Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Khảo cổ học (mã số 62 22 03 17) của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Anh, do PGS.TS Bùi Minh Trí hướng dẫn khoa học, được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018 với đề tài: "Quần thể di tích lăng tẩm các vua Trần tại Đông Triều (Quảng Ninh)".

Theo tác giả, người Việt quan niệm "sống ở, thác về", cuộc sống dương gian chỉ là cõi tạm, chết chuyển sang thế giới khác nên việc xây dựng và chăm sóc mồ mả rất được coi trọng. Đối với các triều đại phong kiến chịu ảnh hưởng văn minh phương Đông, việc chọn đất xây dựng kinh đô (Dương trạch) và xây cất lăng tẩm (Âm trạch) là hai việc quan trọng bậc nhất, quyết định sự hưng thịnh và tồn vong của quốc gia và dòng tộc. Lăng tẩm hoàng gia vì vậy trở thành loại hình kiến trúc đặc biệt, phản ánh nghệ thuật kiến trúc, tư tưởng, tín ngưỡng và đời sống của chủ nhân lúc sinh thời. Tuy nhiên, việc nghiên cứu lăng tẩm phong kiến Việt Nam còn nhiều hạn chế. Trong khi hệ thống lăng tẩm triều Nguyễn (1802 - 1945) ở Huế và một số lăng tẩm triều Lê sơ (1428 - 1527) ở Lam Kinh (Thanh Hóa) đã được khảo sát, khai quật và công bố kết quả tương đối rõ nét, thì hệ thống lăng tẩm thời Lý và thời Trần hầu như chưa được nghiên cứu sâu hoặc chưa được hệ thống hóa.

Khoảng trống nghiên cứu lớn nằm ở chỗ: Nhà Trần có hai khu lăng tẩm chính là khu lăng tẩm tại Long Hưng (nay thuộc thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) và khu lăng tẩm tại An Sinh (nay thuộc thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Hiện nay, cả hai khu di tích đều đã trở thành phế tích dưới lòng đất. Thư tịch cổ ghi chép về hệ thống lăng tẩm nhà Trần hết sức sơ sài, tản mạn và có nhiều mâu thuẫn, sai lệch. Từ năm 2007, các cuộc khai quật khảo cổ học tại Đông Triều đã phát lộ nhiều dấu tích kiến trúc và hiện vật quan trọng, nhưng các nguồn tư liệu này chưa được tổng hợp, xử lý và nghiên cứu một cách toàn diện.

Mục đích nghiên cứu của luận án được tác giả xác định theo 6 nội dung:

  1. Tổng hợp các nguồn tư liệu thư tịch; tình hình phát hiện nghiên cứu lăng tẩm vua Trần tại Đông Triều (Quảng Ninh) từ đó có cái nhìn tổng quan về quần thể di tích lăng tẩm các vua Trần tại Đông Triều;
  2. Nghiên cứu làm rõ vị trí, tên gọi và chủ nhân của các lăng tẩm trong quần thể lăng tẩm vua Trần tại Đông Triều;
  3. Nghiên cứu xác định cấu trúc, đặc trưng mặt bằng, tính chất và niên đại xây dựng, sự biến đổi của các lăng tẩm qua từng thời kỳ;
  4. Đặc trưng các loại hình di vật của mỗi lăng tẩm;
  5. Thông qua di tích, di vật, tìm hiểu về đặc trưng nghệ thuật điêu khắc và trang trí lăng tẩm các vua Trần ở Đông Triều với các loại kiến trúc hoàng gia khác;
  6. Phục dựng lại bố cục mặt bằng, không gian kiến trúc, cung cấp cơ sở khoa học cho việc trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quần thể di tích lăng tẩm các vua Trần tại Đông Triều gồm 07 lăng tẩm: 1) Lăng Tư Phúc; 2) Thái lăng; 3) Mục lăng; 4) Ngải Sơn lăng; 5) Phụ lăng; 6) Nguyên lăng; và 7) Hi lăng. Trọng tâm nghiên cứu là phần Địa thượng (cảnh quan, các công trình kiến trúc và thành phần liên quan); đối với phần Địa hạ (Huyền cung, Toại đạo, Kim tĩnh), luận án chỉ khảo cứu các lăng đã bị lộ xuất do đào phá trước đây, các lăng còn nguyên vẹn không tiến hành khai quật xâm phạm.

Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian bao gồm địa bàn hai xã An Sinh và Thủy An thuộc thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Phạm vi thời gian nghiên cứu đặt các lăng tẩm trong toàn bộ tiến trình lịch sử từ khi khởi dựng dưới thời Trần cho đến nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện khảo cứu và đối sánh đa dạng các nguồn tư liệu lịch sử, văn bia, dân tộc học và khảo cổ học:

  • Nguồn chính sử và địa chí: Các bộ quốc sử gồm Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục; sách địa chí như thiên Dư địa chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí của Quốc sử quán triều Nguyễn; sách khảo cứu Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn; sách địa chí địa phương gồm Đông Triều huyện chí, Cổ tích danh lam. Tác giả chỉ ra rằng các tài liệu này ghi chép sơ lược, nhiều chỗ ghi nhận theo tên gọi dân gian gây nhầm lẫn (điển hình là việc Đại Nam nhất thống chí chép sai vị trí lăng của vua Trần Nghệ Tông).
  • Sách chuyên khảo và ghi chép cá nhân: Đặc biệt quan trọng là cuốn Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ (gọi tắt là Trần triều, ký hiệu A3108 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, bản sao năm 1942 từ tài liệu lập thời Minh Mạng), ghi chép ngày kỵ của 8 vị vua, cung cấp bản vẽ họa đồ giới hạn, 05 bản vẽ mặt bằng lăng, 01 bản vẽ mặt bằng mộ phần và 07 bản vẽ bia đá năm 1840. Cùng với đó là tập Trần triều lăng tẩm đồ mạn ký của danh thần Nguyễn Tư Giản viết trong giai đoạn 1863 - 1865 khi làm Tham biện quân vụ Hải Yên.
  • Tư liệu thần tích, thần sắc và hương ước: Nguồn tài liệu do Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) sưu tầm năm 1938 tại 46/50 làng xã thuộc Đông Triều. Trong đó có 07 làng thờ vua Trần hoặc coi ngày kỵ của vua Trần là trọng lễ (An Sinh, Đốc Trại, Tràng Bảng, Triều Khê, Đạm Thủy, Đoàn Xá...). Nguồn tư liệu này cung cấp chứng cứ về vai trò của dân "tạo lệ", việc phân cấp đất công phục vụ lăng tẩm và tục kết chạ đổi lễ chay - mặn giữa các làng với làng An Sinh.
  • Tư liệu văn bia: Hệ thống văn bia do triều Nguyễn cho dựng ngày 6 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 21 (1840) tại các lăng; văn bia Trần triều bi ký dựng tại điện An Sinh.
  • Nguồn tư liệu khảo cổ học so sánh:
    • Các đợt khai quật tại khu lăng tẩm Tam Đường (Thái Bình): Đợt 1 năm 1968 tại Phần Mao (bài viết của Nguyễn Văn Huyên, 1970); đợt 2 năm 1979 tại Vườn Nhãn (Trịnh Cao Tưởng, Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Đức Thanh, Bùi Ngọc Phát); đợt 3 năm 1980 tại Mộ Phần Cựu, Cồn Nhãn và Phần Bia (báo cáo của Nguyễn Mạnh Cường); đợt 4 do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Bình phối hợp thực hiện.
    • Các di tích mộ táng thời Trần của tầng lớp quý tộc, tôn thất: Gồm 14 mộ táng lớn như mộ Hải Triều (Phạm Lễ), Lộc Thọ, Hồng Anh, Tân Bình (Thái Bình); mộ Dưỡng Phú (Hải Dương); mộ công chúa Phụng Dương, mộ Thành Thị (Hà Nam); mộ Phú Cát (Hà Nội); mộ Nghĩa Hưng (Quảng Ninh). Qua đó xác định cấu trúc quách cũi gỗ, táng thức hỏa táng chiếm đa số và dấu tích đường Toại đạo dẫn vào huyệt mộ.
    • Tư liệu khai quật tại Hoàng thành Thăng Long để làm cơ sở so sánh nghệ thuật điêu khắc và vật liệu kiến trúc hoàng gia.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên xâu chuỗi toàn bộ hệ thống tư liệu khai quật khảo cổ học từ năm 2007 đến năm 2016 tại 6 lăng tẩm vua Trần ở Đông Triều (nghiên cứu sinh trực tiếp tham gia khai quật và viết báo cáo); tiến hành đính chính những sai lệch kéo dài hàng thế kỷ trong thư tịch cổ về tên gọi, chủ nhân và vị trí của từng lăng tẩm; làm rõ tiến trình chuyển biến kiến trúc và bình đồ mặt bằng của từng di tích qua các thời kỳ lịch sử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở nghiên cứu dựa trên việc giải nghĩa và xác lập hệ thống khái niệm, thuật ngữ chuyên ngành lăng tẩm hoàng gia và các điển chế liên quan:

  • Hệ thống thuật ngữ và quy chế lăng tẩm:
    • Mộ: Nơi chôn cất của tầng lớp thứ dân; mồ mả không nhất thiết phải đắp cao.
    • Lăng / Sơn lăng: Nơi an táng của bậc quân vương. Khái niệm bắt nguồn từ thời Hán và thời Xuân Thu ở Trung Quốc khi đắp gò mộ cao to như quả núi; thời Đường áp dụng "lấy núi làm lăng". Thuật ngữ này đồng thời chỉ toàn bộ vùng đất phong bảo vệ nghiêm ngặt ("Sơn lăng cấm địa"). Từ thời Lý, chính sử ghi nhận mộ vua gọi là Lăng hoặc Sơn lăng (Thọ lăng). Thời Lê sơ, quy chế được luật hóa nghiêm ngặt tại Điều 39 và Điều 46 chương Vi chế của Quốc triều hình luật. Thời Nguyễn, quy chuẩn lăng tẩm được quy định với 5 nội dung trong Đại Nam hội điển sự lệ.
    • Tẩm / Tẩm điện / Chính tẩm: Tẩm là gian phòng đặt bài vị người mất cạnh lăng mộ. Tẩm điện là các công trình kiến trúc trên mặt đất (Địa thượng). Chính tẩm là tòa kiến trúc trung tâm quan trọng nhất đặt bài vị.
    • Thần đạo: Tuyến đường nghi lễ trên trục chính tâm từ cửa Chu Tước đến Bi đình.
    • Bi đình: Kiến trúc dựng bia ghi công đức trên trục chính tâm.
    • Chu tước môn: Cổng chính phía Nam theo quan niệm Tứ tượng phương vị.
    • Tẩm cung (Hạ cung / Huyền cung): Công trình xây ngầm dưới đất (Địa hạ).
    • Toại đạo: Đường hầm dẫn quan tài vào huyệt mộ.
    • Kim tĩnh: Huyệt mộ đặt quan quách.
    • Long tuần: Xe kéo chở quan tài từ Toại đạo vào Kim tĩnh.
    • Chế độ Công Mộ và Bàng Mộ: Điển chế thiết lập từ thời Tây Chu nhằm phân biệt quy mô, số lượng công trình, vật liệu quan quách giữa thiên tử, chư hầu và dân thường.
  • Thuật ngữ vật liệu kiến trúc:
    • Gạch vuông (gạch lát nền); gạch chữ nhật (gạch bìa).
    • Ngói sen (Liên ngõa): Gồm ngói sen đơn, ngói sen kép (kép thật hoặc kép giả); ngói mũi lá.
    • Ngói lợp diềm mái và ngói lợp thân mái.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp khảo cổ học hiện trường: Điều tra, khảo sát, khoan thám sát và khai quật khảo cổ học kiến trúc nhằm phát hiện lớp đất đắp, nền móng, chân tảng, bậc thềm, rãnh thoát nước và tầng văn hóa.
  • Phương pháp khảo cổ học trong phòng: Chỉnh lý hiện vật, thống kê, phân loại loại hình học; so sánh đối chiếu hình thái, kỹ thuật và nghệ thuật trang trí; kỹ thuật dập hoa văn, đo vẽ và chụp ảnh hiện vật.
  • Phương pháp liên ngành và công nghệ hỗ trợ: Sử dụng phương pháp Địa danh học để xác định các xứ đồng, ngọn núi; phương pháp Lịch sử học, Kiến trúc và Nghệ thuật điêu khắc; ứng dụng các phần mềm AutoCAD, Photoshop và công nghệ dựng hình không gian 3D để phân lập, phục dựng bình đồ mặt bằng và hình thái kiến trúc.
  • Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng để xem xét sự hình thành, tồn tại và chuyển biến của các di tích trong bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể.
Nhóm tư liệu Nguồn gốc và tên tư liệu tiêu biểu Nội dung và giá trị đối chiếu
Thư tịch lịch sử Toàn thư, Cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Kiến văn tiểu lục Cung cấp niên đại táng, biến động dời thần tượng năm 1381, vị trí địa lý đại cương.
Chuyên khảo địa phương Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ (A3108), Trần triều lăng tẩm đồ mạn ký Bản vẽ mặt bằng, hiện trạng phế tích nửa đầu thế kỷ XIX, kích thước bia đá và bậc thềm.
Tư liệu văn bia Bia đá năm Minh Mạng thứ 21 (1840), bia Trần triều bi ký Xác nhận tên lăng, ngày kỵ, vị trí cắm mốc thờ tự của triều đình nhà Nguyễn.
Hương ước, thần tích 46 bản kê khai năm 1938 của EFEO tại Đông Triều Tục thờ thành hoàng làng, nghĩa vụ dân tạo lệ, lệ kết chạ, bảo tồn nghi thức tế tự dân gian.
Khai quật lăng tẩm Khai quật tại Thái lăng, Tư Phúc, Phụ lăng, Ngải Sơn, Nguyên lăng, Hi lăng Xác thực quy mô nền móng, kỹ thuật xây bó vỉa, ngói sen, chân tảng đá hoa sen và di vật.
Khảo cổ mộ táng Khu lăng Tam Đường (Thái Bình) và 14 mộ táng tôn thất thời Trần Dấu tích đường hoa chanh, kết cấu quách cũi gỗ, táng thức hỏa táng, đường Toại đạo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tư liệu và vấn đề

