Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Di tích chùa Dạm trong hệ thống các chùa thời Lý" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Đáp, chuyên ngành Khảo cổ học (mã số: 9 22 90 17), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Tống Trung Tín và TS. Trịnh Hoàng Hiệp, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chùa Dạm (tên chữ là Đại Lãm tự, Cảnh Long Đồng Khánh tự, hay Thần Quang tự) tọa lạc tại sườn phía Nam núi Dạm, thuộc thôn Tự, xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Công trình được khởi dựng dưới triều vua Lý Nhân Tông từ mùa đông năm 1086 (Quảng Hựu thứ 2) đến mùa hạ năm 1094 (Hội Phong thứ 3) mới hoàn thành, sau đó tiếp tục được xây dựng bổ sung ba ngọn tháp chỏm đá vào năm 1105 (Long Phù thứ 5). Đây là công trình tôn giáo quy mô lớn của vương triều mang tính chất đại danh lam kiêm hành cung Hoàng gia.

Toàn tỉnh Bắc Ninh ghi nhận còn 23 dấu tích chùa tháp thời Lý, song không còn một công trình kiến trúc nào tồn tại nguyên vẹn trên mặt đất. Trước khi tiến hành các đợt nghiên cứu khảo cổ học tổng thể, nhận thức về chùa Dạm chủ yếu dựa vào thư tịch cổ, văn bia thời Lê Trung Hưng (năm 1694) và một số dấu tích lộ thiên như cột đá chạm rồng, các bờ kè đá xếp giật cấp. Toàn bộ thông tin về mặt bằng tổng thể, cấu trúc nền móng, hệ thống hố gia cố chân tảng, kỹ thuật xử lý nền đá gốc, vật liệu xây dựng và trang trí kiến trúc gần như chưa được làm sáng tỏ. Khoảng trống lớn nhất là việc thiếu vắng dữ liệu khai quật địa tầng quy mô lớn để xác định quy hoạch mặt bằng, tính chất kỹ thuật và tiến trình biến đổi của di tích từ thời Lý qua các thời Trần, Lê, Nguyễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Tổng hợp, cung cấp kết quả nghiên cứu về cột đá và các tháp của các nhà nghiên cứu đi trước; đưa ra nhận định về cột đá chùa Dạm dựa trên kết quả khai quật tổng thể.
  2. Xác định đặc điểm cơ bản của các tháp chùa Dạm và so sánh đặc trưng để làm rõ vị trí, vai trò của chùa Dạm trong hệ thống di tích chùa tháp thời Lý.
  3. Đưa ra các giải thích khoa học về mặt bằng kiến trúc, quy mô, kỹ thuật xây dựng, trang trí kiến trúc; xác lập bằng chứng vật chất về những lần trùng tu vào thời Trần, thời Lê Trung Hưng và mặt bằng thời Nguyễn.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành bốn nội dung:

  1. Nhận thức và làm rõ cấu trúc mặt bằng chùa Dạm thời Lý, thời Trần và các giai đoạn sau.
  2. Xác định công năng của các công trình trong quần thể kiến trúc chùa Dạm, đặc biệt là công năng các công trình thời Lý qua phân tích di tích và di vật khảo cổ học kết hợp các nguồn sử liệu.
  3. So sánh, phân tích đối chiếu giữa chùa Dạm với các di tích chùa, tháp thời Lý khác (như chùa Phật Tích, chùa Cao, núi Ngô Xá, chùa Long Đọi Sơn, chùa Lạng, chùa Bà Tấm, tháp Tường Long) nhằm tìm hiểu lịch sử kiến trúc Phật giáo Việt Nam.
  4. Phân tích, đánh giá giá trị di sản văn hóa, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các dấu tích kiến trúc, nền móng, kè đá, hố gia cố chân tảng, hệ thống thoát nước và các loại hình di vật (vật liệu kiến trúc, đồ gốm sứ, đồ sành, đồ kim loại, bia ký) xuất lộ tại di tích chùa Dạm; đồng thời đối chiếu với di tích, di vật tại một số ngôi chùa, tháp thời Lý khác ở khu vực Bắc Bộ.
  • Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu tại di tích chùa Dạm (xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh) trên quy mô 4 cấp nền; mở rộng so sánh với các di tích thời Lý tại Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm là giai đoạn thời Lý (thế kỷ XI - XIII); đồng thời khảo sát các giai đoạn trùng tu, kế thừa dưới thời Trần, Lê Trung Hưng và thời Nguyễn phục vụ việc phân tách địa tầng và tiến trình di tích.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước

Quá trình nghiên cứu chùa Dạm được tác giả chia thành hai giai đoạn rõ rệt:

