CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Một số công trình nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu trong nước đã đề cập đến vấn đề thu hút nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài vào phát triển kinh tế Việt Nam gồm: Vũ Hy Chương (1999), “Đánh giá, dự báo triển vọng và những giải pháp cơ bản tạo nguồn lực để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Vũ Hy Chương đã đặc biệt nghiên cứu sâu về nguồn lực trí thức của một số nhà lãnh đạo doanh nghiệp, lãnh đạo các Hiệp hội tiêu biểu, cũng như những trí thức Việt kiều đang nắm giữ những vị trí tương đối quan trọng các nhóm nước có đông kiều bào sinh sống gồm: Pháp, Cộng Hoà Liên Bang Đức, Tây Bắc Âu, Đông Âu, Liên Bang Nga, Mỹ, Canada, Thái Lan, Công hoà Dân chủ Nhân dân Lào, Capuchia, Các nước Châu Á, Nhật Bản, Australia.
Ông ghi nhận những đóng góp về nước của những trí thức tiêu biểu đó cùng với cộng đồng kiều bào Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến đã đồng thời liệt kê danh sách những trí thức tiêu biểu, kiều bào có vị trí tương đối quan trọng ở nước sở tại. Giải pháp mà Vũ Hy Chương đưa ra để thu hút nguồn lực tri thức này là: cần có cơ quan đầu mối từ phía Việt Nam tập hợp, quản lý và thẩm định những Việt kiều tiêu biểu này, cũng như những dự án có tính khả thi, những cá nhân tổ chức có năng lực thực hiện các dự án đó để phía người Việt Nam trong nước có thể tìm thấy nguồn lực phù hợp từ phía NVNONN. Đồng thời cũng giúp những ngươì Việt kiều yêu nước có thể yên tâm đầu tư trí tuệ và có thể là cả tiền bạc, công nghệ về Việt Nam để chung tay làm giàu cho bản thân và tổ quốc. Lương Hương Giang - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Trần Thị Hoàng Anh - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (2016), “Giải pháp tăng cường thu hút kiều hối cho đầu tư phát triển vùng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn và rau hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội”.
Nghiên cứu và đánh giá thực trạng của việc sản xuất và tiêu thụ rau an toàn và rau hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội. Lương Hương Giang và cộng sự đã xác định được: hiện tại, rau an toàn của Hà Nội đạt sản lượng 400 nghìn tấn/năm, đáp ứng 40% cầu thị trường Hà Nội. Như vậy còn một khoảng trống thị trường là 60% lượng cầu, có thể nói đây là một con số quá lớn để cho các tổ chức, cá nhân thỏa sức hoạt động và phát triển. Tuy Hà Nội đã xây dựng, phê duyệt đề án, quy hoạch phát triển sản xuất rau an toàn đến năm 2020, nhưng lại vấp phải nhiều khó khăn liên quan đến vấn đề về vốn đầu tư.
Cụ thể: (i) Việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ 13 rau an toàn vẫn được tiến hành thủ công, công nghệ bảo quản cũng như phương tiện vận chuyển còn thiếu và lạc hậu; (ii) Chi phí để mở cửa hàng, duy trì hoạt động của cửa hàng kinh doanh rau an toàn tại Hà Nội là rất lớn nên nhiều cửa hàng mở ra chỉ sau một thời gian lại phải đóng cửa do không đủ bù lỗ; (iii) Nguồn nhân lực, kinh phí cho công tác hướng dẫn, kiểm tra và kiểm nghiệm an toàn thực phẩm chưa đáp ứng yêu cầu; người tiêu dùng khó mua được rau an toàn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, người sản xuất chưa bán được rau an toàn theo đúng giá trị; (iiii) Thiếu kinh phí trong việc triển khai các dự án xây dựng hạ tầng xã hội cho kinh doanh và tiêu thụ rau an toàn như: chợ đầu mối, chợ dân sinh, bố trí điểm bán hàng hoặc hỗ trợ thuê cửa hàng bán rau an toàn riêng biệt. Hầu hết những khó khăn, bất cập đều liên quan đến vốn, nên nhóm tác giả đã hướng nghiên cứu vào một trong những kênh huy động vốn mà Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng có thể thu hút để tăng vốn cho các hoạt động đầu tư phát triển nông nghiệp sạch chính là từ dòng tiền kiều hối. Giải pháp được nhóm tác giả đề xuất đó là: (1) Cơ chế, chính sách thông thoáng; (2) Xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp thuận lợi; (3) Thay đổi nhận thức, tư duy trong việc sử dụng tiền kiều hối; (4) Thành lập quỹ kiều hối cho nông nghiệp; (5) Thúc đẩy liên kết đầu tư và hợp tác giữa DN trong nước và DN của Việt kiều. Lương Hương Giang (2016), “Kinh nghiệm của một số quốc gia trong thu hút, sử dụng kiều hối và bài học cho Việt Nam” - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Nghiên cứu kinh nghiệm của 3 nước điển hình là Ấn Độ, Trung Quốc, Phillipines tác giả đã tìm ra 4 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc thu hút dòng tiền này cho sự phát triển kinh tế đất nước, đó là: (1) xây dựng chính sách theo hướng cởi mở hơn nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện và động lực cho kiều bào gửi tiền về nước; (2) hình thành quỹ hỗ trợ sản xuất cho các doanh nghiệp nhỏ từ dòng tiền kiều hối; (3) xây dựng chiến lược thu hút nhân tài về nước; (4) chuyên nghiệp hóa hoạt động xuất khẩu lao động. Nguyễn Thị Thu Hà và Lê Quang Anh (2016), “Vấn đề kiều hối tại Việt Nam: nghiên cứu xét trên góc độ quản lý Nhà nước” - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Khác với Hoàng Đình Minh và Nguyễn Tiến Hùng (2016) khẳng định lượng kiều hối tăng đều khoảng 10% qua các năm nghiên cứu trong giai đoạn từ 2009 – 2015, thì Nguyễn Thị Thu Hà và Lê Quang Anh lại khẳng định rằng: “Thống kê tại Việt Nam giai đoạn 2010 đến nay (2015), kiều hối gửi về nước tăng trung bình trên 20%/năm. Tính đến thời điểm hiện tại (2015) có trên 3200 dự án của NVNONN đang đầu tư tại Việt Nam với số vốn khoảng 6 tỷ USD, trong đó trên 60% số dự án đang hoạt động hiệu quả.
