Luận án tiến sĩ nghiên cứu di tích chùa Dạm trong hệ thống chùa thời Lý

Luận án tiến sĩ khám phá di tích chùa Dạm trong hệ thống chùa thời Lý, làm rõ giá trị lịch sử, kiến trúc và văn hóa Phật giáo thời kỳ này.

Chuyên ngành

Khảo Cổ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

169
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Di tích chùa Dạm

Di tích chùa Dạm là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu thời Lý, được xây dựng dưới sự chỉ đạo của Nguyên Phi Ỷ Lan. Chùa nằm trên núi Dạm, thuộc thôn Tự, xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Chùa Dạm được xây dựng từ năm 1086 và hoàn thành vào năm 1094, với quy mô lớn gồm 4 lớp nền trườn theo sườn núi. Công trình này không chỉ là nơi thờ tự mà còn là hành cung của triều đình, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo thời Lý. Di tích chùa Dạm còn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc và hiện vật khảo cổ, giúp hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa thời kỳ này.

1.1. Lịch sử chùa Dạm

Lịch sử chùa Dạm gắn liền với triều đại nhà Lý, đặc biệt là sự quan tâm của vua Lý Nhân Tông. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, chùa được xây dựng từ năm 1086 và hoàn thành vào năm 1094. Vua Lý Nhân Tông đã nhiều lần thăm chùa, đề thơ và đặt tên cho chùa. Chùa Dạm không chỉ là nơi thờ tự mà còn là biểu tượng của sự kết hợp giữa tôn giáo và quyền lực triều đình. Các dấu tích kiến trúc và hiện vật khảo cổ cho thấy quy mô và tầm quan trọng của chùa trong lịch sử.

1.2. Kiến trúc chùa Dạm

Kiến trúc chùa Dạm được xây dựng trên 4 lớp nền, trườn theo sườn núi, thể hiện sự tinh tế trong thiết kế và kỹ thuật xây dựng. Các nhà kiến trúc thời Lý đã tận dụng thiên nhiên để tạo nên vẻ đẹp hài hòa cho công trình. Chùa Dạm còn lưu giữ nhiều dấu tích như kè đá, hố cột, và hố gia cố chân tảng, phản ánh kỹ thuật xây dựng tiên tiến thời bấy giờ. Những dấu tích này giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về kiến trúc Phật giáo thời Lý.

II. Chùa thời Lý

Chùa thời Lý là một phần quan trọng trong hệ thống di sản văn hóa Việt Nam. Thời kỳ này, Phật giáo phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần của người dân. Các chùa tháp thời Lý được xây dựng với quy mô lớn, thể hiện sự kết hợp giữa tôn giáo và quyền lực triều đình. Hệ thống chùa thời Lý không chỉ là nơi thờ tự mà còn là trung tâm văn hóa, giáo dục và nghệ thuật. Các chùa như chùa Phật Tích, chùa Dạm, và chùa Bà Tấm là những ví dụ tiêu biểu cho kiến trúc và nghệ thuật thời Lý.

2.1. Hệ thống chùa thời Lý

Hệ thống chùa thời Lý được xây dựng rộng khắp trên cả nước, đặc biệt là ở Bắc Ninh - quê hương nhà Lý. Các chùa tháp thời Lý không chỉ là nơi thờ tự mà còn là biểu tượng của sự kết hợp giữa tôn giáo và quyền lực triều đình. Chùa Phật Tích, chùa Dạm, và chùa Bà Tấm là những ví dụ tiêu biểu cho kiến trúc và nghệ thuật thời Lý. Các chùa này được xây dựng với quy mô lớn, thể hiện sự đầu tư đặc biệt của triều đình.

2.2. Tôn giáo và tín ngưỡng thời Lý

Tôn giáo và tín ngưỡng thời Lý chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo. Đạo Phật không chỉ là tôn giáo chính mà còn là nền tảng tư tưởng của triều đình và nhân dân. Các vua Lý đều sùng đạo Phật, cho xây dựng nhiều chùa tháp lớn. Chùa Dạm là một trong những công trình tiêu biểu, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo thời Lý. Tư tưởng từ bi, bác ái của đạo Phật đã dễ dàng chinh phục được tấm lòng của người dân Đại Việt.

