Chương 1 TONG QUAN TU LIEU VA VAN DE 1. Vài nét về vùng đất Đông Triều trong lich sử Đông Triều là quê gốc của nhà Trần, nơi tiên tổ nhà Trần sinh sống và cư trú trước khi dời xuống khai phá vùng đất hạ lưu sông Hồng thuộc Nam Định, Thái Bình ngày nay. Sách Trần thị gia huấn, được viết vào năm Thành Thái thứ 9 (1907) hiện lưu giữ tại đền Cé Trạch (Tức Mặc - Nam Định) viết rằng: “Nhà Trần ban đầu tới núi Yên Tử chiếm địa thế núi, dựng ngôi chùa nhỏ thờ Phật, một vùng sau núi sau nay có thé làm nơi của họ hàng ăn ở yên vui, nay là xã An Sinh, huyện Đông Triều, tinh Hải Duong’ có miéu nhà Trần ở đó. Một ngày kia đến khu vực khang kiện vùng Tức Mặc, Thiên Trường, nay có miéu thờ tự nhà Tran ở đó.
Sách này còn cho biết thêm: “Xét về quê hương của họ Trần có ba nơi, thứ nhất Dương trạch ở xã An Sinh huyện Đông Triều tỉnh Hải Dương, thứ hai Dương trạch ở xã Tức Mặc huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, thứ ba Âm phần ở xã Thái Đường huyện Hưng Nhân nay thuộc tỉnh Thái Bình”. Sự kiện quan trọng được chính sử nhắc đến phản ánh mối quan hệ giữa vùng đất Đông Triều với nhà Trần diễn ra năm 1237. Theo Toàn thư, năm Đinh Dậu, niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 6 (1237), sau “biến loạn sông cái” vua Trần Thái Tông đem đất 5 xã gồm: Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng và Yên Bang cấp cho anh mình là Trần Liễu làm đất thang mộc và phong ông làm An Sinh vương. Cũng xin lưu ý thêm, thời Trần, Trần Liễu là người duy nhất được nhà Trần lấy tên đất để đặt làm vương hiệu.
An Sinh vương tức là vương của đất An Sinh. Việc đặt vương hiệu như vậy dường như cho thấy ấn ý sâu xa của vua Tran Thái Tông khi trao vùng đất “quê cha, đất tổ” cho anh cả mình cai quản. Khoảng giữa thế kỷ XIV, vua Trần Du Tông (1341 - 1369) lấy đất An Sinh đổi làm Đông Triều (#5). Dat An Sinh và sau đó là Đông Triều thời Trần tương đương với địa giới các huyện/thị: Đông Triều, Uông Bí, phần lớn đất Quảng Yên (Quảng Ninh), một phần của huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) và một phần của huyện Kinh Môn (Hải Dương) ngày nay.
Từ thời Lê sơ (thế ky XV) cho đến cuối thế ky XIX, về cơ ban địa giới của huyện Đông Triều bao gồm thị xã Đông Triều và hầu hết diện tích của thành phố Uông Bí hiện nay; về mặt hành chính Đông Triều là một huyện của tổng ! Từ năm 1831 đến năm 1963 huyện Đông Triều thuộc tỉnh Hải Dương. 11 Kinh Môn, Thừa tuyên rồi xứ và sau đó là tỉnh Hải Dương. Sau nhiều lần chuyển đổi, tháng 10 năm 1961, Đông Triều trực thuộc Đặc khu Hồng Quảng; Ngày 30/10/1963, khi Đặc khu Hồng Quảng sát nhập với tỉnh Hải Ninh thành tỉnh Quảng Ninh, Đông Triều chính thức trở thành đơn vị cấp huyện của tỉnh Quang Ninh [118, tr. Qua những lần điều chỉnh, địa giới và quy mô của Đông Triều có ít nhiều thay đổi, hiện nay (2017), Đông Triều là thị xã nằm ở cửa ngõ phía tây của tinh Quảng Ninh, trong khu vực có tọa độ địa ly 102904” đến 21044°55” vi độ Bắc; 106033’ đến 106044’ 57” kinh độ Đông: diện tích tự nhiên 397kmỷ, dân số trên 17 vạn người, được chia thành 21 đơn vị hành chính (6 phường và 15 xã).
