Ba vòng thành Cổ Loa qua tư liệu khai quật khảo cổ 2007-2014 - Đào Thị Mai Huyên

Luận văn thạc sĩ phân tích ba vòng thành cổ Loa dựa trên tư liệu khai quật khảo cổ học từ năm 2007 đến 2014. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu về lịch sử và

Chuyên ngành

Khảo cổ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

215
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ba vòng thành Cổ Loa qua tư liệu khảo cổ

Thành Cổ Loa là tòa thành đất cổ nhất Việt Nam. Di tích nằm tại huyện Đông Anh, Hà Nội. Cấu trúc gồm ba vòng thành khép kín. Đó là Thành Nội, Thành Trung và Thành Ngoại. Ba vòng thành gắn liền với nhà nước Âu Lạc và thời kỳ An Dương Vương. Luận văn thạc sĩ của Đào Thị Mai Huyên tập trung vào ba vòng thành Cổ Loa qua tư liệu khai quật khảo cổ học từ năm 2007 đến năm 2014. Công trình hệ thống lại nguồn tư liệu phong phú. Nguồn tư liệu gồm thư tịch cổ Việt Nam, thư tịch cổ Trung Quốc, tư liệu dân gian và tư liệu khảo cổ học. Các cuộc khai quật giai đoạn này làm rõ địa tầng, kỹ thuật đắp và niên đại của thành. Vị trí địa lý và môi trường cảnh quan vùng Cổ Loa cũng được phân tích kỹ. Mục tiêu là dựng lại diện mạo công trình phòng ngự quy mô lớn. Nghiên cứu góp phần khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và quân sự của di tích.

1.1. Vị trí địa lý và môi trường cảnh quan vùng Cổ Loa

Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Vùng đất nằm bên bờ sông Hoàng, một nhánh cổ của sông Hồng. Địa hình ở đây cao ráo và bằng phẳng. Hệ thống sông ngòi bao quanh tạo điều kiện phòng thủ tự nhiên. Người xưa tận dụng địa thế để đắp ba vòng thành. Các đầm, hào và gò đất hỗ trợ việc kiểm soát đường thủy. Môi trường cảnh quan giàu nguồn đất sét và đất laterite. Đây là vật liệu chính để đắp lũy. Vị trí trung tâm đồng bằng Bắc Bộ giúp Cổ Loa giữ vai trò đầu mối giao thông và quân sự thời Âu Lạc.

1.2. Các nguồn tư liệu nghiên cứu ba vòng thành Cổ Loa

Nghiên cứu ba vòng thành Cổ Loa dựa trên bốn nhóm tư liệu. Thứ nhất là thư tịch cổ Việt Nam ghi chép về An Dương Vương và nhà nước Âu Lạc. Thứ hai là thư tịch cổ Trung Quốc bổ sung góc nhìn đối chiếu. Thứ ba là tư liệu dân gian, gồm truyền thuyết, tục kiêng tên húy và hệ thống địa danh cổ. Khảo sát ghi nhận khoảng 90 trên 397 địa danh gắn với thời An Dương Vương. Thứ tư là tư liệu khảo cổ học từ các cuộc khai quật. Nhóm tư liệu cuối cùng có độ tin cậy cao nhất. Nó cung cấp bằng chứng vật chất trực tiếp về kỹ thuật và niên đại.

II. Phân tích địa tầng và đặc trưng ba vòng thành Cổ Loa

Kết quả khai quật từ năm 2007 đến năm 2014 mang lại nhiều phát hiện mới. Các nhà khảo cổ mở hố thăm dò tại Thành Nội và Ụ Hỏa Hồi. Năm 2014 là đợt khai quật quan trọng. Địa tầng cho thấy thành được đắp thành nhiều lần. Mỗi lần đắp tương ứng một giai đoạn riêng. Lần đầu tiên đắp đất sét lẫn laterite màu đỏ. Các lần sau dùng đất sét màu nâu vàng và xám sẫm. Lớp ngói Cổ Loa, đá và than tro phân bố dày trên mặt lũy. Địa tầng không có lớp trầm tích tự nhiên hay dấu vết xói mòn. Điều này cho thấy thành được xây dựng liên tục trong thời gian ngắn. Có lẽ chỉ một thế hệ thực hiện toàn bộ công trình. Mặt thành rộng trên ba trăm chín mươi xăng-ti-mét. Ụ Hỏa Hồi dài khoảng hai mươi ba mét và cao trên một trăm xăng-ti-mét. Ngoài ra, khai quật còn thu được nhiều ngói, gốm tráng men và dấu vết kỹ thuật sản xuất. Những đặc trưng di tích này giúp định hình rõ cấu trúc ba vòng thành Cổ Loa.