III. Luận án tiến sĩ về di tích chùa Dạm

Luận án tiến sĩ về di tích chùa Dạm là công trình nghiên cứu khoa học sâu rộng, tập trung vào việc khai quật và phân tích các dấu tích kiến trúc, hiện vật khảo cổ tại chùa Dạm. Luận án cung cấp những thông tin mới, đầy đủ hơn về chùa Dạm so với những hiểu biết từ trước đến nay. Nghiên cứu di tích này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa thời Lý mà còn đóng góp vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.

3.1. Nghiên cứu di tích

Nghiên cứu di tích trong luận án tập trung vào việc khai quật và phân tích các dấu tích kiến trúc, hiện vật khảo cổ tại chùa Dạm. Các kết quả nghiên cứu cho thấy dấu tích một ngôi chùa, tháp của Hoàng gia thời Lý có mặt bằng quy mô, cấu trúc khác lạ, kỹ thuật xây dựng cầu kỳ công phu. Di tích chùa Dạm còn lưu giữ nhiều hiện vật phong phú, phản ánh lịch sử lâu dài của di tích từ thời Lý qua thời Trần cho đến ngày nay.

3.2. Bảo tồn di tích

Bảo tồn di tích là một trong những mục tiêu quan trọng của luận án. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích chùa Dạm. Luận án đề xuất các phương án bảo tồn khu di tích, bao gồm gia cố bờ kè đá, lối lên xuống trên 4 cấp nền, và bảo tồn di sản dưới dạng số. Những giải pháp này không chỉ giúp bảo tồn di tích mà còn góp phần phát triển du lịch văn hóa.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa - văn hóa 1. Vị trí địa lý, môi trường cảnh quan Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 822,71 km2, dân số 1 triệu 120 nghìn người, với 8 đơn vị hành chính gồm: thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, các huyện: Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành, Quế Võ, Tiên Du và Yên Phong; có 97 xã, 29 phường, thị trấn; 570 thôn, làng, 161 khu phố [77] (Bản đồ 1). Bắc Ninh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng có tọa độ từ 105054’06’’ đến 106018’50’’ kinh độ Đông, 20058’30’’ đến 210016’00’’ vĩ độ Bắc; Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, Đông giáp tỉnh Hải Dương, Nam giáp tỉnh Hưng Yên, Tây giáp thành phố Hà Nội.

Về kiến tạo địa chất, Bắc Ninh mang những đặc điểm của cấu tạo địa chất vùng trũng sông Hồng và vòng cung Đông Triều vùng Đông Bắc. Cấu tạo đất đá chủ yếu có tuổi từ Cambri đến kỷ Đệ Tứ. Địa hình tương đối bằng phẳng, có hướng dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc không lớn, độ cao phổ biến từ 4m đến 5m so với mặt nước biển. Diện tích đồng bằng chiếm tuyệt đại đa số, đồi núi chỉ chiếm 0,53% diện tích (62,5km2), nhưng hệ thống sông ngòi, ao hồ dày đặc, bình quân từ 1 - 1,2km sông ngòi/km2, trong đó có 3 sông lớn chảy qua là sông Cầu, sông Đuống và sông Lục Đầu - Thái Bình, tạo nguồn nước phong phú cho sản xuất và sinh hoạt.

Tài nguyên Bắc Ninh không phong phú, chủ yếu là nguyên liệu phục vụ cho sản xuất vật liệu xây dựng như đất sét làm gốm, sứ, gạch ngói; một ít vùng có than bùn, đá cát kết và sa thạch. Rừng còn lại rất ít, chủ yếu là rừng trồng, trữ lượng gỗ khoảng 3. Phần lớn đất tự nhiên là đất nông nghiệp, chiếm tới 66% diện tích đất tự nhiên. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình của Bắc Ninh là 230c, lượng mưa trung bình 1400 - 1600mm/năm.

