đặt vấn đề cần nghiên cứu hợp tác công tư cả về mặt lý luận, thực nghiệm và đặt trong bối cảnh của từng ngành, trong từng quốc gia cụ thể. Chính vì vậy, nghiên cứu hợp tác công tư trong các dự án cấp nước sạch đô thị ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh tới các hình thức triển khai, điều kiện thực hiện, cách 3 thức lựa chọn, hình thức chia sẻ rủi ro phù hợp là vấn đề bức thiết cả về lý luận và thực tiễn. Tổng quan công trình nghiên cứu 2. Tổng quan nghiên cứu về hợp tác công tư Hợp tác công tư được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trong các nghiên cứu trước, các lý luận vận dụng nghiên cứu về PPP được tổng hợp lại ở ba dạng chính: - PPP được nghiên cứu dưới góc độ chính sách công Một số nhà nghiên cứu coi PPP như một giải pháp hoặc phương án của chính sách công, và vì vậy họ nghiên cứu PPP từ góc độ của chính sách công (Grimsey and Lewis, 2004). Dưới góc độ này, PPP được coi như một công cụ phát triển, một giải pháp hiệu quả thay cho việc tư nhân hóa. Các tài sản của PPP cuối cùng sẽ thuộc sở hữu công cộng, song bên tư nhân là người xây dựng và quản lý với mục tiêu lợi nhuận. Vấn đề ở đây là nguồn lực trong các dự án hợp tác công tư do các bên tư nhân quản lý và vận hành, và vì vậy thường mang lại hiệu quả cao hơn so với các nhà cung cấp thuần túy thuộc khu vực công.
Việc đưa các cơ chế lợi ích của thị trường vào khu vực nhà nước truyền thống từng được Pollitt (2005) gọi là “lý luận về tài chính tư cho dự án công.” - PPP được nghiên cứu dưới góc độ tổ chức và tài chính Một số nghiên cứu khác lại tiếp cận PPP dưới góc độ tổ chức và tài chính (Klijn và Teisman, 2000). “Giá trị cho đồng tiền đầu tư” là một cách nhìn từ góc độ tài chính. PPP được coi là sẽ mang lại giá trị cho đồng tiền đầu tư cao hơn việc nhà nước tự cung cấp dịch vụ. Mặt khác, PPP thường được dựa trên một hợp đồng chưa hoàn thiện - và vì vậy sự tương tác thường xuyên giữa các bên sẽ đòi hỏi quản trị hiệu quả.
- PPP được nghiên cứu dưới góc độ chia sẻ rủi ro và yếu tố thành công cơ bản Một cách tiếp cận khác khi nghiên cứu PPP là nghiên cứu về chia sẻ rủi ro và các vấn đề liên quan như kết quả hoạt động hay nhân tố thành công cơ bản. Lý luận đằng sau những nghiên cứu này là nguyên lý của chia sẻ rủi ro, tức là rủi ro nên được chia sẻ cho những bên có khả năng quản lý với chi phí thấp nhất (Li và đồng sự, 2005; Xu và đồng sự, 2011). Các công trình nghiên cứu học thuật về PPP ở Việt Nam chưa nhiều mà chủ yếu là những nghiên cứu tư vấn chính sách và các bài viết nghiên cứu đơn lẻ, chưa đi vào 4 giải quyết vấn đề PPP như là một hệ thống các vấn đề nghiên cứu liên quan chặt chẽ với nhau. Điều này không có nghĩa là các nghiên cứu lớn về PPP ở Việt Nam không được triển khai mà thực sự đã có một số nghiên cứu chính và đề cập được những khía cạnh nhất định của PPP.
Dưới đây là một số nhóm các vấn đề nghiên cứu về PPP ở Việt Nam trong thời gian qua: Thứ nhất, các nghiên cứu ứng dụng của PPP trong các lĩnh vực cung cấp dịch vụ công: Nguyễn Thị Kim Dung (2008) là tác giả đã có công trình nghiên cứu khá sớm về quan hệ đối tác công tư trong bối cảnh Việt Nam dựa trên kinh nghiệm quốc tế. Hồ Công Hòa (2011) với nghiên cứu “Hợp tác công tư - giải pháp tăng nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý của tư nhân cho các dự án môi trường ở Việt Nam” đã phân tích sự cần thiết phải áp dụng hợp tác công tư trong đầu tư phát triển hạ tầng ở Việt Nam. Lê Quang Cảnh (2011) đã nghiên cứu hợp tác công tư trong giáo dục, trong đó nhấn mạnh tới những hình thức chính trong việc thực hiện PPP trong giáo dục, những lĩnh vực có tiềm năng áp dụng PPP và trong bối cảnh Việt Nam thì nên tập trung vào các dạng thức hợp đồng PPP phù hợp đối với cung cấp dịch vụ này và những đề xuất cho việc thực hiện dự án hợp tác công tư trong lĩnh vực giáo dục. Thứ hai, các nghiên cứu về PPP trong lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật và xã hội.
Các nghiên cứu về PPP trong lĩnh vực này thường tập trung vào PPP trong giao thông, hạ tầng kỹ thuật. Ví dụ như Hồ Công Hòa (2011) đánh giá, phân tích thực trạng quy định về đầu tư, về sự tham gia của khu vực tư nhân và kinh nghiệm quốc tế trong hạ tầng cơ sở nhằm đề xuất các giải pháp cải tiến quy định về PPP cho Việt Nam. Đinh Sơn Hùng và Trần Gia Trung Đỉnh (2007) nghiên cứu PPP trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng kỹ thuật và xã hội giao thông của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đế sự thiếu hụt vốn đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật và xã hội giao thông trong khi nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phát triển rất lớn. Nghiên cứu cho rằng hành lang pháp lý mạnh là điều rất cần thiết để thúc đẩy PPP ở Việt Nam, xây dựng mục tiêu chiến lược phát triển PPP và năng lực quản lý các dự án hợp tác công tư ở các cấp, cần lựa chọn các dự án hợp tác công tư phù hợp và tạo dựng cơ chế thúc đẩy hoạt động kinh doanh có trách nhiệm trong triển khai PPP trong lĩnh vực hạ tầng.
