Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hoá (mã số: 9319042) của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Tú, được thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Hồng Toàn và PGS.TS Phạm Thị Thu Hương (năm 2020), mang tiêu đề: "Bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học Việt Nam (Trường hợp Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội và Văn miếu Mao Điền, Hải Dương)".
-
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Trải qua hơn 8 thế kỷ tồn tại và phát triển kể từ khi thành lập Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076), nền giáo dục Nho học – khoa cử đã để lại một hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú trên phạm vi toàn quốc, bao gồm kho tàng thư tịch Hán Nôm, hệ thống Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ, trường thi, trường học và nhà thờ các vị khoa bảng. Tuy nhiên, do chiến tranh, biến thiên lịch sử và tác động của quá trình đô thị hóa, nhiều di tích Nho học đã bị xuống cấp hoặc hủy hoại. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình di tích này trong giai đoạn hiện nay còn bộc lộ nhiều bất cập, thiếu tính đồng bộ. Ngoại trừ một số ít di tích có điều kiện phát triển du lịch như Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội), hầu hết các di tích Nho học khác chỉ hoạt động vào các dịp lễ tết hoặc đầu năm học; hoạt động tổ chức còn mang tính tự phát, giải quyết tình thế, chưa dựa trên nền tảng lý luận khoa học vững chắc và chưa được đánh giá tổng kết hiệu quả bài bản. Về mặt lý luận, các vấn đề về vai trò, giá trị đặc thù của di tích Nho học đối với văn hóa, giáo dục, kinh tế trong xã hội hiện đại, cũng như định hướng và giải pháp quản lý thích ứng vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống.
-
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học ở Việt Nam qua hai trường hợp cụ thể là Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền; chỉ ra các ưu điểm và hạn chế, bất cập trong công tác này, từ đó đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học nói chung và hai di tích trên nói riêng một cách bền vững.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di tích, từ đó xây dựng khung lý thuyết áp dụng cho luận án.
- Nghiên cứu giá trị tiêu biểu, đặc thù của hệ thống di tích Nho học Việt Nam nói chung và của Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Văn miếu Mao Điền nói riêng làm cơ sở khoa học cho hoạt động phát huy giá trị.
- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền; đánh giá các ưu điểm, bài học kinh nghiệm và những mặt hạn chế.
- Đề xuất định hướng, nguyên tắc và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị cho các di tích Nho học trong giai đoạn hiện nay.
-
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền. Luận án lựa chọn hai di tích này dựa trên 4 lý do:
- Văn miếu là loại hình mang nét đặc trưng, tiêu biểu nhất của di tích Nho học, phản ánh đầy đủ chức năng thờ tự, tôn vinh và giáo dục Nho học.
- Đại diện cho hai cấp độ quản lý khác nhau trong hệ thống: Văn Miếu – Quốc Tử Giám là di tích cấp quốc gia do triều đình quản lý xưa kia (nay thuộc trung ương/thành phố), còn Văn miếu Mao Điền là di tích cấp tỉnh/vùng do địa phương quản lý.
- Là hai di tích còn được bảo vệ và giữ gìn ở trạng thái tương đối nguyên vẹn nhất cho đến thời điểm nghiên cứu.
- Là hai cơ sở được bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị hiệu quả nhất trong số các di tích Nho học hiện còn.
-
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Tập trung khảo sát tại di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) và Văn miếu Mao Điền (Hải Dương), đồng thời có sự đối sánh mở rộng với một số di tích Nho học khác tại các địa phương.
- Thời gian: Nghiên cứu từ năm 1986 đến nay, trong đó tập trung chuyên sâu vào giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020.
- Nội dung: Tập trung vào hoạt động bảo tồn (bảo vệ pháp lý - khoa học, bảo vệ vật chất - kỹ thuật) và hoạt động phát huy giá trị di tích.
-
Câu hỏi nghiên cứu:
- Di tích Nho học nói chung, di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Văn miếu Mao Điền có giá trị và vai trò gì trong việc bảo tồn và phát triển nền văn hóa, giáo dục Việt Nam?
- Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của di tích Nho học tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền đã thực sự hiệu quả, phát huy hết giá trị của di tích trong bối cảnh hiện nay?
- Định hướng và những giải pháp nào để khắc phục và nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học nói chung, di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Văn miếu Mao Điền nói riêng?
-
Giả thuyết nghiên cứu: Di tích Nho học nói chung, Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền nói riêng có vai trò quan trọng, giá trị đặc biệt đối với việc bảo tồn và phát triển nền văn hóa, giáo dục, cũng như phát triển kinh tế gắn với du lịch hiện nay nếu được bảo tồn và phát huy giá trị đúng hướng, khoa học và phù hợp với quan điểm quản lý di sản văn hóa hiện đại. Việc xây dựng di tích Nho học thành trung tâm văn hóa, khoa học, giáo dục truyền thống của quốc gia, tỉnh, vùng tùy theo quy mô và vai trò cụ thể bằng các giải pháp thích hợp sẽ đưa di tích vào phục vụ đời sống cộng đồng, mang lại hiệu quả thiết thực.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân tích và tổng thuật các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:
-
Các nghiên cứu quốc tế về quản lý và bảo tồn di sản: Các công trình triển khai và cụ thể hóa quan điểm, nguyên tắc quản lý di tích từ các công ước, hiến chương của UNESCO như John Carman & Marie Louise Stig Sorensen (2009) với Heritage Studies: Methods and Approaches; PM Massenger & GS Smith (2010) với Cultural Heritage Management; G Aplin (2002) với Heritage Identification, Conservation and Management. Hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa di sản và du lịch có Herbert, D.T (1995) với Heritage, Tourism and Society; Nuryanti W (1997) với Tourism and Heritage Management; Brian Garrod & Alan Fyall (2000) với Managing Heritage Tourism; B McKercher, H Cross & RB McKercher (2002) với Cultural Tourism: The Partnership between Tourism and Cultural Heritage Management; Timothy, D. (2011) với Cultural Heritage and Tourism. Tác giả Peter Howard (2002) trong Heritage: Management, Interpretation, Identity đặt ra vấn đề cốt lõi về việc xác định bảo tồn cái gì, tại sao và cho ai, nhấn mạnh việc khai thác phát huy giá trị phải đảm bảo tính phát triển bền vững.
-
Các nghiên cứu trong nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể: Các nghiên cứu về quản lý nhà nước và nguyên tắc bảo tồn di tích như Đặng Văn Bài (2002) trong "Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa" nhấn mạnh vai trò của phân cấp quản lý và đầu tư ngân sách; Lưu Trần Tiêu (2011) trong "Mấy vấn đề về hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa" xác định ba mặt hoạt động cốt lõi của bảo tồn: bảo vệ về pháp lý - khoa học, bảo vệ về vật chất - kỹ thuật, và sử dụng phục vụ nhu cầu xã hội; Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (2012) trong Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế; Hà Văn Tấn (2005) trong "Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước"; Nguyễn Quốc Hùng với "Tầm nhìn tương lai đối với di sản văn hóa và hệ thống bảo vệ di tích ở nước ta"; Đề tài cấp Bộ của Cục Di sản văn hóa do Nguyễn Thế Hùng làm chủ nhiệm; Phạm Thị Thu Hương (2013) với đề tài nghiên cứu bảo tồn di sản vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; Nguyễn Chí Bền (2006, 2010) nghiên cứu về lý luận văn hóa và bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội; cùng các giáo trình chuyên ngành của Lê Hồng Lý, Hoàng Sơn Cường (1998), Nguyễn Thị Kim Loan & Nguyễn Trường Tân, Trịnh Minh Đức & Phạm Thu Hương (2007).
-
Các công trình nghiên cứu về di tích Nho học Việt Nam:
- Nhóm khảo sát, thống kê hiện trạng di tích tại địa phương: Lê Viết Nga (2012) khảo sát di sản truyền thống hiếu học tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Hữu Mùi (2011) nghiên cứu hệ thống Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ ở Vĩnh Phúc; Trần Thị Xuyến (2012) nghiên cứu làng khoa bảng Quan Tử; Bảo tàng tỉnh Hưng Yên (2013) khảo cứu di tích Nho học và khoa bảng Hưng Yên.