Đầu tiên, Nguyễn Thị Thu Hà và Lê Quang Anh nghiên cứu sự tương tác cơ bản về kinh tế giữa người di cư và người thân và vẽ mô hình mối liên hệ như sau: 14 Hình 1.1: Tương tác cơ bản về kinh tế giữa người di cư và người thân Nguồn: tổng hợp của Nguyễn Thị Thu Hà và Lê Quang Anh, 2016 Tiếp đến, nhóm tác giả liệt kê Danh sách 10 quốc gia đang phát triển tiếp nhận kiều hối lớn nhất năm 2015 và vẽ biểu đồ sau: (Đơn vị: Tỷ USD) Hình 1.2: Danh sách 10 quốc gia đang phát triển tiếp nhận kiều hối lớn nhất năm 2015 Nguồn: tổng hợp của Nguyễn Thị Thu Hà và Lê Quang Anh, 2016 Cùng lúc, nhóm tác giả nghiên cứu, phân tích và xây dựng biểu đồ so sánh về tình hình kiều hối, ODA giải ngân, FDI thực hiện giai đoạn 2010 - 2015 tại Việt Nam dưới đây: 15 (Đơn vị: Tỷ USD) Hình 1.3: Tình hình kiều hối, ODA giải ngân, FDI thực hiện giai đoạn 2010 - 2015 tại Việt Nam Nguồn: tổng hợp của Nguyễn Thị Thu Hà và Lê Quang Anh Do xác định là nghiên cứu xem xét về vấn đề kiều hối và đầu tư tại Việt Nam trên góc độ quản lý Nhà nước, Nguyễn Thị Thu Hà và cộng sự đã vẽ mô hình mối liên hệ quản lý nhà nước về kiều hối như sau: NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KIỀU HỐI BỘ NGOẠI BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ GIAO XÃ HỘI Hình 1.4: Các bên tham gia vào công tác quản lý nhà nước về kiều hối tại Việt Nam Nguồn: tổng hợp của Nguyễn Thị Thu Hà và Lê Quang Anh Từ đó đưa ra một số gợi ý về chính sách quản lý kiều hối: (1) Gia tăng chính sách thu hút đầu tư dành cho kiều bào nói riêng; (2) Bố trí vốn mồi xây dựng cơ sở hạ tầng; (3) Phát hành các trái phiếu dành riêng cho đối tượng kiều bào; (4) Thành lập các quỹ đầu tư của kiều bào, kêu gọi đầu tư cho các công trình công cộng. 16 Phạm Văn Hùng và cộng sự (2016), “Một số giải pháp về chính sách nhằm thu hút kiều hối cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội Việt Nam”. Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng chính sách thu hút và sử dụng kiều hối tại Việt Nam, Phạm Văn Hùng và cộng sự đã chia các chính sách liên quan đến kiều hối thành hai nhóm: là nhóm chính sách về ngoại hối (có liên quan đến dòng chảy kiều hối) và nhóm chính sách liên quan đến môi trường đầu tư (ảnh hưởng đến mục tiêu và phương thức sử dụng kiều hối). Việc thu thập dữ liệu và đánh giá thực trạng dòng chảy kiều hối vào Việt Nam giai đoạn khá dài từ năm 2000 đến năm 2015 của nhóm tác giả là được thể hiện trong kết quả của bảng sau: Bảng 1.1: Dòng chảy kiều hối vào Việt Nam giai đoạn 2000 - 2015 Nguồn: Phạm Văn Hùng và cộng sự, 2016 Từ đó nhóm tác giả đã đề xuất 3 nhóm khuyến nghị giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút và sử dụng kiều hối trong thời gian tới bao gồm: (1) Các chính sách liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài; (2) Chính sách đối với lao động xuất khẩu; (3) Các chính sách liên quan đến môi trường đầu tư.
Bùi Thị Thu Hà (2011), “Phát huy vai trò của NVNONN đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay”- Học viện Chính trị - Hành chí Quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả Bùi Thị Thu Hà đã nghiên cứu công tác vận động, phát huy vai trò của cộng 17 đồng NVNONN trong giai đoạn 1986 – 2011. Nhận thức được cộng đồng NVNONN là một bộ phận không thể tách rời khối đại đoàn kết dân tộc, là đối tượng quan trọng trong công tác vận động, tập hợp, phát huy vai trò thông qua các minh chứng cụ thể về những đóng góp của bởi các hoạt động hướng về cội nguồn của cộng đồng NVNONN.