Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, mã số 9222024) của nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Đạo, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Khang, bảo vệ năm 2018 tại Hà Nội với đề tài: Đối chiếu thuật ngữ báo chí Anh - Việt và chuyển dịch thuật ngữ báo chí tiếng Anh sang tiếng Việt.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đặt ra yêu cầu ngày càng cao về tính chuyên nghiệp và chuẩn hóa trong hoạt động báo chí - truyền thông. Báo chí không chỉ thuần túy là loại hình hoạt động thông tin đại chúng mà đã phát triển thành một phân ngành khoa học độc lập. Trong hệ thống tri thức đó, thuật ngữ báo chí (TNBC) đóng vai trò là công cụ định hình tư duy khoa học, tiếp nhận và phổ biến tri thức chuyên ngành.

Ở Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về thuật ngữ báo chí dưới giác độ ngôn ngữ học còn rất hạn chế. Trước thời điểm luận án triển khai, thị trường học thuật mới chỉ xuất hiện một cuốn từ điển giải thích thuật ngữ báo chí tiếng Việt và hai cuốn từ điển đối chiếu Anh - Nga - Việt, chủ yếu phục vụ tra cứu thông thường. Các công trình lý luận về bản chất ngôn ngữ của thuật ngữ báo chí hầu như chưa được xử lý toàn diện, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu có hệ thống giữa thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt trên cả bình diện cấu tạo, định danh và phương thức chuyển dịch. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài được lựa chọn nhằm giải quyết khoảng trống lý luận và ứng dụng thực tiễn này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua việc khảo sát hệ thống TNBC tiếng Anh và tiếng Việt theo hướng tiếp cận đối chiếu, làm sáng tỏ các đặc điểm về cấu tạo và định danh của hệ thống thuật ngữ trong hai ngôn ngữ, phân tích thực trạng chuyển dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, từ đó đề xuất định hướng và phương thức chuyển dịch phù hợp nhằm chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ báo chí tiếng Việt, nâng cao hiệu quả đào tạo chuyên ngành báo chí - truyền thông.

Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về thuật ngữ và TNBC trên thế giới và ở Việt Nam, xác lập cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu luận án.
  2. Phân tích, đối chiếu đặc điểm cấu tạo TNBC trong tiếng Anh và tiếng Việt; xác định loại hình kết hợp thành tố để tạo thành TNBC phổ biến nhất ở từng ngôn ngữ, chỉ ra sự giống nhau và khác nhau trong mô hình cấu tạo TNBC trong hai ngôn ngữ.
  3. Đối chiếu đặc điểm định danh theo các phương diện: kiểu ngữ nghĩa và cách thức biểu thị của TNBC tiếng Anh với tiếng Việt để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.
  4. Khảo sát cách chuyển dịch TNBC tiếng Anh sang tiếng Việt và đề xuất cách chuyển dịch phù hợp TNBC tiếng Anh sang tiếng Việt, theo hướng chuẩn hóa tiếng Việt.

Đối tượng, phạm vi và nguồn tư liệu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt (tập hợp các đơn vị từ ngữ biểu đạt khái niệm dùng trong lĩnh vực báo chí).
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các đơn vị TNBC đang được sử dụng trong lĩnh vực báo chí thuộc 05 phạm trù ngữ nghĩa tiêu biểu:
    1. Chủ thể trực tiếp hoạt động báo chí và công chúng báo chí;
    2. Sản phẩm báo chí;
    3. Nguyên liệu, chi tiết cấu thành sản phẩm báo chí;
    4. Phương tiện, kỹ thuật trong hoạt động báo chí;
    5. Hoạt động báo chí.
  • Nguồn tư liệu khảo sát: Tổng cộng gồm 1.868 thuật ngữ báo chí tiếng Anh và 1.868 thuật ngữ báo chí tiếng Việt tương ứng.
    • Nguồn tư liệu cốt lõi được trích xuất từ Từ điển thuật ngữ báo chí - xuất bản Anh - Nga - Việt do Quang Đạm, Nguyễn Khắc Văn, Lê Thanh Hương, Nguyễn Trí Dũng biên soạn (Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2010). Tác giả chỉ trích xuất cặp đối ứng Anh - Việt, lược bỏ phần tiếng Nga và định nghĩa giải thích dài dòng. Khi thuật ngữ tiếng Anh có nhiều biến thể dịch tương đương trong tiếng Việt, luận án chọn biến thể thứ nhất.
    • Nguồn bổ sung được thu thập từ 07 giáo trình chuyên ngành báo chí tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội), Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình I: Cơ sở lí luận báo chí truyền thông (2004), Cơ sở lí luận báo chí (2012), Ngôn ngữ báo chí (2010), Báo phát thanh (2002), Giáo trình báo chí truyền hình (2011), Tác phẩm báo chí (2006), Các thể loại báo chí truyền thông (2016), cùng các bài viết chuyên môn trên tạp chí Người làm báo của Hội Nhà báo Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu lý thuyết thuật ngữ học