- Nhóm nghiên cứu bảo tồn và phát huy: Đề tài khoa học "Cơ sở và giải pháp nghiên cứu bảo tồn di tích Nho học Việt Nam" (1998) do Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội thực hiện; Kỷ yếu các hội thảo khoa học do Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức (2008, 2010) với các bài viết của Nguyễn Hữu Mạo (Bắc Ninh), Nguyễn Xuân Khang (Ninh Bình), Đào Mạnh Huân (Hưng Yên); công trình của Dương Văn Sáu (2014) về Hệ thống di tích Nho học Việt Nam và các Văn Miếu tiêu biểu ở Bắc bộ; các bài viết của Nguyễn Quốc Hùng (2009, 2017) bàn về quản lý di sản văn hóa Nho học thời kỳ hội nhập.
-
Các nghiên cứu trực tiếp về Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền:
- Về Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Đề tài khoa học của Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội (1992); sách khảo tả của Nguyễn Quang Lộc và Phạm Thị Thúy Hằng (2009); các công trình nghiên cứu văn bia của Ngô Đức Thọ, Đỗ Văn Ninh; sách Văn khắc Hán Nôm của Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám; sách Di sản văn chương Văn Miếu – Quốc Tử Giám của Phan Văn Các và Trần Ngọc Vương; bài viết của Đào Thị Thúy Anh (2007); tham luận hội thảo của Đặng Kim Ngọc, Phạm Thị Xuân, Lê Thu Hương; các luận văn, luận án của Nguyễn Liên Hương (2014), Nguyễn Thị Mai (2017), Đỗ Thị Tám (2013), Đỗ Hương Thảo (2000), Đoàn Thị Thanh Thủy (2019).
- Về Văn miếu Mao Điền: Công trình của Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hải Dương (1999); các nghiên cứu và luận án của Dương Văn Sáu (2008, 2009, 2014); bài viết của Tăng Bá Hoành (2009), An Văn Mậu (2009); sách Văn miếu Mao Điền - Di tích - danh nhân và lễ hội do Ban quản lý di tích huyện Cẩm Giàng xuất bản (2019).
-
Khoảng trống luận án giải quyết: Các công trình trước đây phần lớn dừng lại ở việc khảo cứu lịch sử, mô tả kiến trúc, dịch thuật văn bia hoặc đưa ra giải pháp khai thác du lịch đơn lẻ, mang tính tình thế. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống trên nền tảng lý luận quản lý di sản hiện đại để đánh giá toàn diện hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học ở cả hai cấp độ trung ương (Văn Miếu – Quốc Tử Giám) và địa phương (Văn miếu Mao Điền); chưa làm rõ việc bảo tồn các giá trị phi vật thể đặc thù (truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo) gắn với giáo dục hiện đại và công tác bảo vệ môi trường, cảnh quan di tích trong bối cảnh đô thị hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
-
Lý thuyết và khung phân tích áp dụng:
- Luận án sử dụng các khái niệm công cụ chuẩn hóa theo Luật Di sản văn hóa (2001, sửa đổi bổ sung 2009) và Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 10382:2014, bao gồm: Di sản văn hóa, Di sản văn hóa vật thể, Di sản văn hóa phi vật thể, Di tích lịch sử - văn hóa, Bảo quản, Tu bổ, Phục hồi, Tôn tạo, Bảo vệ và Bảo tồn di tích.
- Định nghĩa làm việc của tác giả: Di tích Nho học là di tích lịch sử văn hóa về, và liên quan đến Nho giáo và nền giáo dục Nho học Việt Nam.
- Luận án áp dụng Quan điểm Bảo tồn phát triển (Quản lý di sản) theo tổng hợp của Bùi Hoài Sơn (2008) từ lý thuyết của Ashworth (1997). Quan điểm này nhìn nhận di sản là sự lựa chọn từ quá khứ để đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của xã hội hiện tại; không đặt trọng tâm vào việc giữ nguyên trạng thái bất biến mà tập trung vào việc làm cho di sản "sống" và phát huy tác dụng trong đời sống đương đại. Khái niệm "tính xác thực" được tiếp cận theo tinh thần Văn kiện Nara (1994) và Hiến chương Venice (1964), gắn với giá trị phi vật thể, chức năng truyền thống và mục đích sử dụng trong tương lai.
