CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN VE DOI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích LLL Mot số khdtniém Di tích lịch sử van hoá: Trong Hiến chương Venice, Hiến chương quốc tế về Bảo tôn và Trùng tu di tích và di chi năm 1964, tại Điều 1 có định nghĩa: Di tích lịch sử văn hóa không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn cả các khu đô thị hoặc nông thôn trong đó được tim thấy bằng chứng của một nền văn minh cụ thể, phát triển quan trong hay một sự kiện lịch sử [22; tr. Khái nệm này không chi áp dung với những công trình nghệ thuật lớn mà cả với những công trình nhỏ hơn mang các ý nghĩa văn hóa trong quá khứ. Trong cuốn Dai tir điển tiếng Việt, di tích lich sử văn hóa được hiểu là “7ổng thể những công trình, địa điểm, đồ vát hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch su hay giá trị văn hóa được lưu lại” [82, tr.
Theo Luật Di sản Văn hóa: “Di fích lịch sử văn hóa là công trình xây dung, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sw, văn hóa, khoa học ” [45, tr. Chúng ta có thể hiểu đó là các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảng trường, khu phó. gan với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các địa điểm gan với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng. Tài liệu Di sản văn hóa và các vấn dé liên quan — Thuật ngữ và định nghĩa chung do Cục Di sản Văn hoá biên soạn năm 2014 định nghĩa di tích lịch sử văn hóa là “Công trình xây dựng, địa điểm va các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đã được xếp hạng theo quy định của pháp luật” [9; tr.
Nội hàm định nghĩa này tương tự theo Luật Di sản Văn hoá đã nêu trên, tuy nhiên mở rộng thêm yêu cầu phải được xếp hạng theo quy định của pháp luật. Tác giả Luận văn lựa chọn sử dụng khái niệm DTLSVH này làm cơ sở nghiên cứu đôi với di tích Văn miêu Bắc Ninh. 19 Bảo tôn: Theo Tir điển Tiéng Viét, khái niệm bảo tồn được định nghĩa là “git? lai không để cho mat đi" [80, tr. Bảo tồn là bảo vệ sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó, không dé mất đi, không dé bị thay thé hay biến hoá.
Do vậy nội hàm của thuật ngữ này không bao gồm việc cải biên, nâng cao hay phát trién. Tại Điều 1 Hiến chương Burra định nghĩa: “Bảo tôn có nghĩa là bảo quản kết cau một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cau đó”, và “Bao quản có nghĩa là chăm nom bảo vệ thường xuyên kết cầu và khung cảnh một địa điểm, và can phải phân biệt với sửa sang. Sua sang bao hàm trùng tu hoặc phục dung” [23, tr. Từ những định nghĩa trên chúng ta có thé thấy bảo tồn là bảo vệ và làm cho một địa điểm không bị xuống cấp, hay hủy hoại theo thuộc tính ban đầu vốn có của nó.
Bảo tôn di tích: Theo tài liệu Di sản văn hóa và các vấn dé liên quan — thuật ngữ và định nghĩa chung thì hoạt động bảo tồn di tích bao gồm: “Hoạt động nghiên cứu, quản lý, bảo vệ, bảo quan, tu bổ, phục hôi nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, tính xác thực và sự ton tại lâu dài, 6n định của di tích để phát huy” [9, tr. Cũng theo tài liệu trên, nội dung Bao quan di tích được định nghĩa là: “Hoat động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tô nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh ” [9, tr. Bảo vệ di tích là: “Hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ xâm hai di tích và xu lý hành vi xâm hại di tích theo quy định cua pháp luật” [9, tr. Tu bé di tích “Hoat động nhằm tu sửa, gia có, tôn tạo di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh” [9, tr.
Tôn tạo di tích là: “Hoạt động nhằm tăng cường khả năng sử dụng, khai thác và phát huy giá trị di tích nhưng không làm ảnh hưởng đến yếu tô gốc cau thành di tích, cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di tích ” [9, tr. Phục hồi di tích ghi: “Hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử van hoa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh do” [9, tr. Như vậy, theo nội dung tài liệu do Cục Di sản Văn hoá biên soạn năm 2014 thì Bảo tôn di tích bao gôm việc nghiên cứu, quản lý, bảo vệ, bảo quản, tu bô, phục hôi 20 nhăm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính xác thực và sự tồn tại lâu dài, ôn định của di tích dé phát huy giá trị. Bên cạnh đó cũng có một số nhà nghiên cứu có đã ban luận về hoạt động bảo tồn di tích.
Tác giả Nguyễn Chí Bén đưa ra quan điểm bảo tồn di tích “7à tat cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về di sản văn hoá, giá trị lịch sử, ÿ nghĩa cua nó, nhằm đảm bảo sự an toàn về vật chất của di tích và khi cần đến đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục ” |4, tr. Từ những định nghĩa trên có thé thấy việc bảo tồn di tích là những hoạt động nhằm là đảm bảo cho di tích giữ được nguyên vẹn như nó vốn có và tồn tại lâu dài vì mục đích phát huy giá trị. Đó là chính là những cơ sở để tác giả Luận văn đưa ra được các hoạt động bảo ton và phát huy giá trị di tích Văn miéu Bắc Ninh. Giá tri: Trong cuốn Dai từ điển tiếng Việt giải thích: “Giá trị là cdi được xác định có ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất, tinh than” [82, tr.