Trên thế giới, thuật ngữ học đã phát triển thành một ngành khoa học độc lập với các mốc lịch sử từ thế kỷ XVIII (Lavoisier, Berthollet, Linnaeus) đến thế kỷ XIX thông qua các hội nghị chuẩn hóa danh pháp thực vật học (1867), sinh vật học (1889) và hóa học (1892). Bước sang thế kỷ XX, thuật ngữ học hiện đại hình thành với công trình của E. Wüster (thập niên 1930) và D.S. Lotte.

Theo tổng kết của M.T. Cabré (1999), lịch sử thuật ngữ học thế giới trải qua 4 giai đoạn:

  1. Giai đoạn hình thành (The origins: 1930 - 1960): Đặt nền móng phương pháp luận với trường phái Áo (E. Wüster), trường phái Xô-viết (D.S. Lotte) và trường phái Séc (Czech).
  2. Giai đoạn xác lập chuyên ngành (The structuring of the field: 1960 - 1975): Ứng dụng kỹ thuật máy tính, lưu trữ dữ liệu, xuất hiện các ngân hàng dữ liệu thuật ngữ quốc tế đầu tiên.
  3. Giai đoạn bùng nổ (The boom: 1975 - 1985): Gia tăng chính sách hoạch định ngôn ngữ và thuật ngữ (tiêu biểu tại Liên Xô, Israel, Canada).
  4. Giai đoạn mở rộng (The expansion: 1985 đến nay): Tác động sâu sắc của công nghệ tin học và mạng truyền thông, tiêu biểu với công trình Manual of Terminography của A. Cluver.

Tại Việt Nam, nghiên cứu thuật ngữ tiếng Việt khởi đầu với công trình Danh từ khoa học (1942) của Hoàng Xuân Hãn, tập hợp gần 6.000 danh từ khoa học cùng 8 yêu cầu khi định danh. Tiếp sau đó là các công trình nghiên cứu lý luận của Đỗ Hữu Châu (1962), Nguyễn Văn Tu (1968), Lưu Vân Lăng (1979), Lê Khả Kế (1979), Hoàng Văn Hành (1983), Đái Xuân Ninh (1986), Lê Quang Thiêm (1989, 2000, 2015), Nguyễn Thiện Giáp (1985, 2010), Nguyễn Như Ý (1992), Nguyễn Văn Khang (2000), Nguyễn Đức Tồn (2010, 2013), Hà Quang Năng (2010, 2012). Cùng với đó là hệ thống luận án tiến sĩ nghiên cứu thuật ngữ theo từng ngành chuyên biệt: Vũ Quang Hào (1991, quân sự), Mai Thị Lựu (2012, luật sở hữu trí tuệ), Vũ Thị Thu Huyền (2013, xây dựng), Ngô Phi Hùng (2014, khoa học tự nhiên), Lê Thanh Hà (2014, du lịch), Quách Thị Gấm (2015, báo chí), Nguyễn Thị Kim Thành (2005, tin học - viễn thông), Dương Thị Thùy Mai (2018, kỹ thuật điện), Đỗ Thị Thu Nga (2018, tài chính).

