Tổng quan về luận án

Công trình nghiên cứu "Quần thể di tích lăng tẩm các vua Trần tại Đông Triều (Quảng Ninh)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Anh thực hiện (Chuyên ngành Khảo cổ học, Mã số: 62 22 03 17; Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Minh Trí; bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018) là chuyên khảo khảo cổ học kiến trúc quy mô và hệ thống đầu tiên về trung tâm lăng tẩm hoàng gia thời Trần. Nghiên cứu giải quyết khoảng trống học thuật tồn tại suốt nhiều thập kỷ: sự thiếu hụt các cứ liệu vật chất xác thực để phục dựng diện mạo, quy thức và sự chuyển biến không gian của lăng tẩm đế vương thế kỷ XIII–XIV trong tương quan với trung tâm Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử và cội nguồn dòng họ Trần tại An Sinh.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) xuất phát từ thực trạng các bộ chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên hay Khâm định Việt sử thông giám cương mục chỉ ghi chép vắn tắt niên đại băng hà và địa danh an táng mà không mô tả cấu trúc quy hoạch; trong khi các thư tịch địa chí thời Nguyễn như Đại Nam nhất thống chí lại ghi chép sai lệch vị trí, tên gọi và chủ nhân của các di tích (điển hình là sự nhầm lẫn giữa Hi lăng và Nguyên lăng). Luận án xác lập 03 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Quy hoạch tổng thể, cấu trúc không gian Địa thượng và Địa hạ của từng lăng tẩm trong quần thể Đông Triều được xác lập như thế nào dưới thời Trần?
  2. Tiến trình biến đổi công năng, quy mô kiến trúc và cảnh quan văn hóa của hệ thống lăng tẩm này diễn ra ra sao qua các thời kỳ Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng và thời Nguyễn?
  3. Mô hình lăng tẩm Đông Triều phản ánh hệ tư tưởng chính trị, thiết chế tông pháp và tư tưởng Phật giáo - Nho giáo của nhà Trần như thế nào so với lăng tẩm tại Tam Đường (Thái Bình) và các mô hình đế chế Đông Á cùng thời?

Luận án vận dụng khung lý thuyết Cảnh quan Khảo cổ học (Landscape Archaeology của Tim Ingold, Denis Cosgrove) kết hợp Lý thuyết Không gian Quyền lực và Thiết chế Tông pháp Nho - Phật. Đối tượng nghiên cứu bao quát toàn diện 07 lăng tẩm hoàng gia: Tư Phúc lăng, Thái lăng, Mục lăng, Ngải Sơn lăng, Phụ lăng, Nguyên lăng và Hi lăng trên diện tích khảo sát địa lý hơn 397 km² thuộc thị xã Đông Triều, xử lý khối tư liệu khai quật thực địa hơn 2.600 m² địa tầng cùng hàng vạn di vật kiến trúc, đồ gốm sứ hoàng cung từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX.

Literature Review và Positioning

Lịch sử nghiên cứu lăng tẩm quân chủ Đại Việt phản ánh sự mất cân đối sâu sắc giữa các triều đại. Trong khi hệ thống lăng tẩm thời Nguyễn (1802–1945) tại Huế được nghiên cứu chuyên sâu bởi các học giả trong và ngoài nước (như Léopold Cadière, Phan Thuận An), và lăng tẩm thời Lê sơ (1428–1527) tại Lam Kinh (Thanh Hóa) đã được Viện Khảo cổ học khai quật bài bản từ thập niên 1990, thì lăng tẩm thời Lý - Trần hầu như chỉ tồn tại dưới dạng phế tích dưới lòng đất.