Đặc điểm vị trí, địa lý và môi trường cảnh quan cũng như nguồn tài nguyên đất đai, cho thấy Bắc Ninh vốn có lợi thế về sản xuất nông nghiệp (cấy lúa nước, trồng rau màu…) đồng thời có nhiều thuận lợi cho việc phát triển các nghề thủ công và giao thương buôn bán với các vùng miền trong nước và các nước trong khu vực. Chùa Dạm nằm ở sườn phía Nam của dãy núi Dạm, núi này đột khởi, nổi giữa những cánh đồng, ao hồ, sông, ngòi, bờ bãi là một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ. Nếu nhìn từ trên cao, toàn cảnh núi Dạm là một bức tranh thủy mặc hữu tình, với cánh đồng lúa trải rộng và kéo dài đến bờ Bắc của sông Đuống. Dòng sông Đuống cổ kính như một dải lụa mềm, uốn lượn, bao quanh một vùng đồng bằng trù phú, quanh năm tươi tốt.

Các làng mạc nằm quanh chân núi Dạm được gọi là các “làng Dạm” gồm: 7 Triều Thôn, Sơn Trung, Thái Bảo, Sơn Đông, Sơn Nam, Đa Cấu, Tự Thôn, Môn Tự và Đông Dương (Bản đồ 2). Chùa được bao bọc bởi các ngọn núi Long lĩnh, Phượng hoàng, Kỳ lân, núi Rùa, những ngọn núi này có độ cao trên - dưới 70m so với mặt nước biển, soi mình trên dòng sông Thiên Đức. Các nhà phong thủy xưa đều cho rằng, chùa Dạm được tọa lạc trên đất “Tứ linh”, có rừng thông thoai thoải, không khí trong lành, dưới chân núi là những xóm làng bình yên, trù phú với những người dân chất phác thuần hậu. Sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng ghi chép về núi Dạm như sau: “Ngọn núi lởm chởm, cao vút, có thể lên cao để nhìn ra xa.

Trong núi có chùa Thần Quang trông ra sông Thiên Đức, thông bách xum xuê xanh tốt, nhìn rất dịu mắt”. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú nói về núi Dạm: “Núi Lãm Sơn ở huyện Quế Dương, có 16 xã ở quanh núi, có rất nhiều chùa cổ, cảnh trí sông núi rất âm u tịch mịch. Trên núi là chỗ tu hành của sư Không Lộ, dấu cũ nay vẫn còn”. Vào thời Nguyễn, sách Bắc Ninh toàn tỉnh dư địa chí nói về chùa Dạm: “Suối chảy vòng quanh núi.

Cây cối rườm rà, trông cả vùng như một bức tranh vẽ. Từ xưa ở đây có tiếng là cảnh danh thắng, thi nhân đề thơ rất nhiều”. Có thể thấy, núi Dạm chạy dọc và nghiêng theo hướng Đông - Tây, nên tạo ra các dòng chảy phụ thuộc theo hướng nghiêng của núi. Do vậy, cả triền núi này xưa kia cũng là trục đường bộ nối liền vùng Đông Bắc, Lục Đầu với vùng châu thổ Kinh Bắc.

Trục đường bộ này đi qua các làng: Sơn Đông, Sơn Dương, Sơn Trung của tổng Lãm Dương, qua khu vực núi ba huyện, khu vực Sơn thuộc huyện Tiên Du để về trung tâm Phật giáo Phật Tích. Từ trung tâm Phật giáo Phật Tích, con đường bộ sẽ về trung tâm Phật giáo Tiêu Sơn - Lục Tổ. Đây là tuyến giao thông đường bộ cổ xưa, tuyến đường dựa theo triền núi để đi về được khắp cả vùng Quế Dương, Võ Giàng, Tiên Du. Tuyến đường giao thông đường bộ này có lẽ được hình thành từ thời thuộc Hán, Đường và duy trì đến thời Lý, Trần.