Nghiên cứu về thuật ngữ báo chí

  1. Nghiên cứu quốc tế và tiếng Anh: Các nước có nền báo chí phát triển sớm như Anh, Mỹ, Liên Xô/Nga đặc biệt chú trọng chuẩn hóa thuật ngữ. Tại Nga, công trình Đường vào báo chí học của E.P. Prokhorov (1980) và cuốn Phong cách ngôn ngữ các thể loại báo chí cho thấy tính thống nhất cao của TNBC. Tại Anh và Mỹ, các hãng thông tấn và trường đại học xây dựng quy chuẩn riêng, tiêu biểu như Reuters Handbook for Journalists (1992), tài liệu Journalist (Tập 1 và 2) của Đại học Oxford, giáo trình Introduction to Mass Communications của Agee, Ault, Emery (1994), các cuốn từ điển chuyên ngành như Dictionary of Journalism của Tony Harcup (2014), Dictionary of Media and Communications của Marcel Danesi (2009), Dictionary of Nineteenth-Century Journalism của Laurel B. & Marysa D. Tác giả luận án nhận định các nghiên cứu tiếng Anh chủ yếu thiên về ứng dụng thực hành và biên soạn từ điển đơn ngữ/song ngữ phục vụ nghiệp vụ, ít đi sâu vào bình diện ngôn ngữ học thuần túy hoặc đối chiếu dịch thuật đa ngữ.
  2. Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tại Việt Nam:
    • Quang Đạm (1977) công bố bài báo Con đường phát triển của thuật ngữ báo chí Việt Nam, bước đầu tổng kết quá trình phát triển thuật ngữ từ khi hình thành đến năm 1977.
    • Nguyễn Hồng Điệp (1995) thực hiện khóa luận tốt nghiệp Thuật ngữ báo chí Việt Nam - hiện trạng và giải pháp, khảo sát thực trạng sử dụng trong một số giáo trình.
    • Vũ Quang Hào (2010) trong chuyên khảo Ngôn ngữ báo chí đã chỉ ra tính thiếu hệ thống, thiếu đồng nhất của thuật ngữ báo chí tiếng Việt và đề xuất hướng chuẩn hóa dựa trên phân loại khái niệm.
    • Quách Thị Gấm (2015) bảo vệ luận án tiến sĩ Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt, tập trung miêu tả cấu tạo, ngữ nghĩa và phân loại 10 phạm trù ngữ nghĩa của TNBC tiếng Việt.
    • Về mảng công cụ tra cứu, có 4 ấn phẩm từ điển chính: Từ điển thuật ngữ xuất bản - báo chí Nga - Anh - Việt (Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Thành Châu, Quang Đạm, 1982; gồm 3.997 thuật ngữ tiếng Nga, 4.015 tiếng Anh, 4.395 tiếng Việt); Từ điển thuật ngữ báo chí - truyền thông (Phạm Thành Hưng, 2007; gồm 229 thuật ngữ); Từ điển thuật ngữ báo chí - xuất bản Anh - Nga - Việt (Quang Đạm, Nguyễn Khắc Văn, Lê Thanh Hương, Nguyễn Trí Dũng, 2010; gồm 5.436 mục từ tiếng Anh và 6.206 mục từ tiếng Việt); Từ điển báo chí Anh - Việt (Nguyễn Minh Tiến, 2002).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn

Các công trình đi trước tại Việt Nam hoặc chỉ dừng lại ở mô tả nội bộ tiếng Việt (như luận án của Quách Thị Gấm), hoặc dừng ở mức độ biên soạn từ điển tra cứu đối chiếu có tính chất giải nghĩa tương đương từ vựng, chưa phân tích bản chất ngôn ngữ học đối chiếu. Chưa có công trình nào đối chiếu một cách liên ngành giữa tiếng Anh và tiếng Việt về mô hình cấu tạo, cơ chế định danh và khảo sát các phương thức chuyển dịch thuật ngữ báo chí nhằm đưa ra giải pháp chuẩn hóa mang tính khoa học và thực tiễn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Quan niệm về thuật ngữ: Luận án kế thừa định nghĩa của Nguyễn Thiện Giáp (1985, 2010): "Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người". Trên bình diện hình thức, thuật ngữ tồn tại ở hai cấp độ: từ và ngữ cố định.
  2. Phân biệt thuật ngữ với các khái niệm liên quan:
    • Thuật ngữ và danh pháp khoa học (nomenklatura): Thuật ngữ gắn liền trực tiếp với hệ thống khái niệm của khoa học. Danh pháp chỉ có chức năng "dán nhãn", gọi tên sự vật, hiện tượng cụ thể mà không phản ánh trực tiếp hệ thống khái niệm logic (A.A. Reformatski, 1961; Nguyễn Thiện Giáp, 2010). Ví dụ trong báo chí: truyền hình, phát thanh, chương trình là thuật ngữ; còn tên riêng các đài, hãng thông tấn, kênh như VOV, VTV, VOA, BBC, Vì Trẻ Thơ, Chào buổi sáng là danh pháp.
    • Thuật ngữ và từ thông thường: Từ thông thường phục vụ giao tiếp hàng ngày, mang sắc thái biểu cảm, có thể đa nghĩa; thuật ngữ có ngoại diên hẹp nhưng nội hàm sâu, mang tính trí tuệ thuần túy và hướng đến đơn nghĩa (Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, 1990; M.T. Cabré, 1999). Giữa chúng có sự thâm nhập hai chiều: từ thông thường chuyển thành thuật ngữ (paper, page, cover, cut, thân bài) và thuật ngữ phổ thông hóa vào đời sống (news, reporter, MC, bình luận).
    • Thuật ngữ và từ nghề nghiệp: Từ nghề nghiệp mang tính chất địa phương, phạm vi xã hội hạn hẹp, không tạo thành hệ thống khái niệm logic khép kín (V.P. Kapanadze, 1965; Nguyễn Văn Khang, 2000).
  3. Tiêu chuẩn xác định thuật ngữ: Luận án xác lập 3 tiêu chuẩn cốt lõi:
    • Tính khoa học: Đòi hỏi tính chính xác (biểu thị đúng bản chất khái niệm, loại bỏ tính đa nghĩa/đồng âm/đồng nghĩa), tính hệ thống (nằm trong trật tự thứ bậc khái niệm) và tính ngắn gọn (chứa số lượng đặc trưng tối thiểu đủ để nhận diện và khu biệt, tránh cấu trúc dài dòng mang tính giải thích).
    • Tính quốc tế: Thể hiện sự thống nhất về mặt khái niệm tri thức nhân loại (nhiều TNBC tiếng Anh được vay mượn nguyên dạng như internet, MC, fanpage, livestream, camera, website).
    • Tính dân tộc: Thể hiện ở phương diện ngữ âm, chữ viết, từ vựng và ngữ pháp của ngôn ngữ bản địa tiếp nhận (báo xuân, báo tết, báo người đại biểu nhân dân mang nét văn hóa báo chí Việt Nam).
  4. Lý thuyết định danh ngôn ngữ và định danh thuật ngữ báo chí: Vận dụng quan điểm của V.G. Gak: Định danh gồm 2 bước (quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt). Có hai kiểu định danh: (1) Theo ngữ nghĩa (tên gọi trực tiếp và tên gọi gián tiếp); (2) Theo cách thức biểu thị (hình thái bên trong, tính có lý do, mức độ hòa kết của các thành tố). Về từ loại tham gia định danh, luận án dựa vào luận điểm của Hà Quang Năng (2013) khẳng định danh từ có năng lực định danh tuyệt đối và phổ biến nhất, kế tiếp là tính từ, động từ.
  5. Đơn vị cấu tạo thuật ngữ: Luận án sử dụng khái niệm thành tố làm đơn vị cơ sở nhỏ nhất có nghĩa tham gia cấu tạo thuật ngữ ở cả tiếng Anh và tiếng Việt. Tiếp thu quan niệm cấu trúc từ và đoản ngữ của Nguyễn Tài Cẩn (1975), thành tố có thể là từ đơn, hình vị hoặc thành tố phụ phụ thuộc xoay quanh thành tố trung tâm trong mô hình cấu tạo chính - phụ.
  6. Lý thuyết báo chí học và 5 phạm trù thuật ngữ: Dựa trên quan điểm cấu trúc hệ thống báo chí của E.P. Prokhorov, 5 chức năng cơ bản của báo chí theo Nguyễn Văn Dũng (2012: thông tin - giao tiếp, tư tưởng, khai sáng - giải trí, quản lý - giám sát - phản biện xã hội, kinh tế - dịch vụ), 4 loại hình báo chí (báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử) và kế thừa có chọn lọc từ 10 phạm trù của Quách Thị Gấm (2015), luận án xác lập 5 phạm trù thuật ngữ báo chí khảo sát:
    • Phạm trù 1: Chủ thể trực tiếp hoạt động báo chí và công chúng báo chí;
    • Phạm trù 2: Nguyên liệu - chi tiết cấu thành sản phẩm báo chí;
    • Phạm trù 3: Sản phẩm báo chí;
    • Phạm trù 4: Hoạt động báo chí;
    • Phạm trù 5: Phương tiện - kỹ thuật trong hoạt động báo chí.

Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả: Sử dụng để phân tích, miêu tả diện mạo cấu tạo hình thức, đặc điểm định danh và các cấu trúc chuyển dịch thuật ngữ.
  • Phương pháp phân tích thành tố định danh trực tiếp: Tách chiết các thành tố cấu tạo trực tiếp nhằm xác định mô hình kết hợp, trật tự cú pháp và hạt nhân ngữ nghĩa của thuật ngữ nguồn và đích.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ cơ sở (nguồn) và tiếng Việt làm ngôn ngữ đối chiếu (đích), làm nổi bật các nét tương đồng và khác biệt giữa ngôn ngữ biến hình (Anh) và ngôn ngữ không biến hình (Việt).
  • Thủ pháp thống kê định lượng: Sử dụng thống kê số lượng, tần số xuất hiện và tỷ lệ phần trăm các kiểu thành tố cấu tạo, các mô hình ngữ pháp và các phương thức định danh.
  • Thủ pháp đối chiếu chuyển dịch thuật ngữ: Khảo sát các mức độ tương đương dịch thuật (tương đương hoàn toàn, tương đương bộ phận, bất tương đương) và phân loại các kỹ thuật chuyển dịch thực tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 1 có nhiệm vụ hệ thống hóa toàn bộ lịch sử nghiên cứu thuật ngữ học và thuật ngữ báo chí trên thế giới và tại Việt Nam. Đồng thời, chương này thiết lập khung lý thuyết liên ngành giữa ngôn ngữ học và báo chí học.