Các học giả tiền bối tiếp cận lăng tẩm Trần chủ yếu qua hai khuynh hướng:

  1. Khuynh hướng sử học văn bản và mỹ thuật học: Các nghiên cứu của Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Tống Trung Tín và Nguyễn Hồng Kiên bước đầu khảo sát hiện trạng điêu khắc đá lộ thiên (tượng quan hầu, linh thú, rồng đá) tại Ngải Sơn lăng, Thái lăng, nhưng thiếu cứ liệu địa tầng để phân kỳ kiến trúc và xác định giới hạn mặt bằng.
  2. Khuynh hướng khảo cổ học mộ táng đơn lẻ: Các đợt khai quật tại Tam Đường (Hưng Hà, Thái Bình) từ năm 1968 đến 1980 của Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Cao Tưởng, Nguyễn Mạnh Cường đã phát hiện kết cấu quách gỗ hình cũi chèn than củi (huyệt Phần Cựu dài 6,1m, rộng 4,55m, sâu 1,78m chứa 32 hiện vật gồm 08 bông hoa vàng và 03 thạp gốm hỏa táng) và dải gạch hoa chanh dài 19m tại Vườn Nhãn. Tuy nhiên, các phát hiện này mang tính khai quật chữa cháy, chưa làm rõ được quy hoạch tổng thể phần Địa thượng.

Luận án của Nguyễn Văn Anh định vị tại điểm giao thoa giữa khảo cổ học kiến trúc và phân tích liên văn bản (intertextual analysis). Tác giả đã đối sánh phê phán tài liệu thành văn đặc biệt: bản thảo Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ (ký hiệu A3108 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, do Tiên chỉ Lương Bảo sao chép năm 1942 từ tư liệu lập dưới triều vua Minh Mạng năm 1840) và tập bút ký Trần triều lăng tẩm đồ mạn ký của danh sĩ Nguyễn Tư Giản (1863–1865). So với các công trình quốc tế nghiên cứu lăng mộ hoàng gia Đông Á như quần thể Thập Tam Lăng triều Minh (Trung Quốc) của Ann Paludan hay hệ thống Lăng mộ Hoàng gia Triều đại Joseon (Hàn Quốc) của Viện Di sản Văn hóa Quốc gia Hàn Quốc, luận án khẳng định tính đặc thù Đại Việt: mô hình kết hợp chặt chẽ giữa lăng tẩm đế vương và thánh địa Phật giáo Trúc Lâm, nơi táng thức hỏa táng chi phối kết cấu kiến trúc ngầm.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án tạo lập bước tiến quan trọng cho lý thuyết Khảo cổ học Lịch sử (Historical Archaeology) và Địa lý Văn hóa (Cultural Geography) khi giải mã cơ chế xác lập không gian quyền lực của vương triều Trần:

  • Mở rộng lý thuyết Thiết chế Tông pháp và Âm trạch: Luận án chứng minh sự chuyển dịch trung tâm tín ngưỡng hoàng gia từ Long Hưng (Thái Bình) về An Sinh (Đông Triều) không thuần túy là biện pháp quân sự tránh nạn cướp phá của Chiêm Thành năm 1381, mà là quá trình hoàn thiện mô hình tôn miếu gắn với "Thang mộc ấp" của An Sinh vương Trần Liễu từ năm 1237. Sách Trần thị gia huấn (năm 1907) ghi rõ: "Nhà Trần ban đầu tới núi Yên Tử chiếm địa thế núi, dựng ngôi chùa nhỏ thờ Phật, một vùng sau núi sau này có thể làm nơi của họ hàng ăn ở yên vui, nay là xã An Sinh...".
  • Tích hợp quan niệm Phong thủy bản địa: Luận án mô hình hóa cấu trúc không gian lăng tẩm Trần dựa trên nguyên lý "Minh Đường tụ thủy""Khúc thủy bao thành". Trục tự nhiên của suối Phủ Am Trà bắt nguồn từ đỉnh Bảo Đài (am Ngọa Vân) kết hợp sông Đạm Thủy dài 12 km đóng vai trò thủy đạo kết nối huyết mạch và tiền án tụ khí cho toàn bộ 07 lăng tẩm.
  • Phát triển mô hình đối sánh Địa thượng - Địa hạ: Luận án xác lập khung lý thuyết phân định rõ công năng của Tẩm điện (nơi phụng thờ, hành lễ tế tự trên mặt đất) và Tẩm cung / Huyền cung (nơi đặt quách than, kim tĩnh dưới lòng đất), phá vỡ quan niệm đồng nhất lăng tẩm với mộ táng thông thường.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp 03 trụ cột lý thuyết: Khảo cổ học Kiến trúc (phân tích tàn tích móng trụ, bó nền, vật liệu), Biểu tượng học Hoàng quyền (nghiên cứu hoa văn ngói sen - Liên ngõa, ngói mũi lá, tượng rồng, phù điêu kim loại), và Phê phán Sử liệu Văn bản học. Cách tiếp cận này thiết lập các điều kiện biên (boundary conditions) rõ ràng: phân lập địa tầng nguyên khởi thời Trần với các lớp tôn tạo thời Lê - Nguyễn, ngăn ngừa hiện tượng đồng nhất các phế tích bề mặt thời muộn với quy thức gốc thời Trần.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  KHUNG PHÂN TÍCH KHẢO CỔ HỌC LĂNG TẨM TRẦN              |
+-------------------------------------------------------------------------+
                                     |
      +------------------------------+------------------------------+
      |                                                             |
+-----v---------------------+  +-----v----------------------+  +-----v---------------------+
|   CẢNH QUAN & PHONG THỦY   |  |   KHẢO CỔ HỌC KIẾN TRÚC    |  |    SỬ LIỆU & VĂN BẢN HỌC  |
| - Hậu chẩm: Núi Yên Tử    |  | - Địa thượng: Tẩm điện     |  | - Đại Việt sử ký toàn thư |
| - Minh Đường: Sông Đạm    |  | - Địa hạ: Toại đạo, Kim    |  | - Trần triều thánh tổ     |
|   Thủy / Phủ Am Trà       |  |   tĩnh, Quách gỗ chèn than |     các xứ địa đồ (A3108) |
| - Tả Long - Hữu Hổ        |  | - Vật liệu: Ngói sen kép   |  | - Bia ký Minh Mạng (1840) |
+---------------------------+  +----------------------------+  +---------------------------+