  1. Giai đoạn trước khi khai quật khảo cổ học (trước năm 2009): Các nghiên cứu dựa chủ yếu vào nguồn tài liệu cổ sử gồm: Đại Việt sử ký toàn thư (Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên), Việt sử lược, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, An Nam chí nguyên (Cao Hùng Trưng), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), văn bia Đại Lãm Thần Quang tự trùng tu bi ký (khắc năm Chính Hòa thứ 14 - 1694), cùng bài thơ Đại Lãm Thần Quang tự của vua Trần Nhân Tông. Về mặt học thuật hiện đại, các tác giả chủ yếu tập trung khảo sát di vật lộ thiên là cột đá chạm rồng và hình thành hai luồng quan điểm đối lập:
  • Thuyết coi cột đá là biểu tượng Linga (ngẫu tượng phồn thực): Tiêu biểu là các công trình của Phan Cẩm Thượng (1997, Điêu khắc cổ Việt Nam), Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long (2010, Chùa Việt Nam), Trần Ngọc Thêm (1996, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam; 2011, Cơ sở văn hóa Việt Nam), Chu Quang Trứ (1999, 2000, 2012, Sáng giá chùa xưa, Mỹ thuật Lý Trần - mỹ thuật Phật giáo), Trần Lâm Biền (2000, Một con đường tiếp cận lịch sử), Tạ Chí Đại Trường (2006, Thần - người và đất Việt; 2012). Hướng tiếp cận này suy diễn từ hình dạng khối trụ và bối cảnh tiếp xúc văn hóa Đại Việt - Champa thế kỷ XI.
  • Thuyết coi cột đá là phế tích của một công trình kiến trúc đỡ đài sen: Bắt đầu từ những quan sát thực tế kết cấu của Nguyễn Bá Lăng, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Du Chi, sau đó được củng cố bởi Ngô Văn Doanh (1990, Hình tượng Quan Âm Nam Hải và cột đá chùa Dạm), Nguyễn Hùng Vĩ (2001, 2011, Quan sát cột đá Chùa Một Cột ở núi Dạm), Trần Trọng Dương (2012, Chùa Một Cột không phải là chùa!, Cột đá chùa Dạm có phải linga?), Trần Thị Kim Anh (2012), Nguyên Khôi (2012). Quan điểm này căn cứ vào hệ thống lỗ mộng xà gỗ còn lại trên thân và đỉnh cột để khẳng định đây là cấu kiện kiến trúc dạng trụ đỡ liên hoa đài tương tự quy thức chùa Diên Hựu.
  1. Giai đoạn sau khi thám sát và khai quật khảo cổ học (từ năm 2009 đến năm 2014): Năm 2009, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh thám sát 2 hố (H1 rộng 15m², H2 rộng 10m²) tại cấp nền 3. Từ cuối năm 2011 đến năm 2014, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Viện Khảo cổ học thực hiện các quyết định khai quật tổng thể số 4322/QĐ-BVHTTDL, số 3499/QĐ-BVHTTDL và số 1006/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tổng diện tích khai quật trên bốn cấp nền đạt trên 6.000m². Kết quả bước đầu được Nguyễn Văn Đáp công bố trên Tạp chí Khảo cổ học số 6 năm 2017.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án giải quyết khoảng trống tồn tại nhiều thập kỷ về cấu trúc mặt bằng tổng thể của chùa Dạm. Thay vì giới hạn ở việc tranh luận biểu tượng của cột đá bằng phương pháp tư biện, tác giả sử dụng toàn bộ khối tư liệu địa tầng thực tế từ cuộc khai quật quy mô lớn trên bốn cấp nền để phục dựng mặt bằng kiến trúc liên hoàn "tháp trước, chùa sau", hệ thống kè đá, hố gia cố chân tảng, cống rãnh tiêu thoát nước và mối tương quan giữa cột đá với móng tháp cấp nền 2, tháp trung tâm cấp nền 3 và tòa nhà chính cấp nền 4.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử vào việc nhận thức các hiện tượng lịch sử, văn hóa trong mối liên hệ với điều kiện kinh tế - xã hội thời Lý. Quá trình xử lý tư liệu dựa trên khung lý thuyết của khảo cổ học kiến trúc và khảo cổ học lịch sử, kết hợp phương pháp nghiên cứu địa tầng học khảo cổ để xác lập niên đại tương đối và niên đại tuyệt đối cho từng giai đoạn di tích.

Luận án chuẩn hóa và sử dụng hệ thống thuật ngữ kỹ thuật kiến trúc cổ:

  • Đấu củng: Kết cấu gồm "đấu" (bệ đỡ) và "củng" (tay đỡ hình khuỷu) để đỡ phần mái chìa.
  • Bích ngõa: Ngói tráng men xanh lục.
  • Uyên ngõa: Ngói uyên ương úp nóc.
  • Liên ngõa, ngói vảy: Ngói hình cánh sen và ngói vảy lợp mái.
  • Thủy ba: Đồ án hoa văn sóng nước/núi nhiều tầng.
  • Hố gia cố chân tảng (HGCCT): Thay thế các thuật ngữ cũ như móng trụ, móng cột, trụ sỏi; chỉ kết cấu hố đào sâu vào sinh thổ hoặc đục vào đá gốc, đầm chặt lớp sỏi cuội trộn đất sét laterite để chịu lực cho tảng kê cột.
  • Rãnh thoát nước: Mương dẫn nước không có nắp đậy, phân biệt với cống xây ngầm hoặc có nắp.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  1. Phương pháp khảo cổ học truyền thống: Khai quật mở rộng địa tầng, bóc tách theo lớp văn hóa; đo đạc, lập bản vẽ kỹ thuật mặt bằng, mặt cắt; chụp ảnh tư liệu; phân loại, thống kê hiện vật; khảo tả chi tiết hình thái học và hoa văn trang trí.
  2. Phương pháp phân tích so sánh loại hình: So sánh các cấu kiện kiến trúc (chân tảng hoa sen, gạch lát, ngói, con giống nóc mái) và cấu trúc gia cố móng của chùa Dạm với các di tích thời Lý tương đồng như chùa Phật Tích, chùa Long Đọi Sơn, núi Ngô Xá, chùa Lạng, chùa Bà Tấm và khu di tích Hoàng thành Thăng Long để xác định niên đại và mối quan hệ loại hình.
  3. Phương pháp liên ngành:
  • Khai thác tài liệu văn bản học Hán Nôm và thư tịch cổ nhằm đối chiếu thời gian khởi dựng, xây tháp, đổi tên chùa và các lần trùng tu.
  • Vận dụng kiến thức địa chất học để phân tích đá cát kết sa thạch dùng làm bờ kè, chân tảng, cột đá; phân tích đặc điểm địa hình sườn dốc núi Dạm.
  • Khai thác tư liệu dân tộc học, truyền thuyết dân gian quanh vùng núi Lãm Sơn (sự tích đền Vua, ngòi Con Tên, giếng Bống, truyện Tấm Cám) để hỗ trợ nhận diện địa danh và công năng ngoại vi.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu khảo cổ học sơ cấp thu thập trực tiếp từ các hố thám sát năm 2009 và các đợt khai quật tổng thể từ cuối năm 2011 đến năm 2014 trên diện tích hơn 6.000m² tại bốn cấp nền di tích chùa Dạm. Dữ liệu thứ cấp gồm thác bản bia Hán Nôm số 5459, 5460 (Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm, tập 6), bia đá tại di tích, hệ thống bản vẽ địa tầng, hồ sơ di tích của Bảo tàng Bắc Ninh và Viện Khảo cổ học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này gồm 21 trang, tập trung làm rõ bối cảnh vị trí địa - văn hóa, nguồn tư liệu lịch sử và tổng thuật các công trình nghiên cứu về di tích chùa Dạm.

