Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa - văn hóa 1. Vị trí địa lý, môi trường cảnh quan Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 822,71 km2, dân số 1 triệu 120 nghìn người, với 8 đơn vị hành chính gồm: thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, các huyện: Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành, Quế Võ, Tiên Du và Yên Phong; có 97 xã, 29 phường, thị trấn; 570 thôn, làng, 161 khu phố [77] (Bản đồ 1). Bắc Ninh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng có tọa độ từ 105054’06’’ đến 106018’50’’ kinh độ Đông, 20058’30’’ đến 210016’00’’ vĩ độ Bắc; Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, Đông giáp tỉnh Hải Dương, Nam giáp tỉnh Hưng Yên, Tây giáp thành phố Hà Nội.
Về kiến tạo địa chất, Bắc Ninh mang những đặc điểm của cấu tạo địa chất vùng trũng sông Hồng và vòng cung Đông Triều vùng Đông Bắc. Cấu tạo đất đá chủ yếu có tuổi từ Cambri đến kỷ Đệ Tứ. Địa hình tương đối bằng phẳng, có hướng dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc không lớn, độ cao phổ biến từ 4m đến 5m so với mặt nước biển. Diện tích đồng bằng chiếm tuyệt đại đa số, đồi núi chỉ chiếm 0,53% diện tích (62,5km2), nhưng hệ thống sông ngòi, ao hồ dày đặc, bình quân từ 1 - 1,2km sông ngòi/km2, trong đó có 3 sông lớn chảy qua là sông Cầu, sông Đuống và sông Lục Đầu - Thái Bình, tạo nguồn nước phong phú cho sản xuất và sinh hoạt.
Tài nguyên Bắc Ninh không phong phú, chủ yếu là nguyên liệu phục vụ cho sản xuất vật liệu xây dựng như đất sét làm gốm, sứ, gạch ngói; một ít vùng có than bùn, đá cát kết và sa thạch. Rừng còn lại rất ít, chủ yếu là rừng trồng, trữ lượng gỗ khoảng 3. Phần lớn đất tự nhiên là đất nông nghiệp, chiếm tới 66% diện tích đất tự nhiên. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình của Bắc Ninh là 230c, lượng mưa trung bình 1400 - 1600mm/năm.
Đặc điểm vị trí, địa lý và môi trường cảnh quan cũng như nguồn tài nguyên đất đai, cho thấy Bắc Ninh vốn có lợi thế về sản xuất nông nghiệp (cấy lúa nước, trồng rau màu…) đồng thời có nhiều thuận lợi cho việc phát triển các nghề thủ công và giao thương buôn bán với các vùng miền trong nước và các nước trong khu vực. Chùa Dạm nằm ở sườn phía Nam của dãy núi Dạm, núi này đột khởi, nổi giữa những cánh đồng, ao hồ, sông, ngòi, bờ bãi là một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ. Nếu nhìn từ trên cao, toàn cảnh núi Dạm là một bức tranh thủy mặc hữu tình, với cánh đồng lúa trải rộng và kéo dài đến bờ Bắc của sông Đuống. Dòng sông Đuống cổ kính như một dải lụa mềm, uốn lượn, bao quanh một vùng đồng bằng trù phú, quanh năm tươi tốt.
Các làng mạc nằm quanh chân núi Dạm được gọi là các “làng Dạm” gồm: 7 Triều Thôn, Sơn Trung, Thái Bảo, Sơn Đông, Sơn Nam, Đa Cấu, Tự Thôn, Môn Tự và Đông Dương (Bản đồ 2). Chùa được bao bọc bởi các ngọn núi Long lĩnh, Phượng hoàng, Kỳ lân, núi Rùa, những ngọn núi này có độ cao trên - dưới 70m so với mặt nước biển, soi mình trên dòng sông Thiên Đức. Các nhà phong thủy xưa đều cho rằng, chùa Dạm được tọa lạc trên đất “Tứ linh”, có rừng thông thoai thoải, không khí trong lành, dưới chân núi là những xóm làng bình yên, trù phú với những người dân chất phác thuần hậu. Sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng ghi chép về núi Dạm như sau: “Ngọn núi lởm chởm, cao vút, có thể lên cao để nhìn ra xa.