2.1. Cấu tạo địa tầng và các giai đoạn đắp thành

Địa tầng Thành Nội phản ánh quy trình đắp thành nhiều lớp. Giai đoạn một dùng đất sét lẫn laterite màu đỏ sẫm. Lớp đất chứa nhiều cụm mảnh ngói lẫn than. Các giai đoạn tiếp theo dày từ vài chục đến hơn một trăm bốn mươi xăng-ti-mét. Vật liệu chuyển sang đất sét nâu vàng và xám. Toàn bộ chuỗi địa tầng không có lớp xói mòn xen kẽ. Vì vậy thành được đắp liên tục, không gián đoạn lâu dài. Người xưa hoàn thành vòng Thành Nội và Ụ Hỏa Hồi trước. Sau đó họ quay lại gia cố các giai đoạn kế tiếp. Quy trình này cho thấy trình độ tổ chức lao động cao.

2.2. Ngói Cổ Loa gốm tráng men và kỹ thuật sản xuất

Khai quật thu được số lượng lớn ngói Cổ Loa. Ngói tập trung dày trên mặt thành và trong các lớp đắp. Loại hình ngói phản ánh kỹ thuật làm vật liệu xây dựng đương thời. Bên cạnh ngói còn có gốm tráng men. Gốm cho thấy trình độ chế tác và quan hệ giao lưu văn hóa. Các dấu vết kỹ thuật sản xuất giúp xác định nguồn gốc vật liệu. Sự hiện diện đồng bộ của ngói, gốm và than tro chứng minh hoạt động xây dựng tại chỗ. Những hiện vật này là chứng cứ quan trọng để định niên đại ba vòng thành Cổ Loa và xác định tính chất công trình.

III. Phương pháp xác định niên đại và kỹ thuật đắp thành

Việc xác định niên đại ba vòng thành Cổ Loa dựa trên nhiều phương pháp. Phân tích địa tầng là cơ sở chính. Mỗi lớp đất đắp được mô tả theo màu sắc, độ dày và thành phần. Hiện vật trong từng lớp giúp xác định khung thời gian. Ngói, gốm và than tro là chỉ dấu quan trọng. Phương pháp đối sánh tư liệu cũng được áp dụng. Tư liệu khảo cổ kết hợp với thư tịch cổ và truyền thuyết dân gian. Kỹ thuật đắp thành được tái dựng qua quan sát mặt cắt lũy. Người xưa chọn đất sét và laterite làm vật liệu nền. Họ đắp từng lớp và nện chặt để tăng độ bền. Mặt thành rộng và chân thành mở rộng tạo thế vững chắc. Việc không có lớp xói mòn xen giữa các giai đoạn cho thấy tốc độ thi công nhanh. Phương pháp so sánh với các công trình phòng ngự khác cũng hữu ích. Cách tiếp cận đa nguồn này nâng cao độ tin cậy của kết luận. Nhờ đó, niên đại và kỹ thuật đắp ba vòng thành Cổ Loa được làm sáng tỏ hơn trước.

3.1. Kỹ thuật đắp lũy và xử lý vật liệu tại Cổ Loa

Kỹ thuật đắp thành Cổ Loa thể hiện sự tính toán kỹ lưỡng. Người xưa khai thác đất sét và laterite tại chỗ. Họ đắp lũy theo từng lớp nối tiếp nhau. Mỗi lớp được nện chặt trước khi đắp lớp mới. Ngói và than tro được trộn vào để gia cố. Cách làm này giúp lũy chống sạt lở. Mặt thành rộng trên ba trăm xăng-ti-mét tạo lối đi và bố trí phòng thủ. Chân thành mở rộng về phía bắc giữ thế ổn định. Ụ Hỏa Hồi nhô ra làm điểm quan sát và bắn tên. Toàn bộ kết cấu cho thấy tư duy quân sự rõ ràng của cư dân Âu Lạc.