Tác giả đã làm rõ các khái niệm bản thể: thuật ngữ, thuật ngữ báo chí; phân biệt thuật ngữ với danh pháp, từ ngữ nghề nghiệp và từ thông thường; phân tích 3 tiêu chuẩn thuật ngữ (khoa học, quốc tế, dân tộc). Về mặt báo chí học, chương 1 phân tích hệ thống chức năng, 4 loại hình báo chí cơ bản và xác lập 5 phạm trù ngữ nghĩa cốt lõi của ngành báo chí làm cơ sở phân loại cho toàn bộ ngữ liệu ở các chương sau.

Chương 2: Đối chiếu thuật ngữ báo chí Anh - Việt

Chương 2 là trọng tâm miêu tả và đối chiếu của luận án, tập trung vào hai nội dung lớn: đối chiếu về mặt cấu tạo và đối chiếu về mặt định danh trên ngữ liệu 1.868 cặp thuật ngữ.

1. Đối chiếu về mặt cấu tạo

Luận án tiến hành phân tích số lượng và đặc điểm thành tố cấu tạo, phân loại thành: thuật ngữ có cấu tạo thành tố đơn và thuật ngữ có cấu tạo thành tố phức (Bảng 2.1, 2.2, 2.3, 2.4).

  • Tiếng Anh: Thuật ngữ đơn (từ đơn, từ phát sinh có tiền tố/hậu tố) chiếm tỷ lệ nhất định; thuật ngữ ghép và cụm từ cố định chiếm đa số.
  • Tiếng Việt: Do đặc thù ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, các TNBC tiếng Việt tồn tại chủ yếu dưới dạng từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập và các đoản ngữ cố định. Các thuật ngữ đơn tiết thuần Việt rất hiếm, phần lớn là các đơn vị gốc Hán hoặc từ mượn được Việt hóa.

Hệ thống mô hình cấu tạo được thống kê và đối chiếu qua các bảng:

Bảng số Tên bảng trong luận án Nội dung khảo sát chính
Bảng 2.1 Thống kê thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt có cấu tạo thành tố đơn Số lượng và tỷ lệ các thuật ngữ có cấu tạo 1 thành tố cơ sở
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp phân loại TN báo chí tiếng Anh và tiếng Việt có cấu tạo thành tố phức Phân chia các thuật ngữ gồm từ 2, 3 đến 4 thành tố kết hợp
Bảng 2.3 Thống kê thành tố cấu tạo thuật ngữ báo chí trong tiếng Anh và tiếng Việt Tần số xuất hiện của các loại hình từ loại làm thành tố cấu tạo
Bảng 2.4 Thống kê mô hình cấu tạo TN báo chí tiếng Anh và tiếng Việt Tỷ lệ các mô hình kết hợp cú pháp (N+N, Adj+N, V+N, N+V...)

Kết quả đối chiếu cấu tạo cho thấy sự khác biệt về trật tự kết hợp: Tiếng Anh tuân theo trật tự "thành tố phụ đứng trước, thành tố trung tâm (hạt nhân) đứng sau" (Modifier + Head), ví dụ: investigative journalism, daily newspaper, press conference. Ngược lại, tiếng Việt tuân thủ quy tắc ngữ pháp đơn lập: "thành tố trung tâm đứng trước, thành tố phụ đứng sau" (Head + Modifier), ví dụ: báo chí điều tra, nhật báo, họp báo.

2. Đối chiếu về mặt định danh

Luận án phân tích cơ chế định danh theo kiểu ngữ nghĩa (trực tiếp vs gián tiếp) và theo cách thức biểu thị cụ thể trong 05 phạm trù nghiệp vụ báo chí (Bảng 2.5 đến 2.12):

  • Phạm trù 1 (Bảng 2.7): Chủ thể hoạt động báo chí và công chúng báo chí (ví dụ: editor, reporter, correspondent, audience, reader đối chiếu với biên tập viên, phóng viên, thông tín viên, thính giả, độc giả).
  • Phạm trù 2 (Bảng 2.8): Nguyên liệu, chi tiết cấu thành sản phẩm báo chí (ví dụ: headline, lead, byline, column đối chiếu với tiêu đề, đoạn mở đầu/sa-pô, tên tác giả, chuyên mục).
  • Phạm trù 3 (Bảng 2.9): Sản phẩm báo chí (ví dụ: feature, editorial, documentary, talk show đối chiếu với phóng sự, bài xã luận, phim tài liệu, tọa đàm truyền hình).
  • Phạm trù 4 (Bảng 2.10): Hoạt động báo chí (ví dụ: broadcasting, layout, live broadcast, proofreading đối chiếu với phát sóng, dàn trang, truyền hình trực tiếp, đọc sửa bản in/morát).
  • Phạm trù 5 (Bảng 2.11): Phương tiện - kỹ thuật trong hoạt động báo chí (ví dụ: teleprompter, studio, transmitter, printing press đối chiếu với máy nhắc chữ, trường quay/studio, máy phát sóng, máy in ấn).