- Khung phân tích hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học gồm 3 nội dung chính:
- Bảo vệ di tích về mặt pháp lý và khoa học: Ban hành văn bản quy phạm, thiết lập bộ máy quản lý, lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích, nghiên cứu nhận diện giá trị.
- Bảo vệ di tích về mặt vật chất và kỹ thuật: Thực hiện các giải pháp kỹ thuật, quy hoạch, tu bổ, tôn tạo, phục hồi nhằm kéo dài tuổi thọ công trình và bảo tồn yếu tố gốc.
- Hoạt động phát huy giá trị di tích: Tuyên truyền quảng bá; tổ chức các hoạt động văn hóa, khoa học, giáo dục truyền thống; tổ chức các sản phẩm và dịch vụ du lịch phục vụ cộng đồng.
- 6 nguyên tắc bảo tồn và phát huy: Khai thác trung thực, khách quan; đảm bảo phát triển bền vững; khai thác hợp lý và hiệu quả; nâng cao nhận thức cộng đồng; gắn kết với phát triển kinh tế - văn hóa địa phương; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan trên cơ sở lợi ích quốc gia.
-
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp kiến thức và phương pháp của Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Sử học và Xã hội học để nghiên cứu lịch sử hình thành di tích, khảo sát quá trình tu bổ và đánh giá tác động đối với cộng đồng.
- Phương pháp so sánh: So sánh các quan điểm lý thuyết bảo tồn; đối sánh hoạt động quản lý giữa di tích trung ương (Văn Miếu – Quốc Tử Giám) và di tích địa phương (Văn miếu Mao Điền), cũng như so sánh với các di tích Nho học khác.
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp, ghi chép, chụp ảnh, phỏng vấn sâu nhân viên quản lý và du khách, tham dự các sự kiện và lễ hội diễn ra tại hai khu di tích.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Thu thập, phân loại và xử lý các văn bản pháp lý, tài liệu lưu trữ, thư tịch Hán Nôm, văn bia, báo cáo quản lý và các ấn phẩm nghiên cứu liên quan.
-
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ các văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ di tích, số liệu thống kê du khách và doanh thu của các đơn vị quản lý; dữ liệu sơ cấp thu thập qua các đợt khảo sát điền dã thực tế tại Hà Nội, Hải Dương và các tỉnh lân cận.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học và tổng quan về di tích Nho học
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận cho luận án, hệ thống hóa lịch sử hình thành, phân loại và hiện trạng hệ thống di tích Nho học Việt Nam.
-
Quá trình hình thành hệ thống di tích Nho học qua các thời kỳ:
- Thời kỳ Bắc thuộc đến thời Đinh, Tiền Lê: Nho giáo du nhập mang tính cưỡng bức và tự phát; dấu tích vật chất hầu như không còn, ngoại trừ đền thờ Sĩ Nhiếp tại xã Tam Á, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (người được suy tôn là "Nam giao học tổ").
- Thời Lý - Trần: Đánh dấu sự tiếp nhận chủ động của nhà nước độc lập tự chủ. Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu; năm 1076, lập Quốc Tử Giám tại Thăng Long. Xuất hiện các trường tư nổi tiếng như trường Bái Ân của Lý Công Ẩn (thời Lý Thái Tông, 1028-1054), trường của Trần Ích Tắc, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, và trường của Chu Văn An tại làng Huỳnh Cung (nay là đền Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội).
- Thời thuộc Minh: Năm 1414, Thượng thư Hoàng Phúc xin vua Minh cho lập Văn Miếu và trường học ở các phủ, châu, huyện, tuy nhiên dấu tích các cơ sở này hiện không còn.