Phía Bắc giáp huyện Sơn Động và huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang; phía tây giáp huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương; phía Nam giáp huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương; phía đông nam giáp huyện Thuỷ Nguyên thuộc thành phố Hải Phòng và phía đông giáp thành phố Uông Bí [quangninh. Đông Triều có địa hình đồi núi trung du xen lẫn đồng băng. Phía Bắc và Tây Bắc là vùng đồi núi thuộc cánh cung Đông Triều, phía Nam là vùng đồng băng ven sông. Vùng đồi núi phía Bắc gồm các xã: An Sinh, Bình Khê, Tràng Lương.
Vùng giữa là vùng đôi núi thấp xen kẽ, kéo dài từ xã Hồng Thái Đông qua phía Bắc thị trân Mạo Khê, xã Kim Sơn, xã Tràng An. Vùng đồng bằng phía Nam là khu vực giáp với sông Kinh Thầy và sông Bạch Đăng. Đánh giá về vị trí của Đông Triều, cổ nhân đã tổng kết: “Huyện Đông Triều có núi non tạo nên thành lũy, có sông dài uốn lượn tạo nên thắng địa. Đường thủy thông nhau, nối liền các tran thành, sông khu cau tháp là nơi người và vật tụ hội, đây chính là vùng danh thắng phía Đông.
Thời nhà Trần, nhà Lê, Đông Triều được coi là nơi hiểm yếu của phía Đông” [130, tờ. Thông qua các dòng sông: Kinh Thay, Đá Bạc, Dam Thuy,. Đông Triều có thé kết nối với biển và ngược về Thăng Long hoặc xuôi về Thiên Trường rất thuận lợi. Là quê gốc của nhà Trần, lại là nơi có dày Yên Tử, trốn phúc địa quan trọng của Đại Việt nên nhà Trần không chỉ chọn Đông Triều là nơi xây dựng các phủ đệ mà nơi đây còn là kinh đô của Phật giáo thời Trần với Tử Tiêu, Vân Yên (sau gọi là Hoa Yên) trên núi Bach Vân là nơi Thượng hoảng Trần Nhân Tông xuất gia tu hành, đắc đạo, thuyết pháp, độ tăng, sáng lập tông phái Trúc Lâm; Ngọa Vân trên núi Bảo Đài là nơi đức vua, Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, kết thúc trọn vẹn quá trình tu hành, thành Phật của đức vua, Phật hoàng Trần Nhân Tông.
Ngọa Vân là thánh địa của Thiền phái Trúc lâm, Yên Tử là kinh đô của Phật giáo 12 Việt Nam thời Trần. Không chỉ có vậy, Đông Triều cũng là nơi nhà Trần chọn làm nơi xây dung tông miéu và lăng tâm (âm trạch), do đó Đông Triều được đánh giá là trung tâm văn hóa tôn giáo và tín ngưỡng của nhà Trân. Có tổng cộng 07 lăng tam của vua Trần được xây dựng tại Đông Triều gồm: Thái lăng hay Đồng Thái lăng của vua Trần Anh Tông, Mục lăng hay Đồng mục của vua Trần Minh Tông, An lăng hay còn gọi là Ngải Sơn lăng của vua Trần Hiến Tông, Phụ Sơn lăng hay Phụ lăng của vua Trần Dụ Tông, Hi lăng của vua Trần Duệ Tông, Nguyên lăng của vua Trần Nghệ Tông và Tư Phúc lăng của vua Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông. Hầu hết các lăng này (6/7 lăng) được xây dựng ở các đôi núi phía Bắc thuộc địa bàn xã An Sinh, duy nhất Hi lăng được xây trên núi Đạm Thủy thuộc thôn Đạm Thủy, xã Thủy An.
Mỗi lăng tam của vua Trần ở Đông Triều là một cụm công trình độc lập được xây dựng trên một quả đồi hoặc một sườn đồi. Các đồi này nằm dọc hữu ngạn của suối Phủ Am Trà và sông Đạm Thủy. Phủ Am Trà là tên gọi của dòng suối chính, bắt nguồn từ đỉnh núi Bao Đài hay còn gọi là núi Vay Rồng, nơi Trần Nhân Tông dựng am tu thiền và hóa Phật với hàng chục phụ lưu lớn nhỏ. Suối Phủ Am Trà cũng là nguồn chính của sông Đạm Thủy.