  • Vị trí địa lý và cảnh quan môi trường: Bắc Ninh nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng (diện tích tự nhiên 822,71 km², địa hình nghiêng Tây Bắc - Đông Nam). Vùng đất có mạng lưới sông Đuống (sông Thiên Đức), sông Cầu bao bọc. Chùa Dạm tọa lạc tại sườn Nam dãy núi Dạm (núi Đại Lãm), có độ cao trên dưới 70m so với mực nước biển, nhìn ra sông Đuống và ngòi Con Tên, xung quanh được bao bọc bởi các dải đồi mang thế đất tứ linh theo quan niệm phong thủy muộn. Tuyến đường thủy dọc sông Thiên Đức và tuyến đường bộ men triền núi nối vùng Đông Bắc với trung tâm tôn giáo Phật Tích - Luy Lâu là trục giao thông kết nối các đoàn kinh lý Hoàng gia từ Thăng Long về chùa Dạm.
  • Lịch sử vùng đất: Khái quát tiến trình biến đổi đơn vị hành chính qua các thời kỳ: từ bộ Vũ Ninh thời Hùng Vương, quận Giao Chỉ (trị sở Luy Lâu) thời Bắc thuộc, lộ Bắc Giang (phủ Thiên Đức, phủ Siêu Loại) thời Lý, qua thời Trần, Lê (xứ Kinh Bắc) đến thời Nguyễn và hiện đại.
  • Tư liệu cổ sử và văn bia: Đối chiếu các mốc niên đại xây dựng chùa:
    • Năm 1086 (Quảng Hựu 2): Vua Lý Nhân Tông bắt đầu cho xây chùa ở núi Đại Lãm.
    • Năm 1087 (Quảng Hựu 3): Vua ngự giá đến Lãm Sơn, ban yến cho quần thần trong đêm, làm 2 bài thơ Lãm Sơn dạ yến.
    • Năm 1088 (Quảng Hựu 4): Khởi công xây tháp chùa Lãm Sơn.
    • Năm 1094 (Hội Phong 3): Khánh thành tháp và chùa, vua ban tên chùa là "Cảnh Long Đồng Khánh", ngự đề biển chữ triện.
    • Năm 1105 (Long Phù 5): Làm thêm 3 ngọn tháp chỏm đá tại chùa Lãm Sơn.
    • Văn bia năm Chính Hòa thứ 14 (1694) xác nhận việc hưng công trùng tu chùa Thần Quang vào các năm 1693 - 1694. Tác giả chỉ ra tên gọi "Thần Quang" bắt đầu xuất hiện trong bài thơ của vua Trần Nhân Tông (Đại Lãm Thần Quang tự), nhiều khả năng do kiêng húy tên vua đầu triều Trần Cảnh nên chữ "Cảnh" trong Cảnh Long Đồng Khánh được đổi thành Thần Quang.
  • Lịch sử nghiên cứu khảo cổ học: Trình bày chi tiết kết quả đào thám sát năm 2009 (20m²) và khái quát quy mô đợt khai quật tổng thể 2011 - 2014, phân tích sự chuyển dịch từ tranh luận lý thuyết bàn giấy về cột đá sang nghiên cứu thực chứng cấu trúc khảo cổ học toàn diện.

Chương 2: Di tích kiến trúc và niên đại

Chương 2 có dung lượng 28 trang, mô tả chi tiết địa tầng, bình đồ kiến trúc, kỹ thuật kè đá khối và các cấu kiện nền móng xuất lộ trên bốn cấp nền:

          [ CẤP NỀN 4: TÒA NHÀ TRUNG TÂM (628,12m²) + HÀNH LANG ĐÔNG - TÂY ]
          [ CẤP NỀN 3: THÁP TRUNG TÂM (7,9x7,9m) + HÀNH LANG ĐÔNG - TÂY ]
          [ CẤP NỀN 1: TAM QUAN + HAI DÃY HÀNH LANG ĐÔNG - TÂY ]
  • Mặt bằng tổng thể bốn cấp nền: Bốn cấp nền được cải tạo dựa vào độ dốc tự nhiên của sườn núi đá Dạm, mỗi cấp đều được xây bờ kè bằng đá sa thạch xếp khan liên kết mộng hoặc xếp khít, tạo nên các mặt bằng giật cấp liên hoàn từ thấp lên cao:
    • Cấp nền 1: Giữ vai trò lối vào quần thể. Xuất lộ hệ thống dấu tích kiến trúc Tam quan và 2 dãy hành lang Đông - Tây. Khu vực lối lên cấp nền 2 xuất lộ 09 chân tảng đá chạm hoa sen (phía Đông 04, phía Tây 04, tim trung tâm 01) cùng 08 móng gia cố chân tảng bằng sỏi cuội phân bố về phía Nam (mỗi bên 04 móng, khoảng cách giữa các móng 3,3 - 3,4m, kích thước móng 1,3 - 1,4m). Lòng hành lang rộng 5,7 - 5,75m; bước gian cách nhau 1,93 - 1,95m.
    • Cấp nền 2: Bình đồ gồm hai cụm kiến trúc đối xứng Đông - Tây, ở giữa là trục sân và 2 công trình trọng điểm: cột đá chạm rồng và móng tháp đá.
      • Kiến trúc phía Đông: diện tích 206,72m² (dài Bắc - Nam 16,15m, rộng Đông - Tây 12,8m); lòng nhà rộng 92,63m² (11,8m x 7,85m); khoảng cách giữa 2 cột cái 5,75 - 5,8m; khoảng cách cột cái - cột quân 2,9 - 3m; khoảng cách hai vì trung tâm 5,2m.
      • Kiến trúc phía Tây: diện tích 210,6m² (dài 16,2m, rộng 13m); lòng nhà rộng 102,58m² (11,75m x 8,73m); hiên bao quanh rộng 2,1 - 2,2m.
      • Cột đá chạm rồng: Nằm ở phía Đông cấp nền 2. Hố thám sát kiểm tra chân cột năm 2013 phát hiện lớp móng gia cố bằng cuội sỏi trộn đất laterite dày tới 1,6m bọc quanh sinh thổ, xác nhận cột nằm nguyên vị trí ban đầu. Bệ kè chân cột gồm 8 hàng đá sa thạch quây tròn hình nón cụt thu nhỏ hướng tâm, cao 2,9m, đường kính đáy 4,80m; hàng dưới để trơn, 7 hàng trên chạm nổi hoa văn "núi/sóng nước" (thủy ba); các viên đá liên kết bằng lỗ mộng đuôi cá đổ chì. Thân cột hình trụ gồm 2 phần ngăn cách bởi gờ chỉ: phần dưới cao 1,02m, đường kính 1,20 - 1,38m chạm đôi rồng cuộn ôm thân cột theo đồ án "song long hiến châu" ngậm ngọc; phần trên cao 1,33m, đường kính 1,28 - 1,38m có 2 tầng lỗ mộng chịu lực (tầng dưới gồm 6 lỗ mộng lớn góc vát nghiêng 66°, cao 0,36m, rộng 0,16m, sâu 0,16m; tầng trên gồm 12 lỗ mộng nhỏ rộng 0,10m, sâu 0,06m). Đỉnh cột có một lỗ mộng trung tâm (dài 0,60m, rộng 0,19 - 0,225m, sâu 0,07m) dùng để ngàm xà đỡ kết cấu sàn đài sen/kiến trúc bên trên.
      • Móng tháp đá thời Lý: Nằm ở phía Tây cấp nền 2, đối xứng trục ngang Đông - Tây với cột đá chạm rồng (cửa tháp mở về hướng Đông nhìn thẳng sang cột đá; ngược lại rồng trên cột đá chầu về hướng tháp). Bình đồ tháp hình vuông, diện tích 71,57m² (chiều Đông - Tây 8,46 - 8,49m; chiều Bắc - Nam 8,46m). Đá xây tường móng dày 0,30m, liên kết mộng đuôi cá đổ chì, bên ngoài ốp 5 hàng đá trang trí hoa văn sóng nước/núi (chiều cao còn lại 1,26 - 1,36m). Cửa tháp rộng 2,60m. Trong lòng tháp đắp đất laterite trộn sỏi và gạch ngói vỡ; phía trên có một bia đá đặt trên lưng rùa đá (rùa dài 1m, rộng 1m; chữ trên bia đã mờ, chỉ nhận diện được 2 chữ "Tín... thí...").
      • Giếng Bống thời Lý: Đào sâu từ 3m đến 5m xuyên qua tầng đất vào đá gốc. Thành giếng xếp đá tự nhiên; sân giếng kè bờ gạch chỉ kích thước 10,04m x 7,36m, xung quanh có rãnh dẫn nước lắng lọc tạp chất.
      • Lối lên xuống cấp nền 2 lên cấp nền 3: Gồm 2 lối bậc đá đối xứng ở cánh Đông và cánh Tây, chiều dài 11,10m, rộng 2,33 - 2,39m; còn lại từ 5 đến 12 bậc đá sa thạch. Tại bậc thứ nhất và bậc thứ bảy có đục các lỗ mộng hình chữ nhật dùng để cắm chân cột dựng kết cấu mái che hành lang dốc.
    • Cấp nền 3:
      • Hành lang phía Đông và phía Tây: Hai công trình chạy dài theo trục Bắc - Nam, diện tích lần lượt là 212,27m² và 224,29m². Điểm đặc thù là vị trí trung tâm xuất lộ 04 hố gia cố chân tảng kép (móng kép), tạo cấu trúc 6 vì (4 vì 4 hàng chân cột, 2 vì 2 hàng chân cột). Khoảng cách giữa hai cột cái 5,80m; khoảng cách cột cái - cột quân 2,70m. Rãnh thoát nước được đục trực tiếp vào đá gốc chạy dọc theo bờ tường kè đá.
      • Móng tháp trung tâm thời Lý: Xuất lộ tại vị trí trung tâm cấp nền 3. Móng tháp cấp dưới cùng kích thước 7,90m x 7,90m, hướng Nam lệch Đông 15°. Cửa tháp mở về phía Nam rộng 1,60m. Vị trí tháp nằm cân xứng chính giữa hai dãy hành lang Đông - Tây cấp 3 và nằm thẳng tim với gian trung tâm của tòa đại điện trên cấp nền 4, xác lập mô thức quy hoạch "tháp trước, chùa sau".
      • Dấu tích kiến trúc thời Nguyễn: Tọa lạc đè trực tiếp lên móng tháp thời Lý, diện tích khoảng 400m² (chiều Đông - Tây 19m, chiều Bắc - Nam 21m) gồm 5 gian, tái sử dụng 12 chân tảng đá hoa sen thời Lý hạ thấp độ cao bằng mặt nền lát gạch, có dấu tích bệ đặt tượng Phật và hố thiêu hương.
    • Cấp nền 4: Là cấp nền cao nhất, nơi tọa lạc kiến trúc trung tâm chính điện:
      • Tòa nhà trung tâm: Hướng Nam lệch Đông 15°, diện tích 628,12m² (dài Đông - Tây 32,8m; rộng Bắc - Nam 19,15m). Phần lòng nhà rộng 386,42m² (27,8m x 13,9m) chia làm 5 gian 2 chái; ba gian giữa rộng 5,75 - 5,80m; hai gian bên rộng 4m; hiên bao quanh 4 phía rộng 2,58m. Mỗi vì có 6 hàng chân cột, hệ thống cột hiên đặt thấp hơn cột cái và cột quân 0,60m. Dọc thềm hiên và trong nền phát hiện 141 hố cột nhỏ đục trực tiếp vào đá gốc (gồm 39 hố không đầm sỏi và 102 hố đầm cuội sỏi chặt ở đáy sâu 0,08 - 0,20m) được tác giả luận giải là kết cấu nâng sàn gỗ kiến trúc trên nền đá dốc. Bậc cửa gian chính còn dấu tích thành bậc đá chạm rồng và chạm hổ.
      • Hành lang Đông - Tây cấp nền 4: Nối liên hoàn với tòa trung tâm; hành lang Tây dài 11,10m, rộng 7,50m gồm 4 gian; hệ thống rãnh nước đục trực tiếp vào nền đá gốc.