- Thời Hậu Lê - Tây Sơn: Thời kỳ Nho học thịnh trị. Hệ thống trường công, trường thi, trường tư của các danh nho (trường họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu - Hà Tĩnh, trường Vũ Thạnh ở Hào Nam, trường Nguyễn Đình Trụ ở Nguyệt Áng) cùng hệ thống Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ và nhà thờ họ khoa bảng phát triển rộng khắp cả nước. Thời Tây Sơn tiếp tục duy trì và tu sửa các cơ sở như Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền.
- Thời Nguyễn (1802-1919): Nhà Nguyễn phục hưng giáo dục Nho học, xây dựng Văn Miếu Huế, Văn Miếu Xích Đằng, Văn Miếu Trấn Biên, Văn Miếu Vĩnh Long, mở rộng các trường thi (Nam Định, Thanh Hóa). Hệ thống Văn từ, Văn chỉ cấp làng xã được xây dựng và trùng tu mạnh mẽ cho đến khi khoa thi Nho học cuối cùng kết thúc vào năm 1919.
-
Số liệu thống kê văn bia Văn từ, Văn chỉ: Qua khảo sát hơn 600 tấm bia Văn từ, Văn chỉ trên toàn quốc, tỷ lệ phân bố theo niên đại được ghi nhận như sau:
| Thế kỷ |
Số lượng / Tỷ lệ |
Ghi chú |
| Thế kỷ XVI |
2 tấm (0,32%) |
Dựng năm 1576 tại địa bàn Hải Phòng |
| Thế kỷ XVII |
21,1% |
Giai đoạn Nho học phát triển mạnh ở làng xã |
| Thế kỷ XVIII |
32,6% |
Giai đoạn nở rộ hệ thống Văn chỉ |
| Thế kỷ XIX |
34,6% |
Tỷ lệ cao nhất, thời kỳ nhà Nguyễn khôi phục Nho học |
| Thế kỷ XX |
50 tấm (8,1%) |
Dựng kéo dài đến những năm 1930 |
- Phân loại hiện trạng hệ thống di tích Nho học: Luận án chia hiện trạng kiến trúc di tích Nho học thành 3 cấp độ:
- Di tích còn khá nguyên vẹn, được quan tâm tu bổ: Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội), Văn miếu Mao Điền (Hải Dương), Văn miếu Bắc Ninh, Văn miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Khổng Tử miếu Hội An, Văn miếu Cẩm Phô, Văn miếu Minh Hương (Quảng Nam), Văn Miếu Vĩnh Long, Văn miếu Diên Khánh (Khánh Hòa); các Văn chỉ (Hữu Bằng, Xuân Đỉnh, Xuân Tảo, Nguyệt Áng) và các từ đường dòng họ khoa bảng (dòng họ Nguyễn Như Uyên, họ Vũ ở Mộ Trạch, họ Vũ Miên, họ Nhữ Đình Toản).
- Di tích bị hủy hoại gần hết, được trùng tu tôn tạo: Văn miếu Trấn Biên, Văn miếu Vĩnh Phúc, Văn miếu Hà Tĩnh, Văn miếu Sơn Tây; Văn Miếu Huế (còn hệ thống bia tiến sĩ, cổng và nền móng); các Văn chỉ (Văn Chương, Hào Nam, Dĩnh Kế, Triều Khúc) và nhà thờ danh nhân (nhà thờ Trạng nguyên Nguyễn Trực, họ Hoàng ở Đa Sỹ).
- Di tích bị hủy hoại hoàn toàn, chỉ còn địa danh hoặc ghi chép trong sử sách: Phần lớn các trường thi, trường học hàng huyện, hàng phủ và các trường tư thục cổ xưa.
Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền
Chương 2 phân tích các giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc của hai di tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị tại hai địa bàn.
-
Giá trị của hai di tích nghiên cứu:
- Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Là di tích quốc gia đặc biệt, biểu tượng đỉnh cao của nền giáo dục khoa cử Việt Nam; lưu giữ hệ thống 82 bia tiến sĩ thời Lê - Mạc (được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới); có cảnh quan kiến trúc cổ kính (Khuê Văn Các, giếng Thiên Quang, Đại Thành, Tiền Đường, Hậu Đường).