3.2. So sánh thành Cổ Loa với các công trình phòng ngự khác

Luận văn so sánh thành Cổ Loa với nhiều di tích phòng ngự. Đối tượng đầu tiên là di tích đất đắp tròn ở Bình Phước. Hai loại hình có điểm chung về vật liệu đất đắp. Tuy nhiên quy mô và chức năng khác biệt rõ. Đối tượng thứ hai là thành Luy Lâu ở Bắc Ninh. Luy Lâu mang dấu ấn đô thị và hành chính thời Bắc thuộc. So sánh giúp làm nổi bật tính chất riêng của Cổ Loa. Ba vòng thành khép kín là đặc trưng hiếm thấy. Cấu trúc này khẳng định Cổ Loa là công trình quân sự và chính trị quy mô lớn bậc nhất thời cổ đại.

IV. Giá trị và bảo tồn di tích ba vòng thành Cổ Loa

Ba vòng thành Cổ Loa mang giá trị nhiều mặt. Về lịch sử, di tích gắn liền với nhà nước Âu Lạc và An Dương Vương. Đây là minh chứng cho nhà nước sớm tại Việt Nam. Về văn hóa, Cổ Loa lưu giữ truyền thuyết, lễ hội và hệ thống địa danh cổ. Tục kiêng tên húy và lễ cúng vẫn được duy trì đến nay. Về quân sự, ba vòng thành thể hiện tư duy phòng ngự chặt chẽ. Hệ thống lũy, hào và Ụ Hỏa Hồi tạo nhiều lớp bảo vệ. Tư liệu khai quật từ năm 2007 đến năm 2014 củng cố các giá trị này. Việc bảo tồn di tích trở nên cấp thiết. Một phần Thành Nội đã bị nhà dân xây dựng đè lên. Điều này làm mất một số dữ liệu gốc. Công tác bảo tồn cần kết hợp nghiên cứu và quản lý. Khu di tích Cổ Loa đòi hỏi quy hoạch rõ ràng. Phát huy giá trị di tích gắn với du lịch và giáo dục. Kết quả luận văn cung cấp cơ sở khoa học cho định hướng đó. Nhờ vậy, ba vòng thành Cổ Loa được gìn giữ cho thế hệ sau.

4.1. Giá trị lịch sử văn hóa và quân sự của Cổ Loa

Thành Cổ Loa hội tụ ba lớp giá trị nổi bật. Giá trị lịch sử nằm ở vai trò kinh đô Âu Lạc. Di tích chứng minh sự tồn tại của nhà nước sớm. Giá trị văn hóa thể hiện qua truyền thuyết và tín ngưỡng. Hệ thống địa danh cổ phản ánh ký ức cộng đồng. Lễ hội Cổ Loa tiếp nối truyền thống lâu đời. Giá trị quân sự gắn với cấu trúc ba vòng thành khép kín. Lũy đất, hào nước và Ụ Hỏa Hồi tạo thế phòng thủ vững. Ba giá trị này bổ sung cho nhau. Chúng làm cho Cổ Loa trở thành di sản đặc biệt của dân tộc.