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án tuân thủ thế giới quan Hiện thực Phê phán (Critical Realism) kết hợp phương pháp luận Duy vật Biện chứng và Duy vật Lịch sử. Thiết kế nghiên cứu đa tầng (multi-level research design) kết hợp giữa điều tra khảo sát cảnh quan vĩ mô (diện tích 397 km²), phân tích trắc đạc địa hình vi mô, và khai quật địa tầng chuyên sâu tại 06/07 khu di tích lăng tẩm:

  • Thái lăng (đồi Trán Quỷ / Đảo Vua): khai quật các năm 2007, 2008.
  • Tư Phúc lăng: khai quật năm 2009 (350 m²), năm 2016 (600 m²), tổng diện tích 950 m².
  • Phụ lăng: khai quật năm 2012 (250 m²), năm 2016 (550 m²), tổng diện tích 800 m².
  • Nguyên lăng (Khe Nghệ): khai quật năm 2012 (250 m²).
  • Ngải Sơn lăng: khai quật năm 2014 (200 m²), năm 2016 (400 m²), tổng diện tích 600 m².
  • Hi lăng (núi Đạm Thủy / Ngọc Thanh): khai quật năm 2013 và 2016.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được kiểm soát nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn khảo cổ học hiện đại:

  • Đo đạc thực địa và định vị không gian: Sử dụng thiết bị định vị vệ tinh GPS đa tần xác định tọa độ tuyệt đối và cao độ chuẩn quốc gia (ví dụ: đỉnh Đảo Vua tại Thái lăng nằm ở tọa độ 21°8'13.167" vĩ độ Bắc, cao trình 37m đến 39,45m so với mực nước biển).
  • Kỹ thuật bóc tách địa tầng: Phân lập tầng văn hóa theo phương pháp ma trận Harris, bóc tách từng lớp đất lấp, lớp xáo trộn và lớp văn hóa nguyên sinh thời Trần, Lê sơ, Lê Trung hưng và Nguyễn.
  • Tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation): Kiểm chứng chéo giữa 04 nguồn tư liệu độc lập: (1) Di tích móng kiến trúc thực địa; (2) Di vật hiện vật (gốm men, đồ sành, vật liệu kiến trúc); (3) Văn bia đá (đặc biệt là các văn bia dựng ngày 06 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 21 - 1840); (4) Thư tịch cổ và bản đồ học lịch sử.