Bảng 2.12 tổng hợp các đặc trưng định danh của 5 phạm trù cho thấy sự tương đồng cao về mặt ý niệm và phạm trù hóa tư duy nghiệp vụ, tuy nhiên cơ chế biểu hiện bằng hình thái từ vựng giữa hai ngôn ngữ có sự phân hóa sâu sắc do tính chất phân tích tính của tiếng Việt và tính tổng hợp tính/chắp phát của tiếng Anh.

Chương 3: Chuyển dịch thuật ngữ báo chí tiếng Anh sang tiếng Việt

Chương 3 tập trung giải quyết bình diện ứng dụng: khảo sát thực trạng chuyển dịch TNBC tiếng Anh sang tiếng Việt và xây dựng hệ thống phương thức chuyển dịch chuẩn hóa.

1. Khảo sát thực trạng dịch thuật ngữ báo chí

Luận án phân tích thực trạng dịch thuật ngữ trong các ấn phẩm từ điển đối chiếu, giáo trình đại học và tác phẩm báo chí thực tế (Bảng 3.1: Các phương thức dịch thuật ngữ báo chí tiếng Anh sang tiếng Việt được sử dụng trong từ điển đối chiếu). Khảo sát cho thấy nhiều bất cập tồn tại:

  • Hiện tượng dịch thoát ly bản chất thuật ngữ, chuyển thuật ngữ thành các cụm giải thích dài dòng mang tính chú giải khái niệm thay vì tạo lập đơn vị tương đương ngắn gọn.
  • Thiếu thống nhất giữa các cơ quan báo chí và cơ sở đào tạo: một thuật ngữ tiếng Anh có quá nhiều biến thể dịch tiếng Việt khác nhau (tình trạng đồng nghĩa giả tạo).
  • Lạm dụng vay mượn nguyên dạng không cần thiết hoặc phiên âm thiếu quy chuẩn, gây cản trở tiếp nhận.

2. Đề xuất các yêu cầu và phương thức chuyển dịch chuẩn hóa

Tác giả đề xuất các yêu cầu nghiêm ngặt khi dịch TNBC: đảm bảo tính chính xác về mặt khái niệm khoa học, bảo tồn tính hệ thống, tuân thủ tính ngắn gọn và đảm bảo tính dân tộc (phù hợp với quy tắc ngữ pháp và ngữ âm tiếng Việt).

Dựa trên phân loại tương đương dịch thuật (tương đương hoàn toàn, tương đương bộ phận và không tương đương), luận án đề xuất 4 phương thức chuyển dịch chủ yếu:

  1. Phương thức dịch nghĩa tương đương (dịch sao phỏng/dịch nghĩa): Áp dụng cho các thuật ngữ có cấu trúc phân tích được và tiếng Việt có sẵn các thành tố biểu đạt khái niệm tương ứng (ví dụ: citizen journalism -> báo chí công dân; yellow journalism -> báo chí lá cải/báo chí vàng).
  2. Phương thức vay mượn nguyên dạng (giữ nguyên hình thức gốc tiếng Anh): Áp dụng cho các thuật ngữ quốc tế hóa cao, ngắn gọn, đã trở nên phổ biến toàn cầu và việc dịch nghĩa có nguy cơ làm rườm rà hoặc sai lệch khái niệm (ví dụ: internet, website, fanpage, livestream, camera, talkshow, format).
  3. Phương thức phiên âm/Việt hóa ngữ âm: Chuyển đổi các thuật ngữ mượn sang hệ thống ngữ âm tiếng Việt phù hợp với lịch sử tiếp nhận (ví dụ: radio -> ra-đi-ô/đài phát thanh, video -> vi-đê-ô).
  4. Phương thức tạo từ mới/kết hợp vay mượn và dịch giải: Sử dụng một thành tố mượn kết hợp với một thành tố chỉ chủng loại thuần Việt hoặc Hán - Việt nhằm bảo đảm tính đơn nghĩa và khu biệt (ví dụ: online newspaper -> báo điện tử; podcast -> chương trình phát thanh trực tuyến/tệp âm thanh podcast).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình ngôn ngữ học đầu tiên ở Việt Nam tiến hành khảo sát, miêu tả và đối chiếu một cách chuyên sâu, toàn diện hệ thống 1.868 thuật ngữ báo chí tiếng Anh với tiếng Việt trên hai phương diện cấu tạo hình thức và cơ chế định danh ngữ nghĩa.
  2. Xác lập khung lý thuyết liên ngành giữa thuật ngữ học và báo chí học; cụ thể hóa hệ thống tiêu chí định danh và phân loại 5 phạm trù thuật ngữ báo chí tiêu biểu, góp phần làm sáng tỏ quy luật cấu tạo thuật ngữ của ngôn ngữ biến hình (tiếng Anh) đối sánh với ngôn ngữ không biến hình (tiếng Việt).
  3. Bổ sung cơ sở lý luận cho lý thuyết dịch thuật chuyên ngành, đặc biệt là lý thuyết đối chiếu chuyển dịch thuật ngữ (Translation Contrastive Terminology), xác lập các cấp độ tương đương và các ranh giới giữa dịch nghĩa, sao phỏng cú pháp và vay mượn từ ngữ.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp một tập ngữ liệu đối chiếu Anh - Việt quy mô lớn gồm 1.868 cặp thuật ngữ đã được rà soát, chuẩn hóa và phân loại theo 5 phạm trù nghiệp vụ rõ ràng, đóng vai trò là nguồn ngữ liệu tin cậy cho nghiên cứu ngôn ngữ học và báo chí học.
  2. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các nhà nghiên cứu, biên dịch viên chuyên ngành, các cơ quan báo chí và truyền thông trong việc sử dụng thống nhất thuật ngữ tác nghiệp.
  3. Đóng góp trực tiếp vào công tác giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành báo chí - truyền thông tại các trường đại học và học viện; cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện, biên soạn mới các giáo trình, sách chuyên khảo và cuốn từ điển chuyên ngành báo chí - truyền thông có chất lượng cao hơn.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Chuẩn hóa hệ thống TNBC tiếng Việt: Cần thành lập hội đồng chuyên gia liên ngành (ngôn ngữ học và báo chí học) để thống nhất thẩm định, loại bỏ các biến thể dịch tùy tiện, loại trừ các đơn vị giải thích dài dòng trên 4 thành tố không đạt tiêu chuẩn thuật ngữ.
  • Xây dựng nguyên tắc tiếp nhận từ mượn: Đối với các thuật ngữ công nghệ báo chí mới xuất hiện từ tiếng Anh, ưu tiên sử dụng phương thức dịch nghĩa tương đương nếu tiếng Việt có khả năng biểu đạt chính xác; chỉ tiếp nhận nguyên dạng các thuật ngữ quốc tế mang tính phổ quát kỹ thuật số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  1. Phạm vi khảo sát ngữ liệu: Mặc dù đã thu thập 1.868 cặp thuật ngữ từ cuốn từ điển đối chiếu lớn nhất thời điểm đó cùng 7 giáo trình chuyên ngành, song nguồn ngữ liệu vẫn chủ yếu phản ánh các loại hình báo chí truyền thống và giai đoạn đầu của báo điện tử. Luận án chưa bao quát hết toàn bộ lượng thuật ngữ phát sinh nhanh chóng từ môi trường truyền thông số và mạng xã hội.
  2. Về tiêu chí chọn đơn vị ngữ liệu: Do từ điển nguồn còn trộn lẫn một số yếu tố danh pháp và cụm từ giải thích, việc chọn lựa biến thể dịch thứ nhất đôi khi mang tính quy ước kỹ thuật nhằm phục vụ phân tích cấu trúc, chưa thể phản ánh hết mọi sắc thái chuyển biến từ ngữ trong thực tiễn tác nghiệp sống động của tất cả các toà soạn tại Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp

  1. Mở rộng phạm vi ngữ liệu sang các phân ngành hẹp và mới của truyền thông hiện đại như: báo chí dữ liệu (data journalism), báo chí trí tuệ nhân tạo (AI journalism), truyền thông đa nền tảng, kinh tế báo chí và bản quyền truyền thông số.
  2. Đi sâu nghiên cứu thực nghiệm xã hội ngôn ngữ học: khảo sát tần suất sử dụng và mức độ chấp nhận của các nhà báo, biên tập viên, sinh viên đối với các phương án dịch thuật ngữ cụ thể, nhằm xây dựng quy chuẩn từ điển thuật ngữ báo chí điện tử trực tuyến có tính tương tác và cập nhật liên tục.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo học thuật có giá trị cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên ngôn ngữ học: Cung cấp khung phương pháp luận đối chiếu cấu tạo và định danh thuật ngữ hai ngôn ngữ khác loại hình (Anh - Việt); phương pháp bóc tách thành tố và xử lý ngữ liệu thuật ngữ chuyên ngành.
  • Đối với giảng viên và sinh viên chuyên ngành Báo chí - Truyền thông: Là tài liệu tra cứu thuật ngữ đối chiếu chuẩn xác, phục vụ học tập, nghiên cứu và đặc biệt hữu ích cho môn học tiếng Anh chuyên ngành báo chí tại các cơ sở đào tạo như Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình I.
  • Đối với biên dịch viên, nhà báo và người làm chính sách truyền thông: Cung cấp nguyên tắc định danh và chuyển dịch từ ngữ nước ngoài, giúp người làm báo diễn đạt chuẩn xác các khái niệm quốc tế, tránh tình trạng dịch tùy tiện hoặc lạm dụng từ ngữ ngoại lai trên các ấn phẩm báo chí chính thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã khảo sát bao nhiêu thuật ngữ báo chí và phân chia thành những phạm trù nào?