Bảng tổng hợp thông số kiến trúc các cấp nền thời Lý tại chùa Dạm:

Cấp nền Loại hình kiến trúc chính Diện tích / Kích thước Cấu trúc chịu lực / Nền móng Di vật kiến trúc đặc thù
Cấp 1 Tam quan và 2 dãy hành lang Đông - Tây Lòng hành lang rộng 5,7 - 5,75m; bước gian 1,93 - 1,95m 08 hố gia cố chân tảng sỏi cuội (1,3 - 1,4m); tường kè đá khối 09 chân tảng đá chạm cánh sen; bó nền gạch
Cấp 2 Hành lang Đông, hành lang Tây, cột đá, móng tháp đá, giếng nước Kiến trúc Đông: 206,72m²; Kiến trúc Tây: 210,6m²; Móng tháp: 71,57m² Bó nền gạch chỉ; hố gia cố cuội sỏi; kè chân cột đá 8 hàng đường kính 4,8m Cột đá chạm đôi rồng ngậm ngọc; bệ tháp chạm hoa văn sóng nước; rùa đá đội bia; giếng Bống kè đá
Cấp 3 Hành lang Đông, hành lang Tây, móng tháp trung tâm Hành lang Đông: 212,27m²; Móng tháp: 7,9m x 7,9m; Kiến trúc thời Nguyễn: 400m² 04 móng trụ kép trung tâm mỗi bên; rãnh cống thoát nước đục đá gốc và xây gạch Móng tháp đá hướng Nam lệch Đông 15°; thành bậc đá; rãnh thoát nước chữ L
Cấp 4 Tòa kiến trúc trung tâm (Chính điện) và 2 hành lang Tòa trung tâm: 628,12m² (lòng nhà 386,42m²); Hành lang Tây: 11,1m x 7,5m 5 gian 2 chái, vì 6 hàng chân cột; 141 hố cột đục đá gốc đỡ sàn; hiên hạ bậc 0,6m Thành bậc đá chạm rồng và chạm hổ; chân tảng đá cánh sen; rãnh đục nền đá gốc

Chương 3: Hiện vật và niên đại

Chương 3 có độ dài 53 trang, phân loại chi tiết khối lượng lớn di vật thu được qua khai quật và khảo sát thực địa:

  • Di vật lộ thiên còn sót lại: Khảo tả kỹ thuật và mỹ thuật các cấu kiện đá khối: bờ kè đá sa thạch, khối đá kè chân cột chạm sóng nước ba tầng, thân cột đá chạm đôi rồng thời Lý uốn khúc hình sin mượt mà, chân đế móng tháp đá chạm văn sóng nước nhịp điệu tầng lớp, con rùa đá đội bia ở cấp nền 2 và 2 tấm bia đá thời Lê Trung Hưng.
  • Vật liệu kiến trúc phát hiện qua khai quật:
    • Chân tảng đá: Phổ biến là loại chân tảng đá sa thạch hình vuông, bề mặt đục nổi gờ tròn chạm cánh sen kép hai lớp (cánh sen thon dài, mép chạm hoa văn uốn lượn mang đặc trưng thời Lý), lỗ đặt chân cột gỗ có đường kính từ 0,45m đến 0,55m.
    • Gạch xây và gạch lát: Gạch đất nung thời Lý gồm gạch lát sàn hình vuông (kích thước khoảng 38 - 40cm x 38 - 40cm, dày 6 - 7cm) in nổi hoa văn cúc dây, hoa sen nở góc; gạch chỉ xây tường móng, thành rãnh thoát nước; gạch bìa; gạch vồ thời Lê.
    • Ngói lợp mái và ngói trang trí: Xuất lộ ngói mũi sen đơn, ngói mũi sen kép, ngói vảy, ngói chiếu phẳng lót dưới. Đáng chú ý là sự xuất hiện của các mảnh ngói tráng men xanh (bích ngõa), ngói uyên ương (uyên ngõa) dùng để ốp nóc mái nhà của các công trình kiến trúc Hoàng gia cấp cao.
    • Tượng con giống và trang trí bờ mái: Tượng đầu rồng, đầu phượng đất nung cỡ lớn, tượng uyên ương tinh xảo gắn trên bờ nóc; lá đề trang trí rồng chầu, ngọc báu bốc lửa.
  • Đồ gốm sứ và đồ dùng sinh hoạt: Mảnh đồ gốm men ngọc (celadon), gốm men trắng, gốm men ngà thời Lý; các mảnh bát, đĩa gốm hoa nâu thời Trần; đồ gốm hoa lam thời Lê Sơ và Lê Trung Hưng; các mảnh thạp sành, chum sành phục vụ sinh hoạt qua nhiều thời kỳ, phản ánh đời sống tôn giáo kéo dài liên tục tại di tích.