Data và phân tích

Dữ liệu khảo cổ được số hóa và xử lý bằng các phần mềm chuyên dụng:

  • Xử lý bản vẽ kỹ thuật mặt bằng, mặt cắt địa tầng và phục dựng không gian 3D trên nền tảng phần mềm AutoCAD và Adobe Photoshop.
  • Phân loại học loại hình (typological taxonomy) hàng chục ngàn mẫu hiện vật: phân lập gạch lát nền vuông, gạch bìa chữ nhật, ngói lợp diềm mái, ngói lợp thân mái, ngói sen đơn, ngói sen kép thật và kép giả.
  • Đối sánh hình thái học với hệ thống di vật phát hiện tại di tích Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội) và trung tâm Tam Đường (Thái Bình) nhằm xác lập niên đại chuẩn xác cho từng nhóm hiện vật.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Giải mã cấu trúc mặt bằng Tẩm điện đa cấp: Tại Thái lăng và Tư Phúc lăng, khai quật khảo cổ đã làm xuất lộ hệ thống nền móng kiến trúc phân cấp giật cấp trên đỉnh đồi tự nhiên. Thái lăng có cấu trúc không gian khép kín nhiều lớp với hệ thống bó nền đá, chân tảng hoa sen, sân gạch và đường Thần đạo hướng Nam, thể hiện quan niệm vương quyền uy nghiêm: lấy độ cao và thế núi tạo lập đẳng cấp đế vương.
  2. Làm sáng tỏ cấu trúc Địa hạ (Toại đạo và Kim tĩnh): Dấu vết địa tầng tại Nguyên lăng và Ngải Sơn lăng làm xuất lộ kết cấu đường hầm đưa quan tài (Toại đạo) kết nối trực tiếp với huyệt mộ (Kim tĩnh). Phát hiện cấu trúc than củi dày và dấu vết quách gỗ lớn tại hiện trường chứng minh kỹ thuật ướp xác, bảo vệ tro cốt hỏa táng hoàn toàn tương đồng với phát hiện tại mộ Phần Cựu (Tam Đường, Thái Bình).
  3. Đính chính các sai lệch lịch sử kéo dài hàng thế kỷ:
    • Chứng minh Hi lăng trên núi Đạm Thủy (núi Ngọc Thanh, tọa độ 21°5'8"B) là lăng vua Trần Duệ Tông (xây dựng năm 1377 sau khi tử trận tại thành Đồ Bàn và được chiêu hồn về an táng), chứ không phải lăng của Trần Nghệ Tông như Đại Nam nhất thống chí chép nhầm.
    • Xác định Nguyên lăng tại Khe Nghệ (thôn Bãi Dài, xã An Sinh) chính là nơi an táng Thượng hoàng Trần Nghệ Tông (1394).
    • Xác định Tư Phúc lăng là "lăng lớn ở Yên Sinh" được Toàn thư ghi nhận trong sự kiện rước linh vị và tượng thờ các vị Tiên đế (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông) từ Thái Bình về An Sinh năm 1381 để tránh giặc Chiêm Thành: "Tháng 6 [năm Xương Phù thứ 5] (1381), rước thần tượng các lăng ở Quắc Hương, Thái Đường, Long Hưng, Kiến Xương đưa về lăng lớn ở Yên Sinh để tránh nạn của người Chiêm Thành vào cướp".
  4. Phát hiện di tích tháp gạch và mô hình kiến trúc độc bản: Lần đầu tiên tại Ngải Sơn lăng, cuộc khai quật năm 2014 và 2016 đã tìm thấy dấu tích tháp và các cấu kiện mô hình kiến trúc bằng đất nung thời Trần chưa từng được ghi nhận trong bất kỳ tài liệu thư tịch cổ nào.

Implications đa chiều

  • Về mặt học thuật: Cung cấp một khung niên đại chuẩn mực cho vật liệu kiến trúc hoàng gia thời Trần (thế kỷ XIII–XIV), làm thước đo chuẩn so sánh cho các di tích khảo cổ học trên toàn quốc.
  • Về mặt phương pháp luận: Xác lập hình mẫu kết hợp giữa khảo cổ học kiến trúc và phân tích bản đồ học cổ (historical cartography), chứng minh giá trị thực chứng của bản đồ Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ (A3108).
  • Về ứng dụng thực tiễn và chính sách: Cung cấp toàn bộ hồ sơ khoa học, thông số mặt bằng và cơ sở địa tầng phục vụ trực tiếp Dự án Quy hoạch, bảo tồn và tôn tạo Quần thể Di tích Quốc gia Đặc biệt Nhà Trần tại Đông Triều; đồng thời đóng góp luận cứ khoa học cốt lõi cho Hồ sơ Đề cử Di sản Thế giới UNESCO Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn thừa nhận 03 giới hạn nghiên cứu khách quan:

  1. Hạn chế về dữ liệu Địa hạ nguyên vẹn: Hầu hết các huyệt mộ (Kim tĩnh) tại Nguyên lăng và Ngải Sơn lăng đều từng bị đào phá trái phép vào thập niên 1980, làm xáo trộn các lớp than tro và cấu trúc quách gỗ tế vi. Đồng thời, do nguyên tắc bảo tồn di tích, các lăng tẩm còn lại chưa tiến hành bóc tách toàn phần cấu trúc Địa hạ.
  2. Mục lăng chưa được khai quật toàn diện: Trong số 07 lăng tẩm, Mục lăng của vua Trần Minh Tông chỉ mới dừng ở mức độ thám sát bề mặt do nằm sát Thái lăng, chưa có diện tích mở hố quy mô lớn.
  3. Sự khan hiếm văn bia thời Trần đương đại: Các văn bia tìm thấy tại chỗ chủ yếu mang niên đại thời Nguyễn (năm Minh Mạng thứ 21 - 1840) với nội dung khắc định danh ngắn gọn, thiếu vắng các bài minh khắc chi tiết về quá trình xây dựng ban đầu.

Chương trình nghiên cứu tương lai đề xuất 04 hướng trọng tâm:

  • Ứng dụng kỹ thuật địa vật lý quét radar xuyên đất (GPR - Ground Penetrating Radar) và đo điện 3D để khảo sát cấu trúc ngầm tại Mục lăng và các khu vực đệm xung quanh lăng Tư Phúc mà không cần đào phá.
  • Phân tích đồng vị phóng xạ Cacbon 14 (C14) và phương pháp nhiệt huỳnh quang (TL) trên các mẫu than củi, gỗ quách và gạch ngói để xác định niên đại tuyệt đối cho từng giai đoạn xây dựng.
  • Mở rộng khai quật liên ngành khu vực phụ cận: hệ thống lò nung vật liệu kiến trúc và các bến thuyền cổ ven sông Đạm Thủy.
  • Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia về cấu trúc cảnh quan tâm linh giữa lăng tẩm thời Trần với hệ thống lăng mộ Hoàng gia thời Tống - Nguyên (Trung Quốc), thời Goryeo (Triều Tiên) và thời Sukhothai (Thái Lan).

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Công trình thiết lập chuẩn mực khoa học mới trong khảo cổ học lịch sử Việt Nam, dự kiến tạo ra hàng trăm trích dẫn học thuật trong các công trình nghiên cứu về lịch sử kiến trúc, mỹ thuật cổ và lịch sử quân chủ Đông Nam Á.
  • Bảo tồn di sản và phát triển du lịch: Chuyển đổi các phế tích ngầm thành không gian bảo tàng ngoài trời (in-situ museum), định hình tuyến du lịch văn hóa tâm linh kết nối Di sản Hoàng thành Thăng Long - Quần thể lăng tẩm Đông Triều - Thánh địa Phật giáo Yên Tử.
  • Tác động văn hóa - xã hội: Khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ di sản của cộng đồng cư dân địa phương tại 21 xã, phường thuộc thị xã Đông Triều; phục hồi các nghi lễ tế tự truyền thống tưởng niệm các vị Tiên đế triều Trần.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên Khảo cổ học / Sử học: Tiếp cận hệ thống tư liệu thực địa chuẩn xác, bản vẽ mặt bằng CAD chi tiết và phương pháp phân tích liên ngành giữa khảo cổ và văn bản học.
  • Các nhà quản lý di sản và Cơ quan Hoạch định Chính sách: Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Quảng Ninh, Ban Quản lý Di tích Nhà Trần sử dụng số liệu luận án làm căn cứ pháp lý để khoanh vùng bảo vệ di tích cấp I, cấp II và thẩm định các dự án tu bổ.
  • Kiến trúc sư và Đơn vị Thi công Tu bổ Di tích: Sử dụng các thông số phục dựng 3D, quy thức chân tảng, cấu kiện ngói sen kép và gạch hoa chanh để phục chế chính xác các công trình kiến trúc cổ thời Trần, loại bỏ hoàn toàn các yếu tố phục dựng sai lệch phong cách thời kỳ.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Luận án mở rộng thuyết Cảnh quan Khảo cổ học (Landscape Archaeology) khi chứng minh mô hình "Lăng tẩm cảnh quan kép" (Dual-landscape necropolis): sự dung hợp hữu cơ giữa thiết chế quân chủ Nho giáo (trục Thần đạo, Tẩm điện phân cấp) với thế giới quan giải thoát của Phật giáo Trúc Lâm (táng thức hỏa táng, hướng nhìn kết nối trực tiếp đỉnh núi thiêng Yên Tử - Ngọa Vân).