Ngoài tuyến đường giao thông bộ có từ lâu đời, vào thời Lý, sông Thiên Đức (sông Đuống) và ngòi Con Tên là tuyến đường thủy quan trọng phục vụ cho việc đi lại và các chuyến hành hương, thăng viếng của các vị hoàng đế, hoàng gia, giới quý tộc và đông đảo tín đồ Phật tử về chùa Dạm lễ Phật. Đặc điểm lịch sử, văn hóa 1. Tên gọi và địa giới tỉnh Bắc Ninh trong lịch sử Trong lịch sử xây dựng và phát triển của dân tộc, tỉnh Bắc Ninh đã nhiều lần thay đổi về tên gọi và địa giới, đơn vị hành chính. Căn cứ vào các nguồn tài liệu lịch sử và địa chí, thấy được sự thay đổi như sau: thời Hùng Vương và An Dương Vương là bộ Vũ Ninh của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc, đồng thời là nơi đặt quốc đô của nhà 8 nước Âu Lạc là kinh thành Cổ Loa (huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) (128).

Bộ Vũ Ninh thời kỳ này có địa vực rộng, gồm tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay và huyện Gia Lâm, Đông Anh (thành phố Hà Nội ngày nay). Thời thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ với hai huyện Luy Lâu và Long Biên (hoặc Long Uyên), quận trị của quận Giao Chỉ đóng ở Luy Lâu (xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành). Thời thuộc Ngô thuộc quận Giao Châu. Thời thuộc Tấn thuộc quận Giao Chỉ với các huyện Long Biên, Luy Lâu, Vũ Ninh và Khúc Dương.

Đầu đời thuộc Đường, Bắc Ninh được gộp trong địa phận Giao Châu, Đạo Châu, Long Châu thuộc Giao Châu đô hộ phủ, sau thuộc An Nam đô hộ phủ. Thời Lý, Bắc Ninh bao gồm cả phủ Phú Lương. Căn cứ vào các nguồn tài liệu, thời Lý, vùng đất tỉnh Bắc Ninh ngày nay thuộc hai đơn vị hành chính của Lộ Bắc Giang là: Phủ Thiên Đức (gồm Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong, Quế Võ…); Phủ Siêu Loại (vùng Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài). Thời Trần, Bắc Ninh thuộc lộ Bắc Giang, gồm: Lộ Bắc Giang (có huyện Siêu Loại, huyện Gia Lâm); Châu Gia Lâm (có huyện Yên Định, huyện Tế Giang, huyện Thiện Tài); Châu Vũ Ninh (huyện Tiên Du, huyện Vũ Ninh, huyện Đông Ngàn, huyện Từ Sơn, huyện Yên Phong).

Thời Hồ, Bắc Ninh thuộc lộ Bắc Giang như đơn vị hành chính thời Trần. Thời thuộc Minh, Bắc Ninh thuộc phủ Bắc Giang. Thời Lê thuộc Bắc Đạo: Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) Lê Thánh Tông đổi là đạo Bắc Giang. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đến năm 1469 đổi là Kinh Bắc.

Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) đổi là Kinh Bắc xứ. Triều Gia Long (1802 - 1840) đổi tên là trấn Bắc Ninh (1822) và tỉnh Bắc Ninh (1831). Xứ Kinh Bắc thời Lê, trấn rồi tỉnh Bắc Ninh thời Nguyễn, về cơ bản không thay đổi về địa giới và đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính bao gồm 4 phủ (Thuận An, Từ Sơn, Bắc Hà, Lạng Giang) và 20 huyện.

Cuối thời Lê, đầu Nguyễn, Bắc Ninh có hai phủ là phủ Thuận An và phủ Từ Sơn, gồm các huyện sau: Đông Ngàn, Tiên Du, Quế Dương, Võ Giàng, Yên Phong, Siêu Loại, Gia Bình, Lương Tài, Gia Lâm và Văn Giang (10 huyện). Thời thuộc Pháp, vào ngày 10/10/1895, chính quyền thực dân chia tỉnh Bắc Ninh làm hai tỉnh là Bắc Giang và Bắc Ninh. Tỉnh Bắc Ninh gồm các đơn vị hành chính ở phía Nam sông Cầu. Các đơn vị hành chính thuộc phía Bắc sông Cầu thuộc tỉnh mới mang tên tỉnh Bắc Giang.