Sông Đạm Thủy dài khoảng 12km với nhiều khúc uốn quanh co, sông có hai nguồn nước chính, nguồn thứ nhất cũng là nguồn quan trọng nhất là suối Phủ Am Trà với hàng chục phụ lưu của nó; nguồn thứ hai bắt nguồn từ núi Khe Chè nay thượng nguồn bị chặn lại thành hồ Khe Chè. Hai nguồn này hợp lưu tại thôn Hồ Lao xã Tân Việt, chảy theo hướng Đông Bắc — Tây Nam và nhập vào sông Kinh Thay ở vị trí giáp ranh giữa làng An Biên của xã Thủy An và làng Triều Khâu của xã Hồng Phong, thị xã Đông Triều. Do vậy, về cơ bản có thể gọi chung dòng chảy này từ khởi nguồn đến khi nhập vào sông Kinh Thay là sông Dam Thủy. Không chi năm ở hữu ngạn của dòng Dam Thủy, mà dòng Đạm Thủy và những phụ lưu, chi lưu của nó còn chảy qua trước mặt của các lăng tạo thành Minh Đường tụ thủy theo quan niệm của Phong Thủy.
Vị trí phân bố của các lăng cho thấy, dường như Dam Thủy đóng vai trò quan trọng trong việc nhà Tran lựa chọn vi trí để xây dựng lăng tam ở đây, đồng thời dòng sông này cũng giữ vai trò giao thông quan trọng kết nối các lăng tâm này với hệ thống sông khác, từ đó kết nối khu lăng tâm với kinh đô Thăng Long và phủ Thiên Trường cũng như các vùng khác. Một số thuật ngữ, khái niệm sử dụng trong luận án 1. Một số thuật ngữ, khái niệm cơ bản liên quan đến lăng tam Đề thong nhất sử dụng, cách hiểu các thuật ngữ, khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận án, trước hết chúng tôi xin làm rõ nội hàm một số thuật ngữ, khái niệm cơ bản sau: - Mộ Mộ (3#) von là một từ gốc Hán. Một số tư liệu cho biết, ở Trung Quốc, khởi nguyên “M6” có nghĩa là biến mat khi được chôn xuống đất, nó cùng nghĩa với “hư không”.
Chương Dan Cung trong cuốn Kinh Lễ cho biết, thời xa xưa mộ không có mô đất. Ghi chú của sách Kinh Lé giải thích thêm rang, nơi chôn cat mà không có gò dat hay không có cây trồng được gọi là M6. Theo Han Việt từ điển của Đào Duy Anh thi “mộ: mồ ma” [4, tr. Tir điển Tiếng Việt quan niệm “Mộ: Nơi chôn cất (hoặc chôn cất tượng trưng) người chết, được đắp hoặc xây cao hơn xung quanh [124, tr.639], còn “M6 ma: nơi chôn cất người chết” [124, tr.
Như vậy, theo Từ điển Tiếng Việt, Mộ là nơi chôn cất người chết nhưng phải được đắp hoặc xây cao hơn xung quanh, trong khi Ä⁄ồ md thì không nhất thiết phải xây, đắp cao hơn xung quanh. Hay nói cách khác khi nói M6 tức là phải có gò mộ, trong khi Mo ma thì không nhất thiết phải có gò mộ. Khái niệm Ä⁄ được sử dụng trong luận án là chỉ nơi chôn cất của tầng lớp thứ dân trong xã hội quân chủ. - Lang, Lăng tam, Sơn lăng Theo 7? điển tiếng Việt: Lăng là công trình xây dựng làm nơi cất giữ di hài của vua chúa (ngày xưa) hoặc của một vĩ nhân (ngày nay); Lăng tẩm là Lăng của vua chúa và các công trình xây dựng trong khu vực [124, tr.
Từ điển Bách khoa thư Việt Nam định nghĩa “Lăng là công trình cất giữ thi hài của các nhân vat quan trọng” [1 15, tr. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, Lăng là từ có nguồn gốc chữ Hán, Lang (2) nghĩa đen là cái gò cao, thời Hán (203TCN - 220CN) gọi mộ vua là Lăng (3).