Chương 4: Di tích chùa Dạm trong hệ thống các chùa thời Lý

Chương 4 có độ dài 37 trang, đặt chùa Dạm vào hệ thống di tích Phật giáo thời Lý và đề xuất giải pháp bảo tồn:

  • So sánh chùa Dạm với hệ thống 9 di tích chùa, tháp thời Lý tiêu biểu:
    1. Núi Ngô Xá (Hà Nam): Nơi phát hiện dấu tích tháp Chương Sơn; đối chiếu về quy mô gạch ngói và kỹ thuật xây móng tháp đá.
    2. Tháp Tường Long (Đồ Sơn, Hải Phòng): Tháp xây trên đỉnh núi cạnh bờ biển; so sánh cấu trúc tường gạch ngoài ốp đá và lòng tháp nện đất.
    3. Chùa Lạng (Hưng Yên): So sánh hệ thống chân tảng đá hoa sen và kỹ thuật xử lý móng cột cuội sỏi trên nền đất yếu phù sa châu thổ đối lập với nền đá núi ở chùa Dạm.
    4. Đền Cầu Từ (Bắc Ninh): Dấu tích kiến trúc tôn giáo thời Lý cùng địa bàn tỉnh.
    5. Chùa Cao (Bắc Giang): Công trình kiến trúc Phật giáo trên đồi núi cao, có sự tương đồng về lựa chọn cảnh quan phong thủy.
    6. Chùa Phật Tích (Bắc Ninh): Di tích đồng dạng rõ nhất về bố cục giật cấp trên sườn dốc núi Lạn Kha, hệ thống chân tảng chạm rồng, bệ tượng Phật A Di Đà bằng đá và các tầng tháp gạch. So sánh cho thấy chùa Dạm có sự khác biệt lớn khi sở hữu cột đá chạm rồng đỡ đài sen và việc bố trí tháp đá đăng đối ngay ở cấp nền 2.
    7. Chùa Linh Xứng (Thanh Hóa): Đối chiếu qua văn bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh của Pháp Bảo về phương thức quy hoạch đại danh lam tựa lưng vào núi.
    8. Chùa Long Đọi Sơn (Hà Nam): Quần thể chùa và tháp Sùng Thiện Diên Linh; tương đồng về tầm vóc danh lam Hoàng gia do đích thân vua Lý Nhân Tông và triều đình hưng công.
    9. Chùa Bà Tấm (Gia Lâm, Hà Nội): Di tích gắn liền với Hoàng thái hậu Ỷ Lan; đối chiếu về hệ thống tượng điêu khắc đá (sư tử đá) và gạch ngói xây dựng.
  • Đối chiếu với kiến trúc cung đình Thăng Long: Hệ thống ngói bích ngõa, ngói chạm uyên ương, đầu rồng trang trí bờ nóc mái và kỹ thuật hố gia cố chân tảng sỏi cuội đầm laterite tại chùa Dạm hoàn toàn trùng khớp về quy cách kỹ thuật và trình độ mỹ thuật với khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long (18 Hoàng Diệu), khẳng định sự điều động trực tiếp lực lượng thợ ngự xưởng Hoàng gia trong việc xây dựng chùa Dạm.
  • Đặc trưng mô hình kiến trúc Phật giáo thời Lý qua chùa Dạm:
    • Bố cục bình đồ phân cấp tựa núi (tiền thấp hậu cao) với trục liên hoàn: cổng mở ở cấp 1, không gian nghi lễ tháp - đài sen ở cấp 2, tháp trung tâm ở cấp 3 và tòa chính điện đại quy mô ở cấp 4.
    • Sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc nhân tạo đồ sộ với địa hình tự nhiên hiểm trở, triệt để khai thác nền đá gốc vừa làm móng chịu lực vừa đục rãnh thoát nước.
    • Phản ánh chức năng lưỡng hợp: Vừa là đại danh lam tu tập Phật giáo, vừa là hành cung nghỉ ngơi, ngự du, đãi yến quần thần của Hoàng gia triều Lý.
  • Đề xuất phương án bảo tồn di tích:
    • Cần bảo tồn nguyên trạng hệ thống tường kè đá khối tự nhiên trên cả bốn cấp nền; chống sạt lở và xói mòn chân kè bằng phương pháp mạch liên kết thẩm thấu.
    • Bảo tồn tại chỗ cấu trúc nền móng móng tháp đá, giếng Bống, cột đá cấp nền 2 và hệ thống hố gia cố chân tảng sỏi cuội.
    • Đối với cấp nền 3 và cấp nền 4: Tôn tạo phân định ranh giới giữa dấu tích thời Lý với kiến trúc thời Nguyễn; làm mái che bảo vệ các đoạn địa tầng hố đục đá gốc nhạy cảm.
    • Ứng dụng công nghệ quét số hóa 3D laser và xây dựng mô hình giả định thực tế ảo để phục dựng không gian chùa Dạm thời Lý phục vụ nghiên cứu và tham quan du lịch mà không làm xâm hại phế tích gốc dưới lòng đất.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Làm rõ cấu trúc mặt bằng tổng thể: Luận án là công trình khoa học đầu tiên công bố và giám định toàn diện mặt bằng tổng thể liên hoàn trên 4 cấp nền của di tích chùa Dạm thời Lý thông qua phương pháp khảo cổ học hiện trường quy mô trên 6.000m². Khẳng định mô hình quy hoạch "tháp trước, chùa sau" trên địa hình phân bậc sườn núi.
  2. Giải quyết vấn đề cột đá chùa Dạm: Dựa trên hố thám sát xác định địa tầng gia cố móng cuội sỏi dày 1,6m và việc đo vẽ, phân tích kỹ thuật hệ thống 18 lỗ mộng xà gỗ vát góc 66° cùng mộng trung tâm đỉnh cột, luận án bác bỏ thuyết ngẫu tượng Linga thuần túy, chứng minh cột đá là kết cấu chịu lực bằng đá của một đài sen (liên hoa đài) bằng gỗ đặt tượng thờ, tương tự cấu trúc chùa Một Cột (chùa Diên Hựu) tại Thăng Long.
  3. Phát hiện cấu trúc kiến trúc trung tâm cấp nền 4: Phát hiện mặt bằng tòa đại điện 5 gian 2 chái rộng 628,12m² với 141 hố cột đục vào đá gốc có đầm cuội sỏi, cung cấp bằng chứng vật chất về kỹ thuật làm sàn kiến trúc nâng cao thích ứng với địa hình dốc của người thợ thời Lý.
  4. Xác lập tiến trình lịch sử di tích: Phân tách rõ ràng các tầng văn hóa và vết tích kiến trúc qua các thời kỳ: khởi dựng quy mô lớn thời Lý (1086), tu sửa thời Trần (đổi tên Thần Quang), trùng tu thời Lê Trung Hưng (1693 - 1694) và thu hẹp thành chùa nhỏ đặt trên móng tháp vào thời Nguyễn.