Tác giả Trần Ngọc Thêm cũng có nêu quan điểm giá trị được hiểu “la tinh chất của khách thé, được chủ thể đánh giá là tích cực xét trong so sánh với các khách thể khác cùng loại trong boi cảnh không gian — thời gian cụ thé” [58, tr. Với những ý nghĩa trên có thể hiểu giá trị di tích là tính chất của di tích được cộng đồng đánh giá là tích cực, trong sự so sánh với các di tích khác ở cùng trong khu vực, vào cùng thời điểm. Di tích được coi là có giá trị khi cộng đồng — những người chủ thể di tích đánh giá tích cực trong sự so sánh với những thứ khác cùng loại. Do đó, DTLSVH phải là những di tích có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
theo sự đánh giá của chủ thé di tích. Trong Luận văn tác gia sử dụng khái niệm giá trị này dé nghiên cứu giá trị di tích Văn miéu Bắc Ninh. Phát huy giá trị: Phát huy có nghĩa là làm cho cái hay, cái tốt lan rộng tác dụng và tiếp tục phát triển thêm, phát huy giá trị tức là làm cho giá trị được lan rộng tác dụng, tiếp tục phát triển thêm [80, tr. Phát huy giá trị di tích: Theo tác giả Nguyễn Chí Bén, “Phát huy giá trị di tích có nghĩa là tập trung sự chú ý của công chúng một cách tích cực tới các giá trị 21 của di tich/di sản, làm cho đông đảo người biết đến giá trị của di tích bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua một hình thức nào đó” |4, tr.
Phát huy giá trị di tích có nghĩa là sử dụng hiệu quả giá trị vốn có của di tích vào việc giáo dục truyền thong lich sử, văn hóa, thâm mi, khoa học. Phát huy những giá trị đó như là nguồn lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đồng thời trên cơ sở đó nâng cao trách nhiệm bảo vệ di sản của cộng đồng. Vai trò của việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá là hai mặt tương trợ nhau trong quá trình quản lý di sản văn hoá. Quản lý là cách làm để di sản tồn tại, không làm mất đi vì bất cứ lí do nào.
Bên cạnh đó quản lý di sản không phải là chỉ bảo toàn sự hiện diện của di sản mà còn phải biết khai thác phát huy giá trị di sản văn hoá nhằm thúc đây sự phát triển bền vững trong xã hội đương đại [62, tr. Quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá được xác định theo nguyên tac “hết lòng bảo ton tài sản văn hóa cho tương lai” [§5, tr. LL2, Cúc quan diém vébio ton Hiện nay có ba hướng bảo tồn di sản chính: tiếp cận bảo tồn nguyên ven, bảo tồn giá trị trên co sở kế thừa và quan điểm quan lý di sản. Quan điểm bảo ton nguyên ven/nguyén gốc: Tiếp cận bảo tồn nguyên vẹn tập trung vào bảo tồn vật liệu dựa trên nguyên tac “những sản phẩm của quá khứ nên được bảo tôn nguyên vẹn như nó vốn cớ” [47, tr.
Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn được hình thành trong thế giới Tây Âu vào khoảng những năm 50 của thế kỷ XIX, đóng vai trò quan trọng trong việc giải cứu các tượng đài và những công trình xây dựng vào cuối thế kỷ XIX và một phần lớn của thế ky XX [85, tr. Cách thức bảo tồn di sản như sau: - Về mục dich: đơn giản là bảo tồn những gì có thé bảo tồn được một cách don giản, dễ hiểu. - Về nguồn lực: di sản phải là địa điểm cô định gắn với một thời kỳ lịch sử nhất định. - Về tiêu chí lựa chọn: đi sản phải phụ thuộc vào bản chất của di sản, tiêu chí lựa chọn đề cao tính chân thật của di sản.
22 - Về chiến lược bảo tồn: xuất hiện sự mâu thuẫn giữa bảo ton và phát triển, những tác động của bảo tồn sẽ kéo theo những vấn đề phát sinh, tăng việc sử dụng các sản phâm được bảo tồn trong giai đoạn hiện thời phải phù hợp với công việc quản lý và nếu cần thiết phải giới hạn nhu cầu. Bảo tồn nguyên vẹn/nguyên gốc là phương pháp khá phù hợp đối với các DSVHVT, các công trình điêu khắc nghệ thuật, di chỉ khảo cô học, di tích lich sử. Nếu làm mới các hiện vật, phá vỡ cảnh quan, xâm hại các di tích để phát triển các di sản thì sẽ đánh mắt những giá trị trong quá khứ do ông cha ta dé lại và dẫn tới phá hủy di sản.