Luận án Tiến sĩ: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Luận án tiến sĩ kinh tế đi sâu phân tích đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ theo hướng phát triển bền vững, cung cấp kiến

Chuyên ngành

Kinh tế học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2014

185
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và Vĩnh Phúc. Đây là khu vực có vị trí chiến lược, thu hút lượng lớn vốn FDI. Phát triển bền vững trong thu hút FDI đòi hỏi sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu này phân tích toàn diện thực trạng thu hút FDI theo hướng bền vững tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Các tiêu chí đánh giá bao gồm hiệu quả kinh tế, tác động xã hội và tác động môi trường. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thu hút FDI chất lượng cao, gắn liền với phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi cơ chế chính sách phù hợp và đồng bộ từ trung ương đến địa phương.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững

Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững là hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam, đảm bảo hài hòa ba yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường. Đặc điểm nổi bật là dự án FDI phải tạo ra giá trị gia tăng cao, sử dụng lao động địa phương có hiệu quả, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đồng thời, các dự án phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về bảo vệ môi trường, ứng dụng công nghệ thân thiện. Phát triển bền vững còn đòi hỏi tác động lan tỏa tích cực đến doanh nghiệp trong nước và cộng đồng địa phương.

1.2. Vai trò của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trong thu hút FDI bền vững

Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ giữ vị trí then chốt trong thu hút FDI bền vững của cả nước. Khu vực này tập trung nhiều đô thị lớn, cơ sở hạ tầng hiện đại, nguồn nhân lực dồi dào. Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa. Hải Phòng có cảng biển quốc tế. Quảng Ninh sở hữu tài nguyên du lịch phong phú. Bắc Ninh, Hải Dương phát triển mạnh công nghiệp chế tạo. Sự liên kết vùng tạo lợi thế cạnh tranh thu hút dự án FDI chất lượng cao. Vùng này đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng vốn FDI toàn quốc, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

II. Phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Thực trạng thu hút FDI vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ giai đoạn 2003-2011 cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tồn tại hạn chế. Về kinh tế, vốn FDI đăng ký tăng trưởng mạnh qua các năm, tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo. Tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng đạt cao hơn bình quân cả nước. Về xã hội, khu vực FDI tạo ra nhiều việc làm mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động có tay nghề cao còn thấp. Về môi trường, một số dự án FDI gây ô nhiễm, chưa tuân thủ đầy đủ quy định bảo vệ môi trường. Chất lượng và hiệu quả tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng. Tác động lan tỏa đến doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Việc chuyển giao công nghệ chậm, chủ yếu là công nghệ trung bình. Các chỉ số phát triển xã hội chưa đạt kỳ vọng đặt ra cho vùng kinh tế trọng điểm.

2.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế của FDI theo hướng phát triển bền vững

Hiệu quả kinh tế của FDI vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu. Tổng vốn FDI đăng ký tăng trưởng liên tục, đạt tỷ trọng cao trong tổng vốn cả nước. Năng suất lao động trong khu vực FDI cao hơn khu vực trong nước. Đóng góp của FDI vào ngân sách nhà nước ngày càng tăng. Tuy nhiên, giá trị gia tăng nội địa còn thấp, nhập khẩu nguyên liệu lớn. Hiệu quả sử dụng đất đai chưa cao, nhiều dự án chiếm diện tích lớn nhưng hiệu quả kinh tế thấp. Cần nâng cao yêu cầu về hàm lượng công nghệ và tỷ lệ nội địa hóa trong các dự án FDI mới.

2.2. Tác động xã hội và môi trường của FDI đến vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Tác động xã hội của FDI thể hiện qua tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Khu vực FDI thu hút lượng lớn lao động từ nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên, chất lượng việc làm chưa cao, tiền lương thấp hơn so với doanh nghiệp nhà nước. Về môi trường, một số ngành công nghiệp gây ô nhiễm nặng như dệt nhuộm, sản xuất thép. Công tác giám sát, kiểm tra chưa chặt chẽ. Thiếu cơ chế xử lý vi phạm nghiêm minh. Cần tăng cường đánh giá tác động môi trường trước khi cấp phép dự án. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về nguy cơ ô nhiễm từ FDI.

III. Giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Nhằm đẩy mạnh thu hút FDI theo hướng phát triển bền vững, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư, chuyển từ ưu đãi đại trà sang ưu đãi có chọn lọc theo ngành, lĩnh vực. Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài. Thứ ba, phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, kết nối liên vùng. Thứ tư, tăng cường bảo vệ môi trường, yêu cầu dự án FDI áp dụng công nghệ sạch. Thứ năm, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Thứ sáu, cải cách thủ tục hành chính, minh bạch hóa môi trường đầu tư. Các giải pháp cần được triển khai theo lộ trình cụ thể, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

3.1. Hoàn thiện chính sách thu hút FDI chất lượng cao gắn với phát triển bền vững

Chính sách thu hút FDI cần chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng chọn lọc chất lượng. Xây dựng danh mục dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư phù hợp với lợi thế từng địa phương. Áp dụng tiêu chí đánh giá dự án FDI toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trường. Hoàn thiện hệ thống ưu đãi đầu tư theo hướng khuyến khích dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực. Xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ hiệu quả FDI. Đẩy mạnh cải cách hành chính, rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư.

3.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh và liên kết phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm

Nâng cao năng lực cạnh tranh vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, logistics kết nối liên vùng. Xây dựng chuỗi cung ứng hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đào tạo nghề, hợp tác đại học - doanh nghiệp. Thúc đẩy liên kết giữa các địa phương trong vùng, tránh cạnh tranh nội bộ. Xây dựng thương hiệu điểm đến đầu tư hấp dẫn. Tăng cường hợp tác công tư trong phát triển hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp FDI.

IV. Kết luận và định hướng phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của FDI trong phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Thực tế cho thấy thu hút FDI theo hướng bền vững đòi hỏi sự cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có nhiều lợi thế thu hút FDI chất lượng cao. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại về hiệu quả sử dụng vốn, tác động môi trường và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Định hướng phát triển giai đoạn tới cần tập trung vào thu hút FDI có chọn lọc, nâng cao giá trị gia tăng nội địa. Tăng cường chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực. Bảo vệ môi trường là yêu cầu bắt buộc. Liên kết vùng cần được tăng cường để phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh. Thành công của mô hình FDI bền vững sẽ là tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

4.1. Định hướng thu hút FDI giai đoạn 2011 2020 theo hướng bền vững

Định hướng thu hút FDI giai đoạn 2011-2020 tập trung vào chất lượng thay vì số lượng. Ưu tiên dự án công nghệ cao, công nghệ nguồn, thân thiện môi trường. Chuyển dịch cơ cấu FDI theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ chất lượng cao, giảm dần gia công lắp ráp đơn giản. Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, thúc đẩy liên kết giữa FDI và doanh nghiệp trong nước. Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhà đầu tư. Xây dựng hệ thống đánh giá tác động bền vững toàn diện. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, chuyển giao công nghệ.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn phát triển vùng kinh tế trọng điểm

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực thực tiễn. Cơ quan quản lý sử dụng để xây dựng chính sách thu hút FDI hiệu quả hơn. Doanh nghiệp tham khảo để định hướng hợp tác, liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài. Đào tạo nguồn nhân lực được cải thiện dựa trên phân tích nhu cầu thị trường. Hệ thống tiêu chí đánh giá FDI bền vững áp dụng rộng rãi tại các khu công nghiệp. Mô hình liên kết vùng được nhân rộng cho các khu kinh tế trọng điểm khác. Nghiên cứu đóng góp vào lý luận phát triển bền vững với FDI tại Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA CÁC TÁC GIẢ NGOÀI NƯỚC 1. Những công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến tăng trưởng kinh tế Đây là nội dung nghiên cứu được nhiều học giả nước ngoài quan tâm nhiều nhất và có nhiều công trình nghiên cứu nhất. Tiêu biểu cho nhóm nghiên cứu này bao gồm: Nghiên cứu của De Mello (1999) lấy mẫu ở 16 nước phát triển và 17 nước đang phát triển, ông đã chỉ ra rằng: FDI ròng có hiệu quả tích cực và quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế thời kỳ 1970 - 1990.

Song, đối với các nước đang phát triển thì FDI có tác động đến tăng trưởng kinh tế lớn hơn, còn đối với các nước phát triển thì nhỏ hơn. Nghiên cứu của Campos và Kionoshita (2002) với mẫu nghiên cứu nhỏ hơn, bao gồm 25 nước Trung và Đông Âu, cùng các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi thuộc Liên Xô cũ, các tác giả cho rằng "FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi". Bởi vì, tại các nước đang chuyển đổi có quá trình CNH diễn ra mạnh mẽ hơn và họ có lực lượng lao động được đào tạo tốt hơn. Nghiên cứu của các học giả Berthelemy và Demurger (2000); Graham và Wada (2001) và Buckey et al (2002), sử dụng số liệu FDI phân theo địa phương của Trung Quốc cho thấy, FDI đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các tỉnh.