Trong núi có chùa Thần Quang trông ra sông Thiên Đức, thông bách xum xuê xanh tốt, nhìn rất dịu mắt”. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú nói về núi Dạm: “Núi Lãm Sơn ở huyện Quế Dương, có 16 xã ở quanh núi, có rất nhiều chùa cổ, cảnh trí sông núi rất âm u tịch mịch. Trên núi là chỗ tu hành của sư Không Lộ, dấu cũ nay vẫn còn”. Vào thời Nguyễn, sách Bắc Ninh toàn tỉnh dư địa chí nói về chùa Dạm: “Suối chảy vòng quanh núi.
Cây cối rườm rà, trông cả vùng như một bức tranh vẽ. Từ xưa ở đây có tiếng là cảnh danh thắng, thi nhân đề thơ rất nhiều”. Có thể thấy, núi Dạm chạy dọc và nghiêng theo hướng Đông - Tây, nên tạo ra các dòng chảy phụ thuộc theo hướng nghiêng của núi. Do vậy, cả triền núi này xưa kia cũng là trục đường bộ nối liền vùng Đông Bắc, Lục Đầu với vùng châu thổ Kinh Bắc.
Trục đường bộ này đi qua các làng: Sơn Đông, Sơn Dương, Sơn Trung của tổng Lãm Dương, qua khu vực núi ba huyện, khu vực Sơn thuộc huyện Tiên Du để về trung tâm Phật giáo Phật Tích. Từ trung tâm Phật giáo Phật Tích, con đường bộ sẽ về trung tâm Phật giáo Tiêu Sơn - Lục Tổ. Đây là tuyến giao thông đường bộ cổ xưa, tuyến đường dựa theo triền núi để đi về được khắp cả vùng Quế Dương, Võ Giàng, Tiên Du. Tuyến đường giao thông đường bộ này có lẽ được hình thành từ thời thuộc Hán, Đường và duy trì đến thời Lý, Trần.
Ngoài tuyến đường giao thông bộ có từ lâu đời, vào thời Lý, sông Thiên Đức (sông Đuống) và ngòi Con Tên là tuyến đường thủy quan trọng phục vụ cho việc đi lại và các chuyến hành hương, thăng viếng của các vị hoàng đế, hoàng gia, giới quý tộc và đông đảo tín đồ Phật tử về chùa Dạm lễ Phật. Đặc điểm lịch sử, văn hóa 1. Tên gọi và địa giới tỉnh Bắc Ninh trong lịch sử Trong lịch sử xây dựng và phát triển của dân tộc, tỉnh Bắc Ninh đã nhiều lần thay đổi về tên gọi và địa giới, đơn vị hành chính. Căn cứ vào các nguồn tài liệu lịch sử và địa chí, thấy được sự thay đổi như sau: thời Hùng Vương và An Dương Vương là bộ Vũ Ninh của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc, đồng thời là nơi đặt quốc đô của nhà 8 nước Âu Lạc là kinh thành Cổ Loa (huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) (128).
Bộ Vũ Ninh thời kỳ này có địa vực rộng, gồm tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay và huyện Gia Lâm, Đông Anh (thành phố Hà Nội ngày nay). Thời thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ với hai huyện Luy Lâu và Long Biên (hoặc Long Uyên), quận trị của quận Giao Chỉ đóng ở Luy Lâu (xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành). Thời thuộc Ngô thuộc quận Giao Châu. Thời thuộc Tấn thuộc quận Giao Chỉ với các huyện Long Biên, Luy Lâu, Vũ Ninh và Khúc Dương.
Đầu đời thuộc Đường, Bắc Ninh được gộp trong địa phận Giao Châu, Đạo Châu, Long Châu thuộc Giao Châu đô hộ phủ, sau thuộc An Nam đô hộ phủ. Thời Lý, Bắc Ninh bao gồm cả phủ Phú Lương. Căn cứ vào các nguồn tài liệu, thời Lý, vùng đất tỉnh Bắc Ninh ngày nay thuộc hai đơn vị hành chính của Lộ Bắc Giang là: Phủ Thiên Đức (gồm Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong, Quế Võ…); Phủ Siêu Loại (vùng Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài). Thời Trần, Bắc Ninh thuộc lộ Bắc Giang, gồm: Lộ Bắc Giang (có huyện Siêu Loại, huyện Gia Lâm); Châu Gia Lâm (có huyện Yên Định, huyện Tế Giang, huyện Thiện Tài); Châu Vũ Ninh (huyện Tiên Du, huyện Vũ Ninh, huyện Đông Ngàn, huyện Từ Sơn, huyện Yên Phong).
