳ hạn trái phiếu có ý nghĩa rất quan trọng vì lợi tức trái phiếu phụ thuộc vào thời hạn của nó.
Ngoài ra, kỳ hạn trái phiếu càng dài, tính biến động giá trái phiếu càng lớn trước sự biến động của lãi suất thị trường. Do vậy, biến động của giá trái phiếu phụ thuộc vào kỳ hạn của trái phiếu. Ngày mà khoản vốn gốc trái phiếu được thanh toán lần cuối được gọi là ngày đáo hạn của trái phiếu. Kỳ trả lãi là khoảng thời gian chủ thể phát hành trái phiếu phải trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu.
Lãi suất trái phiếu thường được xác định theo năm, tuy nhiên kỳ trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu có nhiều loại: trả lãi trước (trả lãi vào thời điểm phát hành trái phiếu), trả lãi khi trái phiếu đáo hạn (chủ thể phát hành trái phiếu phải thanh toán cả tiền gốc và lãi vào thời điểm đáo hạn), trả lãi theo những kỳ hạn nhất định (có thể là 6 tháng - theo thông lệ quốc tế, 1 năm…). Giá phát hành là giá bán của trái phiếu vào thời điểm phát hành. Tùy theo tình hình của thị trường vào thời điểm phát hành và khả năng tài chính của chủ thể phát hành trái phiếu để xác định giá phát hành một cách hợp lý nhằm đảm bảo đợt phát hành đạt kết quả. Có thể phân biệt ba trường hợp: giá phát hành bằng mệnh giá; giá phát hành dưới mệnh giá; và giá phát hành trên mệnh giá.
Tại các nước có nền kinh tế phát triển, thị trường chứng khoán phát triển, người ta phát hành nhiều loại trái phiếu khác nhau để huy động vốn. Căn cứ theo chủ thể phát hành, trái phiếu gồm có trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính quyền địa phương và trái phiếu doanh nghiệp. 13 Bản thân TPDN cũng có nhiều tiêu thức phân loại khác nhau, đồng thời cũng mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của trái phiếu thông thường (một loại chứng khoán nợ). Trái phiếu doanh nghiệp a.
Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu doanh nghiệp Trên góc độ huy động vốn của các doanh nghiệp, bên cạnh phát hành cổ phiếu và vay ngân hàng thương mại - hình thức tín dụng truyền thống, huy động vốn qua hình thức phát hành trái phiếu đang là một phương thức được lựa chọn nhiều. Trên thực tế, có nhiều khái niệm về trái phiếu doanh nghiệp, đơn cử: TPDN là loại trái phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị hoặc các mục đích khác. Đối với chủ thể phát hành, TPDN là một khoản vay trong đó tổ chức phát hành là người đi vay, còn người mua trái phiếu là người cho vay [26]. Trái phiếu doanh nghiệp là một khoản vay thể hiện cam kết thanh toán gốc và lãi của DN cho người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) theo các điều khoản và điều kiện trái phiếu [27].
Về phía văn bản quản lý của Nhà nước, Nghị định số 90/2011/NĐ-CP quy định: “TPDN là loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc, lãi và các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu trái phiếu” [9]. Nhìn chung các khái niệm về TPDN đều cho rằng, TPDN là một hình thức nhằm huy động vốn của doanh nghiệp với các hình thức dưới hình thức là các chứng chỉ, bút toán, ghi sổ; thể hiện các cam kết nhất định giữa các bên về việc thực hiện hợp đồng như thanh toán lợi tức, trả lại tiền gốc, hay chuyển đổi thành cổ phiếu. Theo nghiên cứu sinh có thể hiểu rằng: TPDN là một loại chứng khoán do doanh nghiệp phát hành thể hiện sự cam kết của DN thanh toán số lợi tức, tiền gốc và các nghĩa vụ khác vào những thời gian xác định cho người nắm giữ trái phiếu. Ngoài những đặc điểm cơ bản của một trái phiếu thông thường, TPDN còn có các đặc trưng sau: 14 Đặc điểm cơ bản của TPDN bao gồm: Cam kết của tổ chức phát hành Trái phiếu phản ánh các quan hệ vay mượn, sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay (tổ chức phát hành) và người cho vay (người mua trái phiếu), trên nguyên tắc hoàn trả và nó không chỉ đơn thuần là một hình thức vận động về tiền tệ mà còn là mối quan hệ về xã hội như mối quan hệ về lòng tin.