Đóng góp thực tiễn và kiến nghị giải pháp

  • Cung cấp toàn bộ hồ sơ đo đạc, bản vẽ mặt bằng, thông số kỹ thuật chuẩn xác về kết cấu kè đá, chân tảng, cống thoát nước làm căn cứ khoa học trực tiếp cho dự án quy hoạch, bảo tồn và phục hồi di tích chùa Dạm của tỉnh Bắc Ninh.
  • Kiến nghị phương án bảo tồn thích hợp: giữ nguyên hiện trạng mặt bằng phế tích khảo cổ, không xây dựng công trình bê tông giả cổ đè lên lõi di tích; ưu tiên phương án phục dựng mô hình kiến trúc bằng công nghệ số và thực hiện các biện pháp gia cố chống xói mòn sườn núi Dạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Do tác động của chiến tranh tiêu thổ kháng chiến năm 1947 và quá trình xâm thực tự nhiên qua gần một nghìn năm, toàn bộ các cấu kiện kiến trúc bằng gỗ, mái ngói bên trên đều đã sụp đổ hoàn toàn; di vật gỗ không còn tồn tại trong tầng văn hóa khiến việc xác định chi tiết kết cấu bộ khung vì mái phải dựa vào ngoại suy từ hệ thống lỗ mộng và chân tảng.
  • Dấu vết kiến trúc trung tâm thời Lý ở khoảng giữa lối lên xuống cấp nền 2 còn sót lại quá ít (chỉ còn vài đoạn gạch chỉ ngắn), chưa đủ dữ kiện để khẳng định chắc chắn công năng công trình vua ngự tiệc như giả thuyết đặt ra.
  • Chức năng của một số hố cột nhỏ đục xuống đá gốc ở gian trung tâm cấp nền 3 và góc thềm cấp nền 4 chưa thể xác định dứt khoát giữa hai khả năng: cột đỡ sàn gỗ sử dụng thường nhật hay lỗ cắm cột giàn giáo kỹ thuật trong quá trình thi công kè núi thời Lý.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi thăm dò và khai quật khảo cổ học ra các khu vực cảnh quan liên đới phụ cận dưới chân núi Dạm: khu vực bến ngòi Con Tên, di chỉ đền Vua, bãi Hội, Thùng Thối nhằm làm sáng tỏ toàn bộ hạ tầng giao thông bến bãi và khu vực phục vụ của Hoàng gia khi về hành cung chùa Dạm.
  • Ứng dụng các phân tích hóa học, thạch học chuyên sâu đối với nguồn gốc đá cát kết sa thạch xây tháp và kè đá để xác định chính xác địa điểm khai thác mỏ đá thời Lý (vùng Đông Triều hay vùng núi địa phương).
  • Hoàn thiện bản vẽ phục dựng 3D mô phỏng cơ học kết cấu xà chịu lực liên hoa đài đặt trên cột đá chùa Dạm.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Khảo cổ học, Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Kiến trúc truyền thống, Mỹ thuật cổ và Văn hóa học khai thác tư liệu thực tế địa tầng, phương pháp tiếp cận khảo cổ học kiến trúc và kỹ thuật khảo tả di vật đá.
  • Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy thực chứng về văn minh Đại Việt thời Lý, nghệ thuật kiến trúc điêu khắc Phật giáo và kỹ thuật xây dựng công trình trên sườn núi.
  • Các nhà quản lý văn hóa, bảo tồn di sản: Cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh và Cục Di sản văn hóa tham chiếu các thông số kỹ thuật nền móng, kích thước móng tháp và phương án gia cố bờ kè đá khi thẩm định, triển khai các dự án tu bổ, tôn tạo di tích chùa tháp thời Lý.
  • Các chương phần đáng tham khảo đặc biệt:
    • Chương 2 (trang 52 - 105): Cung cấp số liệu đo đạc chi tiết về kích thước hố gia cố chân tảng, bờ kè đá, móng tháp và hệ thống lỗ mộng cột đá.
    • Chương 4 (trang 144 - 150): Cung cấp khung so sánh đối sánh hình thái mặt bằng của 9 cụm chùa tháp thời Lý trên địa bàn châu thổ Bắc Bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Cột đá chùa Dạm là ngẫu tượng Linga hay phế tích kiến trúc của một công trình tôn giáo?