- Văn miếu Mao Điền: Là di tích quốc gia đặc biệt của vùng văn hiến xứ Đông; nơi thờ Khổng Tử cùng 8 vị danh nhân văn hóa, khoa bảng tiêu biểu của Việt Nam và vùng đất Hải Dương (Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tuệ Tĩnh, Vũ Hữu, Nguyễn Thị Duệ, Phạm Sư Mạnh).
-
Thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị:
- Bảo vệ về pháp lý và khoa học: Thiết lập mô hình tổ chức quản lý chuyên trách gồm Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám (thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội) và Ban quản lý di tích huyện Cẩm Giàng (quản lý Văn miếu Mao Điền); lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; sưu tầm, dịch thuật và xuất bản các tư liệu văn khắc Hán Nôm.
- Bảo vệ về vật chất và kỹ thuật: Triển khai các dự án tu bổ, tôn tạo các hạng mục công trình, nhà che bia, sân vườn, tường bao và cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật, thoát nước, chiếu sáng.
- Hoạt động phát huy giá trị: Đón tiếp các đoàn khách trong nước và quốc tế; tổ chức thuyết minh hướng dẫn; tổ chức lễ hội truyền thống, các hoạt động khuyến học, lễ trao học bổng, hội thi thư pháp, triển lãm chuyên đề, các hội thảo khoa học và chương trình giáo dục di sản cho học sinh.
-
Số liệu thống kê hoạt động tại di tích: Luận án tổng hợp số liệu thực tế qua các bảng:
| Tên bảng trong luận án |
Nội dung số liệu phản ánh |
| Bảng 2.1 |
Lượt khách và giá trị thu phí tham quan ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám |
| Bảng 2.2 |
Số lượng đoàn và tổng số lượt khách được đón tiếp ở Văn miếu Mao Điền |
| Bảng 2.3 |
Số đoàn khách tham quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám được thuyết minh |
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế:
- Ưu điểm: Duy trì sự tồn tại bền vững của các công trình kiến trúc; bảo quản tốt hệ thống văn bia và hiện vật gốc; bước đầu hình thành các sản phẩm dịch vụ du lịch văn hóa có nguồn thu ổn định tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám.
- Hạn chế và vấn đề đặt ra: Hoạt động phát huy giá trị tại Văn miếu Mao Điền còn mang tính thời vụ, chủ yếu tập trung vào dịp lễ hội đầu xuân; nguồn thu từ du lịch chưa tương xứng với tiềm năng; tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa đối với cảnh quan môi trường xung quanh di tích; đội ngũ cán bộ quản lý còn mỏng, thiếu tính chuyên nghiệp; hoạt động quản lý tại các di tích còn mang tính cục bộ, thiếu liên kết mạng lưới.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học hiện nay
Chương 3 đề xuất các định hướng, nguyên tắc và hệ thống giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học trong bối cảnh hiện nay.
-
Cơ sở, định hướng và nguyên tắc: Căn cứ vào Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 của Nhà nước và quan điểm Quản lý di sản (Bảo tồn phát triển), việc bảo tồn di tích Nho học phải hướng tới mục tiêu chuyển giao nguyên vẹn yếu tố gốc cho thế hệ sau, đồng thời khai thác giá trị di tích phục vụ công cuộc xây dựng xã hội học tập và phát triển kinh tế du lịch.
-
Hệ thống giải pháp chung cho di tích Nho học Việt Nam:
- Xây dựng mạng lưới liên kết giữa các di tích Nho học trên toàn quốc (Mô hình 3.1 trong luận án) nhằm chia sẻ kinh nghiệm quản lý, kết nối tư liệu và hình thành các tuyến du lịch văn hóa chuyên đề.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhà nước, tăng cường đầu tư ngân sách kết hợp đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực tu bổ di tích.
- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý di sản văn hóa.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị di sản Nho học.
-
Giải pháp cụ thể cho Văn Miếu – Quốc Tử Giám:
- Về pháp lý và khoa học: Hoàn thiện quy hoạch tổng thể bảo tồn khu di tích; kiện toàn cơ cấu tổ chức của Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám theo sơ đồ cơ cấu tổ chức do tác giả đề xuất (Sơ đồ 3.1 trong luận án); đẩy mạnh số hóa tư liệu và nghiên cứu khoa học.