4.2. Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di tích

Bảo tồn ba vòng thành Cổ Loa cần cách tiếp cận tổng thể. Trước hết phải bảo vệ địa tầng và các đoạn lũy còn nguyên. Nhiều khu vực đã bị xây dựng dân cư lấn chiếm. Quy hoạch khoanh vùng bảo vệ là yêu cầu cấp thiết. Tiếp theo cần số hóa tư liệu khai quật để lưu trữ lâu dài. Kết quả nghiên cứu nên gắn với trưng bày và giáo dục. Phát triển du lịch di sản giúp tạo nguồn lực bảo tồn. Cộng đồng địa phương cần tham gia gìn giữ di tích. Sự phối hợp giữa nhà khoa học và cơ quan quản lý mang tính quyết định. Nhờ đó di sản Cổ Loa được phát huy bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ ba vòng thành cổ loa qua tư liệu khai quật khảo cổ học từ năm 2007 đến năm 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU VỀ DI TÍCH CỔ LOA 1. Vị trí địa lý, địa hình và môi trường cảnh quan 1. Vị trí địa lý Thành Cổ Loa nằm trong quần thể Khu di tích Quốc gia đặc biệt Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội), một phần thuộc các xã Việt Hùng, Dục Tú, Uy Nỗ; tọa độ 21006'47" vĩ Bắc, 1050 52'24" kinh Đông, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 17km về phía Đông Bắc, được giới hạn: - Phía Đông giáp 2 xã Dục Tú và Việt Hùng; - Phía Tây giáp 2 xã Vĩnh Ngọc và Xuân Canh; - Phía Nam giáp 2 xã Đông Hội và Mai Lâm; - Phía Bắc giáp xã Uy Nỗ. Cổ Loa nằm trong vùng đất cổ thuộc cái nôi của nền văn minh Việt cổ có quá trình hình thành từ rất sớm, vào cuối thời đại đá cũ, cách ngày nay khoảng từ trên 20.000 năm đã có dấu tích con người sinh sống, các nhà khảo cổ học đã phát hiện tại gò Thư Cưu thuộc xóm Cưu một số viên đá cuội có dấu vết ghè đẽo gia công thuộc văn hóa Sơn Vi, từ khoảng một vạn năm đến khoảng 4.000 năm cách ngày nay Cổ Loa hoàn toàn vắng bóng người, đến hậu kỳ đá mới và giai đoạn kim khí tương đương với các giai đoạn văn hoá Phùng nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn, Cổ Loa khi ấy là bãi bồi của sông Hồng với những gò đất cao là đầm lầy, cây cối chằng chịt, chim thú nhiều.

Dấu tích về những người đầu tiên khai phá khu vực Cổ Loa vào nửa đầu thiên niên kỷ II TCN là di chỉ Đồng Vông, Xuân Kiều, Tiên Hội, Bãi Mèn, Đình Tràng, Dục Tú, Đường Mây. Trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi và địa bàn hành chính, xã Cổ Loa hiện nay đã tồn tại như một làng xóm định cư bên dòng sông Hoàng Giang từ mấy ngàn năm trước, Cổ Loa xưa 6 mang tên “làng Chạ” “Kẻ Chủ”, “Chạ Chủ” hay “Khả Lũ”. Thời Hùng Vương “Chạ Chủ” thuộc bộ Việt Thường - một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Thời An Dương Vương là kinh đô, trung tâm kinh tế, chính trị của nhà nước Âu Lạc (208 TCN).

Đến thời kỳ An Dương Vương (năm 208 TCN đến năm 179 TCN, tương đương với thời kỳ văn hoá Đông Sơn) Cổ Loa là vùng đất cao của đồng bằng châu thổ sông Hồng, được bao bọc bởi Hoàng Giang là dòng chảy thông với sông Hồng và sông Cầu. Nằm ở vùng đồng bằng trù phú và đông đúc dân cư, giao thông thuỷ bộ đều thuận lợi, lại có địa hình phù hợp cho việc xây thành, đắp lũy, phòng nguy cơ xâm lược của Triệu Đà. Năm 938, sau khi đánh tan quân xâm lược Nam Hán và lên ngôi vua, Ngô Quyền một lần nữa chọn Cổ Loa làm kinh đô để biểu lộ ý chí kế thừa truyền thống độc lập, tự cường của nước Âu Lạc trước kia. Triều đại nhà Ngô duy trì được 29 năm (938 - 967).

Đến thời Lý rồi thời Lê, Cổ Loa có tên là trại Phong Khê, trại Kim Lũ, sau lại đổi là trại Cổ Loa. Đến đầu thế kỷ XIX, các làng xã Cổ Loa thuộc về 2 tổng: Tổng Cổ Loa, tổng Xuân Canh, gồm có Cổ Loa, Cầu Cả, Mạch Tràng, Sằn Giã, Đài Bi, Thư Cưu, Văn Thượng, Vạn Lộc. Cổ Loa hiện nay là một trong 24 xã, thị trấn thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Là địa danh một xã, nhưng Cổ Loa cũng là một địa danh lịch sử nổi tiếng: Khu di tích Cổ Loa.