Chương 1 (34 trang) hệ thống hóa các vấn đề lịch sử địa phương và tư liệu nghiên cứu. Đông Triều là quê gốc của nhà Trần trước khi dòng họ này chuyển cư xuống vùng hạ lưu sông Hồng (Nam Định, Thái Bình). Năm 1237, sau "biến loạn sông Cái", vua Trần Thái Tông cắt đất 5 xã (Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang) phong cho anh trai là Trần Liễu làm đất thang mộc và phong làm An Sinh vương. Giữa thế kỷ XIV, vua Trần Dụ Tông đổi An Sinh thành Đông Triều. Đông Triều trở thành trung tâm văn hóa, tín ngưỡng đặc biệt: Nơi đây có dãy Yên Tử là kinh đô Phật giáo Trúc Lâm (chùa Tử Tiêu, Hoa Yên); có am Ngọa Vân trên núi Bảo Đài là nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn; đồng thời là nơi đặt tông miếu và khu lăng tẩm thứ hai của vương triều.

Chương này trình bày chi tiết lịch sử khai quật tại từng di tích lăng tẩm ở Đông Triều:

  • Thái lăng: Khai quật năm 2007 (TAT07) và 2008 (TAT08), xác định mặt bằng kiến trúc trung tâm trên đồi Trán Quỷ với cấu trúc nền nhiều cấp, diễn biến qua 3 giai đoạn thời Trần. Mái lợp ngói sen, ngói mũi lá, hoàn toàn không dùng ngói ống (ngói âm dương).
  • Tư Phúc lăng: Khai quật lần 1 năm 2009 (350m²), lần 2 năm 2016 (600m²). Phát hiện dấu tích đường Thần đạo, chân tảng, bó nền, các di vật từ thời Trần kéo dài qua thời Lê sơ, Lê Trung hưng đến thời Nguyễn.
  • Phụ Sơn lăng: Khai quật lần 1 năm 2012 (250m²), lần 2 năm 2016 (550m²), tổng diện tích 800m². Xuất lộ mặt bằng Tẩm điện và hệ thống vật liệu kiến trúc thời Trần.
  • Nguyên lăng: Từng bị đào trộm cổ vật vào thập niên 80 của thế kỷ XX; năm 2007 tác giả khảo sát phát hiện mảnh bia Minh Mạng vỡ; năm 2012 khai quật 250m², làm rõ huyệt mộ (Kim tĩnh) và đường dẫn Toại đạo.
  • Ngải Sơn lăng: Từng bị đào phá; khai quật lần 1 năm 2014 (200m²), lần 2 năm 2016 (400m²). Làm xuất lộ dấu tích tường bao, đường gạch, dấu vết kiến trúc tháp, mô hình kiến trúc và các mảnh bia đá thời Trần gắn trên lưng rùa.
  • Hi lăng: Điều tra năm 2008 - 2009, khai quật năm 2013 và 2016 trên núi Đạm Thủy (núi Ngọc Thanh). Phát lộ nền móng Tẩm điện thời Trần và làm rõ sự chuyển đổi chức năng thành chùa, quán từ thời Lê Trung hưng.