- Về tu bổ, tôn tạo: Bảo vệ nghiêm ngặt hệ thống 82 bia tiến sĩ; duy tu định kỳ các hạng mục kiến trúc gỗ; xử lý triệt để các vấn đề về cảnh quan, môi trường sinh thái và hệ thống chiếu sáng.
- Về phát huy giá trị: Đa dạng hóa các chương trình giáo dục di sản học đường; ứng dụng công nghệ hiện đại trong trưng bày, diễn giải di sản; nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch và mở rộng hợp tác quốc tế.
-
Giải pháp cụ thể cho Văn miếu Mao Điền:
- Về pháp lý và khoa học: Nâng cao năng lực quản lý của Ban quản lý di tích; bổ sung hồ sơ khoa học về các danh nhân được thờ tự; xây dựng quy chế phối hợp quản lý giữa huyện Cẩm Giàng và các cơ quan cấp tỉnh.
- Về tu bổ, tôn tạo: Lập dự án chỉnh trang khuôn viên, xây dựng các công trình phụ trợ, cải tạo hệ thống giao thông kết nối và bảo vệ không gian cảnh quan xung quanh di tích.
- Về phát huy giá trị: Đổi mới nội dung và hình thức tổ chức Lễ hội Văn miếu Mao Điền; chủ động liên kết với các trường học trên địa bàn tỉnh Hải Dương và các tỉnh lân cận để tổ chức các hoạt động khuyến học, lễ vinh danh học sinh giỏi; kết nối di tích vào các tuyến du lịch văn hóa tâm linh của vùng đồng bằng sông Hồng.
Kết quả và những đóng góp mới
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế: Do phạm vi và điều kiện nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát sâu vào hai trường hợp đại diện là Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) và Văn miếu Mao Điền (Hải Dương) trong mốc thời gian từ 1986 đến năm 2020. Các loại hình di tích Nho học cấp cơ sở như Văn từ, Văn chỉ làng xã, các trường thi hay nhà thờ danh nhân khoa bảng tại các vùng miền khác chỉ được khảo sát đối sánh ở mức độ khái quát.
-
Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát toàn diện và đề xuất giải pháp bảo tồn cho hệ thống di tích Nho học cấp cơ sở (Văn từ, Văn chỉ làng xã) tại các vùng miền trên cả nước; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế xã hội hóa và vai trò tự quản của cộng đồng, dòng họ đối với di tích Nho học; nghiên cứu mô hình ứng dụng công nghệ số hóa 3D và liên kết chuỗi sản phẩm du lịch di sản giáo dục liên vùng.
Giá trị tham khảo
-
Đối tượng hưởng lợi:
- Cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị trực tiếp quản lý di tích (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa, các Sở Văn hóa và Thể thao, các Ban quản lý di tích cấp tỉnh, huyện): Tham khảo khung phân tích, quy trình quản lý, mô hình liên kết mạng lưới và các giải pháp kiện toàn bộ máy tổ chức.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Di sản học: Tham khảo phương pháp nghiên cứu liên ngành và việc vận dụng quan điểm Bảo tồn phát triển (Ashworth) vào nghiên cứu di sản văn hóa vật thể.
- Các tổ chức hoạt động du lịch, giáo dục: Tham khảo các đề xuất về xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa - học đường và chương trình giáo dục truyền thống hiếu học cho học sinh, sinh viên.
-
Các nội dung đáng tham khảo trong luận án: Khung phân tích 3 nội dung của hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học; tư liệu lịch sử và số liệu thống kê về hệ thống văn bia Văn từ, Văn chỉ; Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám đề xuất (Sơ đồ 3.1) và Mô hình mạng lưới liên kết các di tích Nho học (Mô hình 3.1).
Câu hỏi thường gặp
-
1. Luận án lựa chọn hai trường hợp nghiên cứu là Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền dựa trên những tiêu chí nào?