Dựa trên kết quả khai quật khảo cổ học địa tầng năm 2013, dưới chân cột đá là một hố gia cố cuội sỏi trộn laterite sâu tới 1,6m giống hệt móng chịu tải của các trụ cột kiến trúc lớn. Trên thân cột có hai tầng lỗ mộng (tầng dưới gồm 6 lỗ mộng lớn góc xiên 66°, tầng trên có 12 lỗ mộng nhỏ) và đỉnh cột có lỗ mộng trung tâm lớn để ngàm xà gỗ. Các thông số kỹ thuật này khẳng định cột đá không phải là biểu tượng Linga Champa như một số nhận định tư biện trước đây, mà là trụ đỡ bằng đá nguyên khối của một công trình kiến trúc gỗ dạng liên hoa đài (đài sen) đặt tượng thờ, tương tự kết cấu chùa Một Cột (chùa Diên Hựu) thời Lý.

2. Mặt bằng tổng thể chùa Dạm thời Lý có quy hoạch và bố cục ra sao qua bốn cấp nền?

Chùa Dạm được quy hoạch trên bốn cấp nền xếp đá sa thạch giật cấp men theo sườn dốc phía Nam núi Dạm, tạo nên cấu trúc "tháp trước, chùa sau":

  • Cấp nền 1: Cổng tam quan và hai dãy hành lang phía ngoài.
  • Cấp nền 2: Sân lễ nghi trung tâm với cột đá đỡ đài sen ở phía Đông đối xứng trục ngang với móng tháp đá rộng 71,57m² ở phía Tây; cạnh đó có giếng Bống kè đá và 2 cụm kiến trúc hành lang Đông - Tây.
  • Cấp nền 3: Hai tòa nhà hành lang dài đối xứng hai bên và một móng tháp trung tâm hình vuông kích thước 7,90m x 7,90m mở cửa về hướng Nam.
  • Cấp nền 4: Tòa đại điện chính quy mô lớn 5 gian 2 chái rộng 628,12m² liên hoàn với hai dãy hành lang mở rộng về hướng Đông và Tây.

3. Móng tháp đá ở cấp nền 2 có đặc điểm quy mô và kỹ thuật xây dựng như thế nào?

Móng tháp đá ở cấp nền 2 có bình đồ hình vuông diện tích 71,57m² (chiều Đông - Tây 8,46 - 8,49m; chiều Bắc - Nam 8,46m). Tường móng được ghép bằng các khối đá sa thạch (dài 0,60 - 0,74m; rộng 0,30m; cao 0,30m) liên kết với nhau bằng lỗ mộng đuôi cá đổ chì nguyên chất. Mặt ngoài tháp ốp 5 hàng đá trang trí chạm nổi đồ án hoa văn sóng nước và núi (thủy ba). Lòng tháp được đầm nén bằng đất đồi laterite trộn sỏi cuội và mảnh vụn gạch ngói; cửa tháp mở về phía Đông rộng 2,60m, có bậc đá dẫn vào bên trong nơi đặt tấm bia đá trên lưng rùa đá.

4. Bằng chứng nào chứng minh chùa Dạm vừa là trung tâm tôn giáo lớn vừa là hành cung của Hoàng gia thời Lý?

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận vua Lý Nhân Tông nhiều lần ngự giá về chùa Lãm Sơn, đêm mở tiệc thết đãi quần thần và ngự chế thơ Lãm Sơn dạ yến. Khảo cổ học đã tìm thấy dấu tích bến thuyền tại ngòi Con Tên dưới chân núi, phế tích đền Vua (nơi vua nghỉ trước khi lên chùa), cùng các loại vật liệu kiến trúc cao cấp chuyên dùng cho công trình cung đình như ngói tráng men xanh (bích ngõa), ngói uyên ương, đầu rồng, đầu phượng đất nung cỡ lớn và đồ án trang trí rồng cuộn thời Lý tinh xảo trên cột đá và thành bậc đá. Bố cục mặt bằng bề thế trên sườn núi cho phép tổ chức đồng thời các nghi lễ Phật giáo quốc gia và các hoạt động kinh lý, đãi yến của triều đình.

5. Dấu tích kiến trúc thời Nguyễn tại cấp nền 3 có mối liên hệ như thế nào với kiến trúc thời Lý?

Thời Nguyễn, sau khi các công trình kiến trúc Hoàng gia thời Lý đã thành phế tích, nhân dân địa phương đã dựng một ngôi chùa nhỏ 5 gian diện tích khoảng 400m² (chiều Đông - Tây 19m, chiều Bắc - Nam 21m) đặt đè trực tiếp lên trên vị trí móng tháp trung tâm thời Lý ở cấp nền 3. Ngôi chùa thời Nguyễn này đã tận dụng, tái sử dụng 12 chân tảng đá hoa sen thời Lý bằng cách đào sâu xuống đất để mặt trên chân tảng nằm ngang bằng với mặt nền lát gạch chỉ mới.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Đáp đã hệ thống hóa và công bố toàn diện nguồn tư liệu khảo cổ học địa tầng từ cuộc khai quật quy mô lớn tại di tích chùa Dạm. Công trình làm rõ mặt bằng kiến trúc liên hoàn trên 4 cấp nền giật cấp bám sát sườn núi, chứng minh kết cấu cột đá là trụ đỡ liên hoa đài và xác lập mô hình quy hoạch đại danh lam kiêm hành cung Hoàng gia dưới triều Lý Nhân Tông. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, phân tách tiến trình lịch sử qua các thời kỳ Lý, Trần, Lê, Nguyễn và tạo dựng cơ sở khoa học xác thực cho công tác bảo tồn, tôn tạo di sản kiến trúc Phật giáo thời Lý tại Việt Nam.