Huỳnh Thị Thúy Giang (2012) nghiên cứu PPP trong những quốc giá chưa có điều kiện thị trường và đề xuất các giải pháp cho PPP trong lĩnh vực đường bộ Việt Nam. Các nội dung này còn được tìm thấy trong nghiên cứu của Nhữ Trọng Bách (2014). Thứ ba, các nghiên cứu về các khía cạnh của PPP. Có nhiều các nghiên cứu 5 nhỏ lẻ đề cập tới PPP và các khía cạnh của PPP và những hướng ứng dụng, những giải pháp phát triển PPP ở Việt Nam.
Chẳng hạn, Mai Thị Thu và cộng sự (2013) đã tổng hợp các kinh nghiệm trong thực hiện PPP ở một số nước trên thế giới và phân tích điều kiện thể chế ở Việt Nam. Theo nhóm tác giả, sau 21 năm thực hiện PPP, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên môi trường thể chế còn hạn chế như có sự chồng chéo trong các văn bản pháp luật, các quy định cụ thể về hợp tác công tư cũng như năng lực của đơn vị phụ trách PPP còn yếu và khó có khả năng áp dụng. Nhiều khía cạnh nhỏ khác của PPP cũng được đề cập trong các nghiên cứu (Phạm Dương Phương Thảo, 2013; Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, 2013; Trịnh Thu Thúy và Trịnh Vân Chinh, 2013,.
Các nội dung chủ yếu trong các công trình khoa học nghiên cứu về điều kiện hợp tác công tư trong lĩnh vực cấp nước sạch đô thị 2.1 Điều kiện tiên quyết thực hiện hợp tác công tư trong lĩnh vực cấp nước sạch đô thị Khái niệm về điều kiện tiên quyết trong những dự án hợp tác công tư được Rockart (1982) đưa ra bao gồm tập hợp những điều kiện cần thiết, thuận lợi hỗ trợ một sự việc/hoạt động nào đó đạt được các mục tiêu kì vọng của dự án hợp tác công tư. Những điều kiện này phải đảm bảo tồn tại liên tục trong suốt chu kì vòng đời kể từ khi dự án mới chỉ là ý tưởng đến khi dự án kết thúc. Mức độ thành công hay thất bại của dự án được đo lường thông qua việc so sánh giữa những kì vọng về việc đạt lợi ích tối đa trong những điều kiện ràng buộc về nguồn lực khiến Nhà nước gần lại gần hơn với Tư nhân. Nhà nước tin rằng PPP có thể giúp cung cấp những lợi ích công cộng Khi xem xét đến những yếu tố ảnh hưởng thành công đến những dự án hợp tác công tư, nghiên cứu của Sader (2000) chỉ ra rằng một dự án hợp tác công tư thành công cần thoả mãn kì vọng của tất cả các bên liên quan, mà chủ yếu ở đây là nhà đầu tư tư nhân và nhà nước.
Đối với nhà đầu tư tư nhân, những kì vọng chính bao gồm: (1) lợi nhuận đầu tư kì vọng (2) chia sẻ rủi ro. Những rủi ro mà nhà đầu tư tư nhân muốn chia sẻ chủ yếu bao gồm rủi ro về mặt chính sách, rủi ro về MTKT vĩ mô và một số rủi ro bất khả kháng (3) môi trường vĩ mô, sự ổn định của nền kinh tế sẽ thúc đẩy lợi nhuận kì vọng của nhà đầu tư tư nhân và (4) khung pháp lý liên quan. Đối với nhà nước, những kì vọng chính bao gồm (1) hoàn thành dự án trước thời hạn, nhằm đảm bảo những lợi ích của dự án đối với xã hội được tối đa (2) chia sẻ rủi ro, những rủi ro mà nhà nước muốn chia sẻ bao gồm rủi ro về xây dựng, vận hành dự án (3) ngoại ứng 6 của dự án đem lại đối với xã hội. Việc thoả mãn những yêu cầu của các bên liên quan đến dự án đảm bảo khả năng có thể thực hiện cũng như đảm bảo những ngoại ứng của dự án đem lại đối với xã hội và thể chế (một trong những yếu tố của môi trường vĩ mô) là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng thành công của các dự án hợp tác công tư.
Một nước có môi trường chính trị kém và có khả năng tham nhũng cao, điều hành kém hiệu quả sẽ không hỗ trợ tốt hợp tác công tư. Young và cộng sự (2009) nêu 4 yếu tố chính tác động đến sự thành công của một dự án hợp tác công tư là: (i) vai trò và trách nhiệm của Nhà nước (ii) lựa chọn nhượng quyền (iii) rủi ro và các cách thức chia rẻ rủi ro của PPP và (iv) tài chính của PPP. Những yếu tố như quy hoạch dự án tốt, hợp đồng rõ ràng, khả năng thực thi cao, đấu thầu cạnh tranh, minh bạch và có đầy đủ khung pháp lý liên quan đến PPP, khả năng dự báo doanh thu chính xác được Vickram (2009) đưa ra khi nghiên cứu dữ liệu các dự án hợp tác công tư của Chile và Mexico giai đoạn hậu khủng hoảng 1993-2001. Tuy nhiên, nghiên cứu này không chỉ ra được nhân tố nào là quan trọng nhất.