Sau năm 1895, tỉnh Bắc Ninh gồm các huyện thuộc hai phủ Từ Sơn và Thuận An. Từ năm 1925 đến 1945, các đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh gồm 2 phủ, 8 huyện (78 tổng, 559 xã) là: phủ Thuận Thành, phủ Từ Sơn và các huyện Gia Bình, Gia Lâm, Lang Tài, Quế Dương, Tiên Du, Văn Giang, Võ Giàng, Yên Phong. Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, các đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh có một số thay đổi sau đây: bỏ các đơn vị phủ, tổng. Cấp xã được mở rộng, gồm một 9 số làng (hay thôn).

Tháng 2 năm 1947, huyện Văn Giang nhập vào tỉnh Hưng Yên. Tháng 8 năm 1950, hai huyện Lương Tài và Gia Bình sáp nhập thành huyện Gia Lương. Năm 1962, hai huyện Quế Dương và Võ Giàng sáp nhập thành huyện Quế Võ; huyện Tiên Du sáp nhập với huyện Từ Sơn thành huyện Tiên Sơn. Huyện Gia Lâm tách và nhập vào thành phố Hà Nội cùng với 2 xã của huyện Thuận Thành, 2 xã của huyện Tiên Du và 8 xã của huyện Từ Sơn.

Ngày 1/4/1963 hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang hợp nhất thành tỉnh Hà Bắc. Đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ sáp nhập thành tỉnh Hà Bắc, gồm: thị xã Bắc Ninh, các huyện Yên Phong, Thuận Thành, Tiên Sơn, Quế Võ, Gia Lương. Ngày 6/11/1996, kỳ họp thứ X Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết chia tỉnh Hà Bắc làm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Tỉnh Bắc Ninh được tái lập gồm 1 thị xã Bắc Ninh, 5 huyện: Tiên Sơn, Quế Võ, Yên Phong, Thuận Thành, Gia Lương.

Ngày 11/8/1999, Chính phủ ra Nghị định số 68/1999/CP tách huyện Tiên Sơn thành hai huyện Tiên Du và Từ Sơn, tách huyện Gia Lương thành hai huyện Gia Bình và Lương Tài. Ngày 25/1/2006, Chính phủ ra Nghị định số 15/2006/NĐ-CP thành lập thành phố Bắc Ninh, trên cơ sở thị xã Bắc Ninh. Ngày 24/9/2008, Chính phủ ra Nghị định số 01/2008/NĐ-CP thành lập thị xã Từ Sơn trên cơ sở huyện Từ Sơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về di tích chùa Dạm trong hệ thống chùa thời Lý là một nghiên cứu chuyên sâu về giá trị lịch sử, kiến trúc và văn hóa của chùa Dạm, một trong những di tích tiêu biểu thời Lý. Tài liệu này không chỉ làm rõ vai trò của chùa Dạm trong hệ thống chùa thời kỳ này mà còn phân tích sâu về quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Đọc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự kết hợp giữa tôn giáo, nghệ thuật và lịch sử trong kiến trúc chùa thời Lý, đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ di sản văn hóa.

Để mở rộng kiến thức về các di tích lịch sử và văn hóa, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ lịch sử quần thể di tích lăng tẩm các vua Trần tại Đông Triều, Quảng Ninh, nghiên cứu về quần thể di tích độc đáo này. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa bảo tồn và phát huy giá trị di tích Văn Miếu Bắc Ninh cung cấp góc nhìn chi tiết về công tác bảo tồn di sản. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu thêm về các di tích liên quan đến giáo dục và văn hóa. Mỗi tài liệu là cơ hội để khám phá sâu hơn về di sản văn hóa Việt Nam.