Chương 2: Các di tích lăng tẩm vua Trần ở Đông Triều

Chương 2 (113 trang) là phần nội dung thực địa trọng tâm, đi sâu phân tích từng di tích:

  • Thái lăng (Đồng Thái lăng): Là lăng của vua Trần Anh Tông (táng tháng 12 năm Canh Thân - 1320) và phụ táng Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng thái hậu (táng năm 1332 sau 10 năm tu hành tại am Mộc Cao). Lăng tọa lạc trên đồi Trán Quỷ (Đảo Vua trong lòng hồ Trại Lốc, cao độ 37 - 39,45m). Lăng nằm ở vị thế phong thủy "khúc thủy bao thành", phía trước có suối Phủ Am Trà hợp lưu tạo thành minh đường tụ thủy, phía sau tựa núi Bảo Đài. Di tích ghi nhận 3 giai đoạn kiến trúc thời Trần: Giai đoạn 1 xây dựng năm 1320; giai đoạn 2 xây dựng bổ sung khi phụ táng Bảo Từ Hoàng hậu năm 1332; giai đoạn 3 cải tạo mở rộng quy mô.
  • Mục lăng (Đồng Mục lăng): Lăng của vua Trần Minh Tông (băng hà năm Đinh Dậu 1357, táng tháng 11 cùng năm), vị trí xây dựng ở xứ đồng Mục, sát liền kề với khu vực Thái lăng.
  • Ngải Sơn lăng (An lăng): Lăng của vua Trần Hiến Tông (táng năm 1344 tại An Lăng ở Kiến Xương, đưa về Đông Triều năm 1381). Khảo cổ học tìm thấy dấu vết nền móng Chính tẩm, hệ thống tượng thú đá (ngựa đá, voi đá, trâu đá, dê đá, hổ đá, quan hầu), phế tích tháp đá, mô hình kiến trúc và bia đá thời Trần.
  • Phụ lăng (Phụ Sơn lăng): Lăng của vua Trần Dụ Tông (mất ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu 1369), tọa lạc tại chân núi xã An Sinh. Khai quật làm rõ mặt bằng Tẩm điện nhiều gian, tường bao và các loại gạch ngói trang trí tinh xảo.
  • Hi lăng: Lăng của vua Trần Duệ Tông, được Thượng hoàng Trần Nghệ Tông cho lập năm 1377 để chiêu hồn vua tử trận tại thành Đồ Bàn về an táng. Lăng nằm trên sườn Đông Bắc núi Đạm Thủy (núi Ngọc Thanh). Luận án giải quyết triệt để sự nhầm lẫn của thư tịch triều Nguyễn khi coi đây là lăng của Trần Nghệ Tông và Trần Thuận Tông, chỉ ra sự chuyển biến mặt bằng di tích thành quán Đạo giáo/chùa thời Lê Trung hưng.
  • Tư Phúc lăng: Xây dựng năm 1381 khi triều đình rước thần tượng các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông từ Chiêu lăng và Dụ lăng (Tam Đường, Thái Bình) về tránh giặc Chiêm Thành cướp phá; sau đó có thông tin phụ táng Giản Định Đế. Di tích có dấu vết Thần đạo, sân gạch, chân tảng và sự tồn tại của chùa Tư Phúc kế cận.
  • Nguyên lăng: Lăng của vua Trần Nghệ Tông (mất ngày 15 tháng 12 năm Giáp Tuất 1394). Lăng đặt tại khu vực Khe Nghệ, thôn Bãi Dài, xã An Sinh. Khai quật làm xuất lộ Toại đạo nối vào Kim tĩnh sâu 5 - 6m, tìm thấy các mảnh vỡ của bia đá dựng năm Minh Mạng thứ 21 (1840).