Các tỉnh ven biển, nơi thu hút phần lớn FDI của Trung Quốc đã sử dụng FDI có hiệu quả hơn so với các tỉnh khác. Nghiên cứu của Blomstrom et al (1992) chia các nước đang phát triển thành hai nhóm, đó là: các nước có thu nhập thấp hơn và các nước có thu nhập cao hơn. Ông nhận xét, FDI chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước có thu nhập cao hơn. Tác giả kết luận, nước tiếp nhận đầu tư chỉ được hưởng lợi từ FDI, khi đạt được mức độ phát triển nhất định, để có thể tiếp thu được công nghệ mới.

Nói cách khác, mức thu nhập là điều kiện tiên quyết cho sự ảnh hưởng tích cực của FDI đến tăng trưởng kinh tế. Dưới mức thu nhập này, FDI hầu như không có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Borensztein et al (1995 - 1998) sử dụng số liệu của 69 nước đang phát triển giai đoạn 1970 - 1989 để hồi quy. Kết quả cho thấy FDI ròng chỉ có ảnh hưởng nhẹ đến tăng trưởng, nhưng khi sử dụng số nhân của FDI với trình độ của lực 7 lượng lao động làm biến độc lập thì biến này có hệ số dương và ý nghĩa thống kê.

Ông kết luận, FDI chỉ mang lại tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế khi nước nhận đầu tư có lực lượng lao động đạt đến trình độ nhất định. Dưới mức đó, FDI hầu như không có tác động đến tăng trưởng kinh tế. Borensztein et al (1995), Hermes và Lensink (2000) lại cho rằng, tốc độ tăng trưởng của các nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào khả năng tiếp nhận và hấp thụ công nghệ mới. Họ cũng đồng ý rằng sự đóng góp chính của FDI là thúc đẩy tiến bộ về công nghệ của nước sở tại.

Hermes và Lensink cho rằng, để khai thác tối đa hiệu quả của FDI, nước tiếp nhận đầu tư cần phát triển thị trường tài chính. Hệ thống tài chính cần phát triển đến một trình độ nhất định để huy động tiết kiệm, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư đổi mới công nghệ. Có như vậy, doanh nghiệp trong nước mới tận dụng được công nghệ từ các doanh nghiệp FDI nhiều hơn. Nghiên cứu của Ramirez (2000) sử dụng số liệu vốn FDI tích luỹ ước lượng đóng góp FDI đến tăng trưởng kinh tế của Mexico giai đoạn 1960 - 1995.

Ông thấy rằng, vốn FDI tác động tích cực đến xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế thông qua năng suất lao động. Ramirez (2000) đưa ra kết luận, để FDI tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì mới có thể tiếp nhận được công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý. Nghiên cứu của Li và Liu (2005) qua khảo sát 88 quốc gia có tiếp nhận FDI (bao gồm cả nước phát triển và đang phát triển) đã chỉ ra rằng, FDI và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau. Theo các tác giả FDI không những trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế, mà còn thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực và công nghệ.

Một điểm đáng lưu ý trong nghiên cứu này là, nước nhận FDI phải có nguồn nhân lực và công nghệ đạt tới trình độ nhất định. Nếu nước nhận FDI có trình độ nguồn nhân lực và công nghệ thấp hơn nước đầu tư thì sẽ tác động tiêu cực đến nước nhận FDI. Nghiên cứu của Buckley et al (2002) là một trong rất ít các nghiên cứu cho rằng FDI tác động đến tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với đầu tư trong nước của Trung Quốc. Nghiên cứu đi đến kết luận FDI không có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế bằng các nguồn vốn khác trong nước.

Khi nghiên cứu dòng vốn FDI của Hoa Kỳ đầu tư sang các nước đang phát triển, Nunnenkamp và Spatz (2003) đã đưa ra quan điểm rằng, FDI không có tác động đáng kể nào đến tăng trưởng kinh tế ở các nước tiếp nhận đầu tư, thậm chí FDI còn có tác động tiêu cực. Đặc biệt ở các quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, trình độ lực lượng lao động không cao, độ mở cửa nền kinh tế thấp thì càng thu hút nhiều FDI càng ảnh hưởng xấu đến chất lượng tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu của 8 Buckley et al 2002 cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Dutt (1997), khi ông kiểm định về hiệu quả của FDI đầu tư từ các nền kinh tế phương Bắc vào các nền kinh tế phương Nam. Những công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến đầu tư và khả năng tích lũy vốn Trong các lý thuyết kinh tế Tân cổ điển và lý thuyết tăng trưởng mới, tích luỹ vốn đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.