Làng Cổ Loa ngày nay là hợp nhất của 15 thôn (xóm), làng cổ, có tên gọi như sau: Thư Cưu,Cầu Cả, Sằn Giã, Mạch Tràng, Thượng – Cưu – Bãi (Ngõ Thượng), thôn Chùa (Hậu Miếu), Nhồi trên (Viên Lôi Thượng), Nhồi dưới (Viên Lôi Hạ), thôn Chợ (Ngõ Thị), thôn Vang (Đa Bang), thôn Gà (Quán Kê), thôn Hương (Hương Giai), thôn Dõng trên (Dõng Thượng), thôn Dõng dưới (Dõng Hạ), thôn Mít (Cự Nê), Lan Trì. Địa hình và môi trường cảnh quan Cổ Loa nằm phần “Thượng đỉnh”, trên trục chính của tam giác châu sông Hồng (cách đỉnh Việt Trì khoảng 35km theo đường chim bay, cách biển 65km). Đây là vùng chuyển tiếp từ trung du xuống đồng bằng, là khu vực đầu tiên được bồi đắp khi sông Hồng tiếp nhận các phụ lưu lớn của nó là sông Lô, sông Đà. Theo các nhà địa lý, tam giác châu sông Hồng chia làm ba vùng: Vùng cao, vùng giữa và vùng thấp.

Cổ Loa nằm trong vùng đất cao phía Tây Bắc của tam giác này. Cốt đất của Cổ Loa là 13m (trong khi của nội thành Hà Nội là 9m). Tại tất cả các làng trong xã đều có những “gờ” hay doi đất cao từ 13 – 15m (ở Tó) chạy dài, bên cạnh những dải đất thấp, chiều cao là 5m (ở Lộc Hà), nước thường tụ lại giữa các giải đất cao - thấp này, nên tạo thành các đầm hồ tương đối rộng. Những vùng trũng hình móng ngựa là kết quả của những lần đổi dòng của Hoàng Giang.

Mặc dù nằm giữa vùng đất cao của tam giác châu sông Hồng, nhưng Cổ Loa rất thuận lợi về đường thủy tự nhiên. Xã nằm giữa sông Cà Lồ (về phía Bắc) và sông Đuống. Phía Đông và phía Bắc của xã được ngăn chặn bởi một vùng đầm lầy vực sâu tự nhiên, xa xưa là những dải rừng hoang). Phía Nam có sông Thiếp hay còn gọi là sông Hoàng Giang bao bọc, thuở xa xưa là một nhánh lớn của sông Hồng, chảy qua năm huyện của vùng trung du và châu thổ (Yên Lãng, Yên Phong,Đông Ngàn, Tiên Du và Vũ Giang) nên còn gọi là Ngũ Huyện Khê đổ nước vào sông Cầu ở vùng Quả Cảm - Thổ Hà (giáp ranh giữa huyện Yên Phong của tỉnh Bắc Ninh và huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang).

Như vậy, sông Ngũ Huyện Khê nối Cổ Loa với vùng trung du và đồng bằng lân cận. Tại Cổ Loa có hệ thống các “thủy môn” chính là các đường nước tự nhiên hay còn gọi là “địa hình âm” bao gồm: Hệ thống Vực Dê - Đầm Chủ - Đầm Cả - Vực Tó - Đầm Vân Trì; hệ thống trong thành và đương hào thiên nhiên là dòng Hoàng Giang. 8 - Vực Tó ngày nay là đầm nước rộng khoảng 10ha; thuộc địa phận thôn Tó, xã Uy Nỗ. Vực Dê là nơi nhận 2 nguồn nước từ Vực Tó vào Đầm Vân Trì rồi đổ vào dòng sông Thiếp chảy vòng tới khu vực Mạch Tràng - đền Thượng là các “mộc” rắn đã phân thành nhiều nhánh, chảy vòng vo đến phía Đông Cổ Loa, còn 2 nhánh, một nhánh đổ vào Gò Vua (phía Bắc Thành Cổ Loa) để thông với Thành Ngoại, nhánh thứ hai nối với Ao Tó ngoài chảy men theo dãy gò Dục Nội, qua thôn Gia Lộc, đổ vào trũng Quậy, sau đó hợp nhất chảy về phía sông Cầu [83; tr.