Chương 3: Những đặc trưng của quần thể lăng tẩm các vua Trần ở Đông Triều (Quảng Ninh)

Chương 3 (29 trang) tổng hợp các quy luật và đặc điểm mang tính hệ thống của quần thể:

  • Vị trí và cảnh quan phong thủy: Toàn bộ 07 lăng tẩm được phân bố theo thế đất tự nhiên dọc hữu ngạn hệ thống suối Phủ Am Trà và sông Đạm Thủy (dài khoảng 12km). Các lăng tẩm tận dụng sườn đồi, gò đồi tự nhiên tạo thế "tả thanh long, hữu bạch hổ, hậu chẩm tựa núi cao, tiền diện minh đường tụ thủy", vừa hợp cách phong thủy vừa kiểm soát mạng lưới giao thông thủy kết nối về Thăng Long và Thiên Trường.
  • Bố cục không gian và mặt bằng Địa thượng: Các lăng tẩm được quy hoạch theo lối giật cấp nền từ thấp lên cao trên các sườn đồi. Trung tâm là Chính tẩm nhiều gian khép kín, phía trước có sân lát gạch, hệ thống tường bao bảo vệ, cổng Chu Tước mở về phía Nam và trục Thần đạo dẫn lối.
  • Cấu trúc Địa hạ: Dựa trên dấu tích tại Nguyên lăng và các mộ táng thời Trần so sánh, phần ngầm gồm có đường Toại đạo dẫn dắt quan tài vào huyệt mộ Kim tĩnh; trong lòng huyệt sử dụng kỹ thuật ướp xác hoặc bảo quản bằng nhiều lớp quách gỗ hình cũi, lót than củi dày từ 0,35 - 0,5m và vôi bột để chống ẩm. Táng thức hỏa táng chứa tro cốt trong lọ gốm men được áp dụng song song với hung táng.
  • Vật liệu xây dựng và nghệ thuật trang trí:
    • Vật liệu kiến trúc: Sử dụng gạch vuông lát nền có hoa văn hoặc trơn, gạch bìa xây móng bó vỉa; mái lợp hoàn toàn bằng ngói sen (ngói sen đơn, ngói sen kép) và ngói mũi lá phẳng. Điểm khác biệt quan trọng là không sử dụng ngói ống (ngói âm dương) như kiến trúc cung đình Thăng Long đương thời.
    • Nghệ thuật điêu khắc: Trang trí rồng đá uốn lượn hình sin, tượng linh thú (kỳ lân, hổ, voi, ngựa, trâu, dê) và tượng quan hầu chầu hai bên đường Thần đạo; các chân tảng đá chạm khắc cánh sen mang dấu ấn mỹ thuật Phật giáo thời Trần.
  • Tổ chức trông coi và thờ phụng: Thời Trần, bên cạnh lăng có các am quy tụ do hậu phi tu hành trông nom (tiêu biểu như am Mộc Cao của Bảo Từ Hoàng thái hậu). Sau thời Trần, trách nhiệm bảo quản chuyển giao dần cho cộng đồng làng xã sở tại thông qua thiết chế dân "tạo lệ", ruộng đất lăng tẩm trở thành đất công của làng và việc phụng thờ vua Trần trở thành hội làng gắn với tục kết chạ giữa các xã lân cận.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và giá trị thực tiễn:

  • Đóng góp về lý luận và nhận thức lịch sử:
    • Cung cấp bức tranh toàn diện, chân xác và có hệ thống đầu tiên về quần thể lăng tẩm các vua Trần tại Đông Triều thông qua việc đối chiếu giữa thư tịch cổ, văn bia, tài liệu dân tộc học và tư liệu khảo cổ học địa tầng.
    • Khảo đính và xác định chuẩn xác tên gọi, vị trí và chủ nhân của 07 lăng tẩm; phân định rõ sự khác biệt giữa Hi lăng (vua Trần Duệ Tông) trên núi Đạm Thủy và Nguyên lăng (vua Trần Nghệ Tông) tại Khe Nghệ, giải quyết các nhầm lẫn tồn tại từ thời Nguyễn trong Đại Nam nhất thống chí và cuốn Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ.
    • Xác lập đặc trưng mặt bằng Tẩm điện thời Trần với kết cấu nền nhiều cấp, hệ thống mái lợp ngói sen và kỹ thuật xây dựng mang đậm dấu ấn phong thủy kết hợp tín ngưỡng Phật giáo - Nho giáo.
    • Thiết lập khung niên đại chuẩn mực cho các loại hình di vật (gạch, ngói sen, đồ gốm men, đồ sành, tượng đá) thời Trần, tạo cơ sở đối sánh tin cậy cho các di tích khảo cổ học khác trên toàn quốc khi bị xáo trộn địa tầng hoặc thiếu niên đại tuyệt đối.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
    • Cung cấp hồ sơ khoa học và bản vẽ kỹ thuật xác thực về mặt bằng nguyên gốc của từng lăng tẩm, làm căn cứ pháp lý và cơ sở khoa học trực tiếp cho công tác quy hoạch, cắm mốc giới bảo vệ di tích.
    • Đưa ra căn cứ phục vụ các dự án bảo tồn, tu bổ, phục hồi di tích kiến trúc và tôn tạo cảnh quan quần thể di tích nhà Trần tại thị xã Đông Triều, phục vụ công tác xây dựng hồ sơ Di sản thế giới cho Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Đông Triều.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ các giới hạn khách quan trong quá trình triển khai:

  • Về phạm vi khảo sát phần Địa hạ: Do nguyên tắc bảo tồn di tích khảo cổ học, tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu cấu trúc ngầm (Huyền cung, Toại đạo, Kim tĩnh) tại các lăng tẩm đã bị kẻ gian đào phá làm xuất lộ từ trước (như Nguyên lăng, Ngải Sơn lăng); các lăng tẩm còn nguyên vẹn tuyệt đối không đào bới xâm phạm. Do đó, tư liệu về cấu trúc Địa hạ chưa đạt tính đồng bộ tuyệt đối trên cả 07 lăng.
  • Tình trạng phế tích: Nhiều di tích bị tàn phá nặng nề bởi thời gian, việc san gạt đất làm thủy lợi (như việc đắp đập hồ Trại Lốc làm ngập chân đồi Thái lăng) và nạn đào trộm cổ vật khiến một số kiến trúc trung tâm không còn nguyên vẹn bình đồ ban đầu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục mở rộng diện tích thám sát khảo cổ học tại các khu vực phụ cận của Tư Phúc lăng và Hi lăng; tiến hành các phân tích chuyên sâu về cổ môi trường học, giám định thành phần khoáng vật học của gạch ngói và ứng dụng công nghệ quét radar xuyên đất (GPR) để thăm dò phần ngầm mà không cần can thiệp khai quật.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành quan trọng trong các lĩnh vực:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Cung cấp phương pháp luận mẫu mực về khảo cổ học kiến trúc, cách thức xử lý văn bản học (Hán Nôm) kết hợp phân tích hiện vật khảo cổ học và dân tộc học làng xã.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Cung cấp tư liệu chi tiết về lịch sử kiến trúc quân chủ, nghệ thuật điêu khắc thời Trần và lịch sử vùng đất Đông Triều trong chương trình giảng dạy Lịch sử Việt Nam và Khảo cổ học Việt Nam.
  • Đối với các nhà quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Luận án là tài liệu nền tảng phục vụ Ban Quản lý Di tích tỉnh Quảng Ninh, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Quảng Ninh và UBND thị xã Đông Triều trong công tác trùng tu, bảo tồn di tích phế tích dưới lòng đất; xây dựng quy hoạch tổng thể bảo tồn gắn với phát triển du lịch văn hóa bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Quần thể lăng tẩm các vua Trần tại Đông Triều bao gồm những lăng tẩm nào và thuộc địa bàn xã nào hiện nay?
Quần thể bao gồm 07 lăng tẩm: 1) Thái lăng (vua Trần Anh Tông); 2) Mục lăng (vua Trần Minh Tông); 3) Ngải Sơn lăng (vua Trần Hiến Tông); 4) Phụ lăng (vua Trần Dụ Tông); 5) Hi lăng (vua Trần Duệ Tông); 6) Nguyên lăng (vua Trần Nghệ Tông); và 7) Tư Phúc lăng (thờ thần vị Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông). Về địa bàn phân bố, 6/7 lăng nằm ở các sườn đồi phía Bắc thuộc xã An Sinh; duy nhất Hi lăng được xây dựng trên núi Đạm Thủy (núi Ngọc Thanh) thuộc xã Thủy An, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