Sự khan hiếm vốn được giả định là một trở ngại lớn trong quá trình phát triển, mà các nước đang phát triển gặp phải. Vấn đề này phát sinh từ sự khác biệt giữa tiết kiệm và đầu tư. Bởi vì, nước đang phát triển thường có mức thu nhập thấp và mức độ tiết kiệm thấp, do đó, không đáp ứng nhu cầu đầu tư của họ (Reuber 1973; Solow 1956; Rostow 1971; Hirschman 1963; và UNCTAD 1992). Do đó, FDI có thể làm giảm bớt những khó khăn tài chính và có những đóng góp đáng kể cho quá trình tích tụ vốn trong các quốc gia đang phát triển.

Các nghiên cứu thực nghiệm cũng khẳng định giả thuyết rằng FDI có tác động tích cực đến sự hình thành vốn đầu tư. Agrawal (2000) sử dụng số liệu của các nước Nam Á trong giai đoạn từ năm 1960 và 1996 để phân tích các yếu tố quyết định đến tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư tại các nước này. Kết quả cho thấy rằng yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tỷ lệ đầu tư của các nước này là tỷ lệ FDI ròng/GDP. Cụ thể, tỷ lệ FDI ròng/GDP tăng 1% sẽ mang lại tỷ lệ đầu tư trên GDP tăng 1,81%.

Đặc biệt, khi sử dụng biến trễ để kiểm định tác động lâu dài của FDI đối với đầu tư trong nước, ông đã tìm ra kết quả là tỷ lệ FDI ròng/GDP tăng lên 1% sẽ dẫn đến tỷ lệ đầu tư trên GDP tăng hơn 5%. Tuy nhiên, tỷ lệ đầu tư vào các nước Nam Á vẫn còn thấp và nguồn vốn FDI được cho là ít có tác dụng hơn nguồn vốn trong nước. Giống như Agrawal (2000), Krkoska (2001) cũng tìm thấy FDI có tác động tích cực đến sự hình thành tổng vốn đầu tư trong nước. Krkoska (2001) ước tính tác động của FDI vào tổng vốn cố định bằng cách sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng từ 25 nền kinh tế chuyển đổi, giai đoạn 1989 - 2000.

Kết quả cho thấy khi FDI tăng 1% sẽ làm tăng 0,7% tổng vốn cố định, trong khi một phần trăm tăng vốn hoá thị trường vốn, kết quả tín dụng trong nước tăng 0,2 phần trăm hoặc ít hơn 0,1 phần trăm, tương ứng, tăng hình thành tổng vốn cố định. Ông kết luận rằng vốn FDI, tín dụng trong nước và thị trường vốn trong nước là tất cả các nguồn tài chính quan trọng để hình thành vốn. Ngoài ra, FDI có tác động đáng kể trong quá trình hình thành vốn của nước chủ nhà hơn là tín dụng tài chính trong nước và thị trường vốn. Agosin và Maver (2000) đặt câu hỏi liệu FDI vào các nước đang phát triển sẽ thúc đẩy hay kìm hãm sự hình thành nguồn vốn đầu tư trong nước.

Họ phát triển một 9 mô hình lý thuyết đầu tư trong đó có biến vốn FDI và sau đó kiểm định nó với các bảng dữ liệu từ 32 quốc gia của ba khu vực đang phát triển (Châu Phi, Châu Á và Mỹ Latinh). Các số liệu của giai đoạn 1970 - 1996 và hai giai đoạn ngắn là 1976 - 1985 và 1986 - 1999. Kết quả cho thấy rằng ở châu Á, nguồn vốn FDI đã có tác động mạnh mẽ đến đầu tư trong nước. Tuy nhiên, nguồn vốn này lại làm ảnh hưởng tiêu cực tới đầu tư trong nước ở châu Mỹ Latinh trong toàn bộ thời kỳ 1970 - 1996, cũng như trong cả hai giai đoạn ngắn.

Khi tỷ lệ FDI/GDP tăng một điểm phần trăm sẽ làm cho tỷ lệ đầu tư trong nước/GDP giảm 0,14 điểm phần trăm (giai đoạn 1970 - 1996) và 1,22 điểm phần trăm (giai đoạn 1976 - 1985). Razin (2002) sử dụng phương pháp kinh tế lượng để đánh giá sự tác động của FDI đến đầu tư trong nước. Mẫu nghiên cứu của ông bao gồm 64 nước đang phát triển, trong khoảng thời gian 22 năm từ năm 1976 đến 1997. Tác giả thấy rằng, vốn FDI đóng vai trò quan trọng đối với đầu tư trong nước và tăng sản lượng đầu ra, hơn là các loại vốn khác, chẳng hạn như các khoản vay quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