Luận án khảo sát tổng cộng 1.868 thuật ngữ báo chí tiếng Anh và 1.868 thuật ngữ báo chí tiếng Việt đối ứng. Toàn bộ ngữ liệu được phân chia thành 05 phạm trù nghiệp vụ tiêu biểu:

  • Phạm trù 1: Chủ thể trực tiếp hoạt động báo chí và công chúng báo chí;
  • Phạm trù 2: Nguyên liệu, chi tiết cấu thành sản phẩm báo chí;
  • Phạm trù 3: Sản phẩm báo chí;
  • Phạm trù 4: Hoạt động báo chí;
  • Phạm trù 5: Phương tiện, kỹ thuật trong hoạt động báo chí.

2. Nguồn tư liệu ngữ liệu chính của luận án được trích xuất từ đâu?

Nguồn tư liệu cốt lõi là cuốn Từ điển thuật ngữ báo chí - xuất bản Anh - Nga - Việt do Quang Đạm, Nguyễn Khắc Văn, Lê Thanh Hương, Nguyễn Trí Dũng biên soạn (Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2010). Ngoài ra, tác giả sử dụng nguồn bổ sung từ 07 giáo trình chuyên ngành báo chí của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội), Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình I, cùng các bài viết chuyên ngành trên tạp chí Người làm báo của Hội Nhà báo Việt Nam.

3. Tác giả luận án sử dụng khái niệm đơn vị nào để đối chiếu cấu tạo thuật ngữ giữa hai ngôn ngữ?

Tác giả sử dụng khái niệm thành tố làm đơn vị cơ sở nhỏ nhất có nghĩa để phân tích cấu tạo thuật ngữ chung cho cả tiếng Anh và tiếng Việt. Việc lựa chọn khái niệm này nhằm khắc phục sự khác biệt loại hình giữa tiếng Anh (ngôn ngữ biến hình) và tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập không biến hình), cho phép đối chiếu bình đẳng các mô hình kết hợp từ đơn, từ phức và các đoản ngữ cố định.

4. Tiêu chí hình thức nào được áp dụng để loại bỏ các cụm từ giải thích dài dòng ra khỏi hệ thuật ngữ khảo sát?

Luận án áp dụng tiêu chí hình thức chặt chẽ: Thuật ngữ phải là từ hoặc cụm từ cố định có cấu tạo dưới 5 thành tố. Những đơn vị cấu tạo dài dòng, mang tính diễn giải, định nghĩa khái niệm từ 5 thành tố cấu tạo trở lên đều bị loại bỏ để đảm bảo tính ngắn gọn và tính chuẩn xác của thuật ngữ khoa học.

5. Sự khác biệt cơ bản nhất về mô hình cấu tạo giữa thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt là gì?

Sự khác biệt cơ bản nhất nằm ở trật tự kết hợp giữa thành tố trung tâm (hạt nhân) và thành tố phụ:

  • Thuật ngữ báo chí tiếng Anh tuân theo trật tự: Thành tố phụ đứng trước, thành tố trung tâm đứng sau (ví dụ: investigative journalism, trong đó investigative là phụ, journalism là trung tâm).
  • Thuật ngữ báo chí tiếng Việt tuân theo trật tự: Thành tố trung tâm đứng trước, thành tố phụ đứng sau (ví dụ: báo chí điều tra, trong đó báo chí là trung tâm, điều tra là phụ).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đức Đạo là công trình nghiên cứu hệ thống về sự tương đồng và khác biệt trong cấu tạo và định danh giữa 1.868 cặp thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt. Bằng việc kết hợp lý luận ngôn ngữ học đối chiếu với lý thuyết báo chí học, tác giả đã làm sáng tỏ các mô hình kết hợp thành tố đặc trưng và các cơ chế định danh ngữ nghĩa thuộc 5 phạm trù nghiệp vụ căn bản. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng dịch thuật ngữ hiện hành, từ đó đề xuất hệ thống các phương thức chuyển dịch khoa học nhằm chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt và nâng cao chất lượng biên soạn giáo trình, từ điển chuyên ngành. Công trình mang lại giá trị học thuật và thực tiễn rõ rệt cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ, đào tạo báo chí và thực hành tác nghiệp truyền thông tại Việt Nam.