- Hệ thống trong thành bao gồm mạng lưới nước từ cửa Cống Song vào Thành Trung như dọc Thuỳ (dọc sau xóm Thượng nối với xóm Bãi), dọc Trôi, dọc Hậu, dọc Giữa (nối Ao Ván, chia đôi xóm Nhồi Trên và Nhồi Dưới), dọc Ngã Ba, dọc Vườn Thuyền, Ao Mắm. - Đường hào thiên nhiên là dòng Hoàng Giang (còn có tên là Ngũ Huyện Khê), được bắt nguồn từ sông Hồng. Hoàng Giang ngày nay chỉ còn là con lạch nhỏ và đã tồn tại từ lâu như một con sông tự nhiên, có vai trò quan trọng đối với vùng Cổ Loa. Trong quá trình thành tạo châu thổ sông Hồng, trong đó có vùng Cổ Loa, tác động của con người không kém phần tích cực so với tự nhiên.

Tuy biển đã rút, nhưng bề mặt châu thổ còn mấp mô, nhiều đầm lầy hoang vu, nước mặn ngấm sâu vào đất, mưa theo mùa, đồng bằng có độ dốc lớn, nạn ngập lụt thường xảy ra. Trải qua thời gian, biển rút xa, thủy triều không ảnh hưởng tới nguồn nước ngọt, mưa lũ rửa trôi độ mặn trong đất, cây cối dần phát triển thành rừng. Những tên gọi dân gian ở vùng Cổ Loa phản ánh phần nào lịch sử cảnh quan ở đây như: Thư Cưu, Mai Lâm, Gia Lâm, gò Dơi, Du Lâm…[83; tr. Những người Việt cổ đầu tiên xuống khai phá vùng Hoàng Giang.

Để canh tác, họ phải khơi sông, khơi ngòi, đào ao, lấp trũng, đắp đê sông, đê biển, bờ vùng, bờ thửa nên đã chặn đứng quá trình hình thành tự nhiên của vùng 9 đồng bằng châu thổ và để lại nhiều vùng trũng mà nhân dân Cổ Loa gọi là “dộc”, khu đất thấp nhất ở ba làng Quậy (phía Đông Bắc Cổ Loa) [83; tr. Quá trình chiếm lĩnh đồng bằng của cư dân Việt cổ trên vùng đất Cổ Loa còn để lại đến hôm nay là hệ thống các di chỉ khảo cổ học từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn ở khu vực này. Những cư dân đầu tiên đến khai phá vùng đất Cổ Loa đã định cư trên các bãi cao ven Hoàng Giang ở Đồng Vông, Bãi Mèn, Tiên Hội, Xuân Kiều. Đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, địa bàn cư trú mở rộng cả ở nội và ngoại Thành Cổ Loa.

Trong Thành Nội Cổ Loa phát hiện địa điểm Mả Tre với chiếc trống đồng Cổ Loa loại I, Heger, bên trong chứa hàng trăm hiện vật đồng Đông Sơn. Địa điểm xóm Nhồi, xóm Hương, đền Thượng với việc xuất lộ lớp văn hóa Cổ Loa (lớp văn hóa Đông Sơn muộn). Trong lớp văn hóa này, ngoài phát hiện ra gốm Cổ Loa còn phát hiện ra dấu tích lò đúc mũi tên đồng ba cạnh, các mang khuôn. Đây là di tích đầu tiên gắn trực tiếp đến việc An Dương Vương lập nước Âu Lạc, định đô và đắp thành ở Cổ Loa.

Ở ngoại thành phát hiện được các di tích Đường Mây, Cầu Vực, Đình Tràng là các làng cổ Đông Sơn. Các cư dân này đã cùng với các cư dân trong thành nội giúp An Dương Vương đào hào, đắp thành (SĐ 04, 05). Tổng quan nguồn tư liệu nghiên cứu về Cổ Loa và ba vòng Thành Cổ Loa 1. Thư tịch cổ Việt Nam Trong Đại Việt sử ký toàn thư có một phần riêng – Kỷ nhà Thục trong quyển I, ngoại kỷ để chép chuyện An dương Vương và nước Âu Lạc: “[An Dương Vương] họ Thục, tên húy là Phán người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là thành Cổ Loa)” “Giáp Thìn, năm thứ nhất (257 TCN), (Chu Noãn Vương năm thứ 58).

Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành, lại có tên là thành Tư Long 10 (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn vì thành rất cao).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