Trả lời: Luận án lựa chọn hai di tích này dựa trên 4 tiêu chí: (1) Văn miếu là loại hình tiêu biểu nhất, phản ánh đầy đủ chức năng thờ tự, tôn vinh và giáo dục Nho học; (2) Đại diện cho hai cấp độ quản lý khác nhau: Văn Miếu – Quốc Tử Giám là di tích cấp quốc gia do triều đình/trung ương quản lý, còn Văn miếu Mao Điền là di tích cấp tỉnh/vùng do địa phương quản lý; (3) Là hai di tích còn giữ được trạng thái bảo tồn nguyên vẹn nhất; (4) Là hai cơ sở triển khai công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị hiệu quả nhất hiện nay.
-
2. Quan điểm lý thuyết "Bảo tồn phát triển" của Ashworth được vận dụng như thế nào trong luận án?
Trả lời: Luận án áp dụng quan điểm này để tiếp cận di tích Nho học không phải như những hiện vật tĩnh bất biến của quá khứ, mà đặt trọng tâm vào việc làm thế nào để di tích "sống" và phát huy tác dụng trong đời sống đương đại. Bảo tồn di tích Nho học không chỉ giữ gìn vỏ vật chất mà quan trọng hơn là duy trì và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể (truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, khuyến học) phục vụ cho sự nghiệp giáo dục và phát triển kinh tế du lịch hiện nay.
-
3. Khung phân tích hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Nho học trong luận án gồm những nội dung nào?
Trả lời: Khung phân tích gồm 3 nội dung: (1) Bảo vệ về mặt pháp lý và khoa học (văn bản quy phạm, thiết chế tổ chức, lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích, nghiên cứu nhận diện giá trị); (2) Bảo vệ về mặt vật chất và kỹ thuật (giải pháp kỹ thuật tu bổ, tôn tạo, phục hồi, bảo quản công trình và cảnh quan); (3) Hoạt động phát huy giá trị (thông tin tuyên truyền, tổ chức hoạt động văn hóa - khoa học, tổ chức sản phẩm dịch vụ du lịch).
-
4. Theo số liệu thống kê trong luận án, hệ thống văn bia Văn từ, Văn chỉ ở Việt Nam phân bố theo các thế kỷ như thế nào?
Trả lời: Thống kê trên 600 tấm bia Văn từ, Văn chỉ cho thấy: Thế kỷ XVI có 2 tấm (0,32%) dựng năm 1576 tại Hải Phòng; Thế kỷ XVII chiếm 21,1%; Thế kỷ XVIII chiếm 32,6%; Thế kỷ XIX chiếm tỷ lệ cao nhất với 34,6%; Thế kỷ XX có 50 tấm (chiếm 8,1%), kéo dài đến những năm 1930.
-
5. Hệ thống di tích Nho học Việt Nam hiện nay được luận án phân chia thành các cấp độ hiện trạng kiến trúc nào?
Trả lời: Luận án chia thành 3 cấp độ: (1) Di tích còn khá nguyên vẹn, được quan tâm tu bổ (như Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Văn miếu Mao Điền, Văn miếu Bắc Ninh, Xích Đằng, Hội An, Vĩnh Long...); (2) Di tích bị hủy hoại gần hết, được trùng tu tôn tạo (như Văn miếu Trấn Biên, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Sơn Tây, Văn Miếu Huế...); (3) Di tích bị hủy hoại hoàn toàn, chỉ còn địa danh hoặc ghi chép trong sử sách (các trường thi, trường học hàng phủ, huyện, trường tư thục).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Tú là công trình nghiên cứu toàn diện về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của hệ thống di tích Nho học Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Quản lý văn hóa. Thông qua việc tiếp cận quan điểm lý thuyết Quản lý di sản (Bảo tồn phát triển) và khảo sát thực tiễn sâu sắc tại hai di tích đại diện là Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Văn miếu Mao Điền, luận án đã làm rõ các giá trị đặc thù, đánh giá khách quan thực trạng và xác định các điểm nghẽn trong công tác quản lý di sản hiện nay. Hệ thống định hướng, nguyên tắc và giải pháp do luận án đề xuất cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị cho việc bảo tồn bền vững di tích Nho học, gắn kết di sản với phát triển kinh tế du lịch và sự nghiệp giáo dục truyền thống trong xã hội hiện đại.