2. Điểm khác biệt cơ bản giữa lăng tẩm các vua Trần tại Đông Triều và các công trình cung điện tại Hoàng thành Thăng Long về vật liệu lợp mái là gì?
Khảo sát khảo cổ học tại Thái lăng và các lăng tẩm ở Đông Triều cho thấy toàn bộ mái kiến trúc Tẩm điện được lợp bằng ngói phẳng, chủ yếu là ngói sen (gồm ngói sen đơn, ngói sen kép) và ngói mũi lá. Các di tích lăng tẩm này hoàn toàn không sử dụng ngói ống (ngói âm dương) - loại vật liệu vốn được dùng phổ biến tại các công trình cung điện thuộc Hoàng thành Thăng Long đương thời.

3. Vì sao có sự nhầm lẫn lịch sử kéo dài giữa Hi lăng và Nguyên lăng trong các thư tịch cổ?
Sự nhầm lẫn bắt nguồn từ văn bia Trần triều bi ký tại điện An Sinh chép lăng vua Trần Nghệ Tông ở xứ Đồng Hỉ (tục gọi Chiêu lăng), khiến sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ và sách Đại Nam nhất thống chí ngộ nhận Đồng Hỉ (Hi lăng) là lăng của Trần Nghệ Tông. Luận án đối chiếu Đại Việt sử ký toàn thư và khai quật thực địa để chứng minh: Hi lăng trên núi Đạm Thủy là nơi vua Nghệ Tông cho lập năm 1377 để chiêu hồn vua Trần Duệ Tông tử trận tại Đồ Bàn; còn lăng thực sự của vua Trần Nghệ Tông là Nguyên lăng, tọa lạc tại khu vực Khe Nghệ thuộc xã An Sinh.

4. Dấu tích khảo cổ học phần Địa hạ (cấu trúc ngầm) tại các lăng tẩm nhà Trần phát hiện được những thành phần kết cấu nào?
Tại các di tích bị đào lộ xuất như Nguyên lăng và qua so sánh với mộ táng Tam Đường, Nghĩa Hưng, phần Địa hạ gồm có đường Toại đạo (đường dốc dẫn quan tài vào huyệt) nối liền với huyệt mộ Kim tĩnh ở độ sâu khoảng 5 - 6m. Cấu trúc quan quách gồm nhiều tầng quách gỗ hình cũi ghép mộng, khoảng trống giữa các tầng được chèn lớp than củi dày từ 0,35 - 0,5m và vôi bột để chống ẩm, bảo vệ quan tài chứa thi hài hoặc lọ gốm đựng tro cốt.

5. Các làng xã tại Đông Triều duy trì việc trông coi và tế tự lăng tẩm nhà Trần sau khi vương triều sụp đổ như thế nào?
Sau thời Trần, triều đình phong cho dân cư địa phương làm dân "tạo lệ", giao đất lăng tẩm làm ruộng đất công làng xã để lấy hoa lợi phục vụ tế tự. Trong 46 làng xã được EFEO điều tra năm 1938, có 07 làng thờ vua Trần làm thành hoàng hoặc trọng lễ. Các làng Triều Khê, Đạm Thủy, Đoàn Xá, Tràng Bảng kết chạ với làng An Sinh; hàng năm vào ngày kỵ và lễ hội đền An Sinh, các làng dâng lễ mặn rồi làm thủ tục đổi lấy cỗ chay của làng An Sinh để khẳng định vị trí chủ lễ tối cao của đền chính An Sinh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Anh là công trình khảo cổ học kiến trúc nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về quần thể lăng tẩm các vua Trần tại Đông Triều (Quảng Ninh). Bằng phương pháp điền dã khai quật kết hợp đối sánh văn bản học và dân tộc học, công trình đã làm sáng tỏ vị trí, tên gọi, chủ nhân thực sự của 07 lăng tẩm, đồng thời phục dựng quy chuẩn bình đồ kiến trúc Tẩm điện thời Trần với đặc trưng lợp ngói sen và quy hoạch giật cấp tựa núi hướng sông. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cứ liệu quan trọng cho ngành khảo cổ học lịch sử Việt Nam mà còn là căn cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch, tu bổ và phát huy giá trị di sản văn hóa thời Trần tại vùng đất Đông Triều.