Chủ thể phát hành là các doanh nghiệp (công ty) hoặc các định chế tài chính hoạt động theo quy định của luật doanh nghiệp và pháp luật hiện hành. Chủ thể phát hành trái phiếu cam kết trả một tỷ lệ phần trăm nhất định tính trên mệnh giá trái phiếu vào các ngày ấn định (trả lãi coupon - cuống trái phiếu) và trả lại mệnh giá trái phiếu vào ngày đáo hạn. Thông thường thời hạn trả lãi trái phiếu được qui định một năm một lần, hoặc nửa năm một lần. Trường hợp công ty phát hành không thực hiện được nghĩa vụ chi trả tiền gốc hoặc lãi khi đến hạn thanh toán, điều này có thể dẫn đến sự vỡ nợ về mặt pháp lý và do đó các nhà đầu tư có thể kiện công ty ra toà để yêu cầu thực hiện hợp đồng.
Bản giao kèo Cam kết của chủ thể phát hành trái phiếu công ty và quyền lợi của người đầu tư, những người mua trái phiếu được trình bày một cách chi tiết trong những hợp đồng được gọi là bản giao kèo phát hành trái phiếu. Bản giao kèo là một thoả thuận pháp lý giữa tổ chức phát hành và các trái chủ, trong đó nêu lên các quyền cơ bản của một trái chủ như: lãi suất coupon (lãi suất không đổi) được hưởng, thời gian thanh toán lãi, phương thức mua lại trái phiếu (nếu có) và các điều khoản khác. Trên thực tế, bản giao kèo có thể đặt ra những hạn chế trong hoạt động của công ty trong tương lai. Thông thường, những hạn chế này có tác dụng đảm bảo khả năng thanh toán của tổ chức phát hành, củng cố vị thế của người chủ sở hữu trái phiếu.
Có thể là việc hạn chế phát hành thêm các công cụ nợ của công ty, hạn chế việc chi trả cổ tức đối với các cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, ngăn chặn công ty bán các tài sản có giá trị lớn, sáp nhập với các công ty khác hoặc thay đổi căn bản tính chất kinh doanh của công ty. 15 Người được uỷ thác Khi huy động bằng phát hành trái phiếu, một vướng mắc mà các công ty gặp phải trong quá trình huy động đó là trình độ của người đầu tư. Không phải lúc nào tất cả các trái chủ đều là những người có chuyên môn để hiểu được thấu đáo bản giao kèo một cách đầy đủ cũng như khó có điều kiện để giám sát việc tuân thủ các giao kèo của nhà phát hành. Về phần mình, với chủ thể phát hành trái phiếu họ không thể tập hợp từng hợp đồng riêng biệt với từng trái chủ.
Chính vì vậy, cần có sự tham gia của bên thứ ba là người được uỷ thác - đại diện sở hữu trái phiếu. Bản giao kèo được lập chung cho tất cả các trái chủ thông qua người uỷ thác với tư cách đại diện chung cho quyền lợi của các trái chủ. Trên thực tế, tổ chức phát hành thường phải trả một khoản phí cho những người được uỷ thác - các tổ chức như: các ngân hàng đầu tư, ngân hàng thương mại có uy tín, các công ty chứng khoán nhận làm người được uỷ thác. Phân loại trái phiếu doanh nghiệp * Căn cứ theo lãi suất trái phiếu Căn cứ vào lãi suất trái phiếu, TPDN được chia thành các loại sau đây: Trái phiếu có lãi suất cố định là loại trái phiếu mà lãi suất được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) cố định trên mệnh giá.