Thời Hồ, Bắc Ninh thuộc lộ Bắc Giang như đơn vị hành chính thời Trần. Thời thuộc Minh, Bắc Ninh thuộc phủ Bắc Giang. Thời Lê thuộc Bắc Đạo: Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) Lê Thánh Tông đổi là đạo Bắc Giang. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đến năm 1469 đổi là Kinh Bắc.
Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) đổi là Kinh Bắc xứ. Triều Gia Long (1802 - 1840) đổi tên là trấn Bắc Ninh (1822) và tỉnh Bắc Ninh (1831). Xứ Kinh Bắc thời Lê, trấn rồi tỉnh Bắc Ninh thời Nguyễn, về cơ bản không thay đổi về địa giới và đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính bao gồm 4 phủ (Thuận An, Từ Sơn, Bắc Hà, Lạng Giang) và 20 huyện.
Cuối thời Lê, đầu Nguyễn, Bắc Ninh có hai phủ là phủ Thuận An và phủ Từ Sơn, gồm các huyện sau: Đông Ngàn, Tiên Du, Quế Dương, Võ Giàng, Yên Phong, Siêu Loại, Gia Bình, Lương Tài, Gia Lâm và Văn Giang (10 huyện). Thời thuộc Pháp, vào ngày 10/10/1895, chính quyền thực dân chia tỉnh Bắc Ninh làm hai tỉnh là Bắc Giang và Bắc Ninh. Tỉnh Bắc Ninh gồm các đơn vị hành chính ở phía Nam sông Cầu. Các đơn vị hành chính thuộc phía Bắc sông Cầu thuộc tỉnh mới mang tên tỉnh Bắc Giang.
Sau năm 1895, tỉnh Bắc Ninh gồm các huyện thuộc hai phủ Từ Sơn và Thuận An. Từ năm 1925 đến 1945, các đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh gồm 2 phủ, 8 huyện (78 tổng, 559 xã) là: phủ Thuận Thành, phủ Từ Sơn và các huyện Gia Bình, Gia Lâm, Lang Tài, Quế Dương, Tiên Du, Văn Giang, Võ Giàng, Yên Phong. Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, các đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh có một số thay đổi sau đây: bỏ các đơn vị phủ, tổng. Cấp xã được mở rộng, gồm một 9 số làng (hay thôn).
Tháng 2 năm 1947, huyện Văn Giang nhập vào tỉnh Hưng Yên. Tháng 8 năm 1950, hai huyện Lương Tài và Gia Bình sáp nhập thành huyện Gia Lương. Năm 1962, hai huyện Quế Dương và Võ Giàng sáp nhập thành huyện Quế Võ; huyện Tiên Du sáp nhập với huyện Từ Sơn thành huyện Tiên Sơn. Huyện Gia Lâm tách và nhập vào thành phố Hà Nội cùng với 2 xã của huyện Thuận Thành, 2 xã của huyện Tiên Du và 8 xã của huyện Từ Sơn.
Ngày 1/4/1963 hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang hợp nhất thành tỉnh Hà Bắc. Đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ sáp nhập thành tỉnh Hà Bắc, gồm: thị xã Bắc Ninh, các huyện Yên Phong, Thuận Thành, Tiên Sơn, Quế Võ, Gia Lương. Ngày 6/11/1996, kỳ họp thứ X Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết chia tỉnh Hà Bắc làm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Tỉnh Bắc Ninh được tái lập gồm 1 thị xã Bắc Ninh, 5 huyện: Tiên Sơn, Quế Võ, Yên Phong, Thuận Thành, Gia Lương.
Ngày 11/8/1999, Chính phủ ra Nghị định số 68/1999/CP tách huyện Tiên Sơn thành hai huyện Tiên Du và Từ Sơn, tách huyện Gia Lương thành hai huyện Gia Bình và Lương Tài. Ngày 25/1/2006, Chính phủ ra Nghị định số 15/2006/NĐ-CP thành lập thành phố Bắc Ninh, trên cơ sở thị xã Bắc Ninh. Ngày 24/9/2008, Chính phủ ra Nghị định số 01/2008/NĐ-CP thành lập thị xã Từ Sơn trên cơ sở huyện Từ Sơn.