2. Điểm đột phá về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?

So với các khảo tả mỹ thuật đơn lẻ của thế kỷ XX, luận án tiên phong kết hợp phương pháp khai quật khảo cổ học kiến trúc diện rộng (hơn 2.600 m²) với kỹ thuật số hóa trắc đạc địa hình 3D/AutoCAD và đối chứng liên văn bản với bản đồ cổ triều Nguyễn Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ (A3108), thiết lập quy trình kiểm chứng chéo 4 chiều đạt độ chuẩn xác địa tầng tuyệt đối.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực địa là gì?

Phát hiện dấu tích tháp và mô hình kiến trúc đất nung tinh xảo ngay tại khuôn viên trung tâm Ngải Sơn lăng (lăng vua Trần Hiến Tông), cùng việc phát hiện các tàn tích Toại đạo (đường hầm dẫn vào huyệt mộ) tại Nguyên lăng và Ngải Sơn lăng, làm đảo lộn quan niệm truyền thống cho rằng lăng tẩm thời Trần chỉ đào huyệt táng lộ thiên đơn giản từ trên xuống.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lặp (Replication Protocol) không?

Có. Luận án công bố hệ thống bảng phân loại hiện vật chi tiết, tọa độ GPS chuẩn xác của từng hố khai quật, các mặt cắt địa tầng lập thức hóa theo ma trận Harris, và danh mục ký hiệu chuẩn hóa (như TAT07, TP16, NSL14, PSL12) cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái kiểm chứng và đối sánh trực tiếp tại hiện trường.

5. Khung chương trình nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo thế nào?

Chiến lược 10 năm tập trung vào 03 trọng tâm: (1) Ứng dụng công nghệ địa vật lý không xâm lấn (GPR) thăm dò toàn bộ lòng đất khu vực lăng Mục lăng và cảnh quan vùng đệm; (2) Phân tích hóa - sinh học trên các mẫu tro cốt và cấu trúc quách gỗ chèn than củi; (3) Phục dựng thực tế ảo tăng cường (AR/VR) toàn bộ quần thể 07 lăng tẩm phục vụ bảo tồn và giáo dục di sản quốc tế.

Kết luận

  1. Khảo sát toàn diện và hệ thống hóa lần đầu tiên toàn bộ 07 di tích lăng tẩm hoàng gia các vua Trần tại Đông Triều trên nền tảng tư liệu khảo cổ học địa tầng chân xác.
  2. Phục dựng thành công quy thức mặt bằng tổng thể phần Địa thượng (Tẩm điện) và làm sáng tỏ kết cấu phần Địa hạ (Toại đạo, Kim tĩnh) của kiến trúc lăng tẩm thế kỷ XIII–XIV.
  3. Giải quyết triệt để các nhầm lẫn lịch sử kéo dài về định danh, vị trí và chủ nhân giữa Hi lăng (Trần Duệ Tông) và Nguyên lăng (Trần Nghệ Tông).
  4. Xác lập luận cứ khoa học thực chứng khẳng định vị thế của Đông Triều như một trung tâm văn hóa - tín ngưỡng, tôn miếu và lăng tẩm đế vương đỉnh cao của Đại Việt thời trung đại.
  5. Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu gốc phục vụ công tác quy hoạch, trùng tu, bảo tồn di tích quốc gia đặc biệt và hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO.