Tổng quan luận án
Công trình khoa học được giới thiệu là luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 9229015) của nghiên cứu sinh Trần Thị Vân, thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn gồm PGS.TS. Nguyễn Viết Thảo và TS. Lương Viết Sang. Tên đề tài chính thức của luận án là: “Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015”. Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập trung làm rõ đường lối, chủ trương và quy trình chỉ đạo tổ chức thực hiện của một cấp ủy địa phương đối với một đoàn thể chính trị - xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả luận án trình bày: Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước và qua các thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ Việt Nam luôn giữ vai trò quan trọng, cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bước vào thời kỳ đổi mới, công tác phụ nữ và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tiếp tục được Đảng xác định là nhiệm vụ hàng đầu nhằm xây dựng lực lượng quần chúng vững chắc, bảo đảm bình đẳng giới và sự phát triển toàn diện của phụ nữ. Năm 1997, tỉnh Bắc Ninh được tái lập trong bối cảnh nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ các cấp vừa tách lập còn gặp nhiều thiếu thốn.
Trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế, phong trào phụ nữ và tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ ở các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, bộc lộ nhiều hạn chế về nội dung và phương thức hoạt động, chưa thích ứng kịp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015 nhằm khẳng định chủ trương đúng đắn, phân tích nguyên nhân ưu điểm, khuyết điểm và đúc kết kinh nghiệm lãnh đạo thực tiễn là một đòi hỏi khách quan, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu lịch sử địa phương.
Về mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, văn bản luận án xác định rõ:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015; chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó, bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm có thể tiếp tục tham khảo, vận dụng trong thời gian tới.
- Bốn nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số và triển khai tuần tự:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
- Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015.
- Phân tích, luận giải, làm rõ những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015.
- Nhận xét, đánh giá những ưu điểm và hạn chế; đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những quan điểm, chủ trương và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015.
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo việc củng cố bộ máy tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh trên các phương diện chủ yếu: Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với hoạt động của Hội; xây dựng, kiện toàn bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ Hội và phát triển hội viên; vận động phụ nữ phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, sơ kết, tổng kết, nhân rộng điển hình tiên tiến và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước.
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Trọng tâm từ năm 1997 (thời điểm tái lập tỉnh Bắc Ninh) đến năm 2015 (thời điểm tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX). Đồng thời, luận án có đề cập đến một số sự kiện, dữ liệu trước năm 1997 và sau năm 2015 để bảo đảm tính liên tục và logic lịch sử.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tại Chương 1, tác giả đã tiến hành khảo sát và phân loại các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài thành ba nhóm nghiên cứu chủ yếu:
Nhóm thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu về phụ nữ, vai trò của phụ nữ nói chung, vấn đề bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ. Nhóm này quy tụ nhiều ấn phẩm lý luận và thực tiễn tiêu biểu như: tác phẩm Vai trò và nhiệm vụ của Phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn mới của cách mạng (1974) của Lê Duẩn; cuốn sách Hai mươi năm một chặng đường phát triển của phụ nữ Việt Nam 1975-1995 và công trình Phụ nữ Việt Nam bước vào thế kỷ XXI của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; đề tài Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị của Ban Tổ chức Trung ương; các ấn phẩm chuyên khảo của Lê Thi (về gia đình, phụ nữ với dân số, văn hóa và phát triển bền vững), Dương Thị Minh, Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh (nghiên cứu gia đình thời kỳ đổi mới), Hoàng Thị Ái Nhiên (vai trò của phụ nữ trong đổi mới và hội nhập), Lê Ngọc Hùng và Trần Thị Vân Anh (Phụ nữ, giới và phát triển).
Cùng nhóm này là các bài viết chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác cán bộ nữ của Nguyễn Thị Mão, Hoàng Thị Nữ, Nguyễn Thị Kim Dung; các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hòa, Phạm Hạnh Sâm, Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Thu Hồng; luận án tiến sĩ xã hội học của Võ Thị Mai về nữ cán bộ quản lý nhà nước tại Quảng Ngãi; luận án của Trần Thị Huyền về tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng nam nữ bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; các bài viết của Hà Thị Khiết, Dương Thị Duyên, Hoàng Bá Thịnh, Vương Thị Hanh. Các công trình này đã làm rõ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về giải phóng phụ nữ, bình đẳng giới và phát triển nguồn nhân lực nữ.
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ và phong trào phụ nữ Việt Nam. Tiêu biểu là bộ sách Lịch sử Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tập I (1930-1976) và tập II (1976-2012), bộ Biên niên lịch sử Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tập I và tập II của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; các đề tài khoa học cấp Bộ nghiên cứu về lao động nữ khu công nghiệp, mô hình thu hút hội viên, cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo Hội; ấn phẩm của Trịnh Xuân Giới về nâng cao vị trí chính trị của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Phương về cuộc vận động phụ nữ miền Bắc (1965-1975).
Đặc biệt, trong nhóm này có các luận án tiến sĩ cùng chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng đối với Hội Phụ nữ: luận án của Nguyễn Thị Nhật Thu nghiên cứu tại tỉnh Hải Dương (1997-2012), luận án của Nguyễn Thị Hồng Miên nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trên phạm vi toàn quốc (1996-2016), luận án của Nguyễn Thị Thu Hương nghiên cứu tại Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (1997-2015), và luận văn thạc sĩ của Trần Thị Lan.
Nhóm thứ ba là các công trình nghiên cứu về địa phương Bắc Ninh, phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh. Nhóm này gồm hệ thống văn kiện, lịch sử Đảng bộ địa phương như: Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Hà Bắc (tập 1), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (tập 1), Biên niên sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (2008-2017), Bắc Ninh Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954; các công trình lịch sử văn hóa như Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm, sách về Dân ca Quan họ; các công trình nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trên lĩnh vực kinh tế của Bùi Đình Tiệp (phát triển công nghiệp), Nguyễn Thị Như (phát triển thủ công nghiệp), Nguyễn Thị Thúy Hà (phát triển nông nghiệp), Nguyễn Văn Hùng (xây dựng nông thôn mới). Về phong trào phụ nữ Bắc Ninh, tiêu biểu có hai cuốn sách: Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Bắc Ninh (1930-2000) và Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Bắc Ninh (1930-2020) do Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh biên soạn.
Về khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Tác giả chỉ ra rằng các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận phong trào phụ nữ ở tầm khái quát cả nước, hoặc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ ở các tỉnh khác (Hải Dương, Hưng Yên), hoặc chỉ tập trung ghi chép lịch sử phong trào phụ nữ Bắc Ninh dưới góc độ tự thuật của tổ chức Hội, hay nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh ở các ngành kinh tế đơn lẻ (công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp). Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có một công trình chuyên khảo nào đi sâu phân tích, đánh giá toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ khi tái lập tỉnh (1997) đến năm 2015. Luận án được xây dựng để giải quyết trực tiếp khoảng trống khoa học này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án quán triệt và vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ và giải phóng phụ nữ, đồng thời dựa trên hệ thống các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ và đổi mới phương thức hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội trong thời kỳ đổi mới.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Được sử dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 3 nhằm tái hiện một cách khách quan, trung thực tiến trình lịch sử, bối cảnh thực tế hình thành các chủ trương, chỉ thị của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và diễn biến quá trình tổ chức triển khai chỉ đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh theo trình tự thời gian từ năm 1997 đến năm 2015.
- Phương pháp lôgíc: Được vận dụng song hành ở Chương 2 và Chương 3 để sâu chuỗi, phân tích bản chất mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, sự phát triển nhận thức của cấp ủy địa phương qua từng giai đoạn; đồng thời phương pháp lôgíc giữ vai trò chủ đạo ở Chương 4 để khái quát hóa những thành công, hạn chế, nguyên nhân và đúc kết các bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dùng để bóc tách, luận giải nội dung các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Tỉnh ủy Bắc Ninh và các báo cáo hoạt động định kỳ, chuyên đề của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp.
- Phương pháp thống kê: Được sử dụng để hệ thống hóa, xử lý và so sánh các chuỗi số liệu thực tế về kinh tế - xã hội địa phương, số lượng và cơ cấu hội viên, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy và cơ quan dân cử, nguồn vốn vay ủy thác và kết quả triển khai các phong trào thi đua.
- Phương pháp so sánh, tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm: Dùng để so sánh sự chuyển biến trong chủ trương lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua hai giai đoạn 1997-2005 và 2005-2015, từ đó khái quát những bài học có giá trị tham khảo.
Về nguồn tư liệu, tác giả khai thác bốn khối dữ liệu chính:
- Hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và các chương trình, hướng dẫn của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Các nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, nghị quyết chuyên đề, chỉ thị, đề án, quyết định, kết luận của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh; các báo cáo định kỳ tháng, quý, năm, báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2015.
- Nguồn tư liệu điền dã, khảo sát thực tế thu thập tại các đơn vị hành chính của tỉnh: thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và các huyện Quế Võ, Yên Phong, Gia Bình, Lương Tài, Tiên Du, Thuận Thành; làm việc tại các cơ quan ban ngành như Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh.
- Các công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Tuyên giáo, Tạp chí Xây dựng Đảng và Báo Phụ nữ Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Cấu trúc nội dung của luận án gồm phần Mở đầu, 4 chương (8 tiết), Kết luận, Danh mục công trình khoa học đã công bố của tác giả, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này gồm 2 tiết:
- Tiết 1: Những công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án. Tác giả phân chia hệ thống tài liệu tham khảo thành 3 nhóm: các công trình về phụ nữ và bình đẳng giới; các công trình về tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ và phong trào phụ nữ cả nước; các công trình nghiên cứu về địa phương Bắc Ninh và phong trào phụ nữ tỉnh.
- Tiết 2: Những nội dung liên quan tới đề tài luận án mà các công trình đã đề cập và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu, giải quyết. Tác giả tổng thuật những kết quả khoa học đã đạt được của các học giả đi trước, xác định rõ khoảng trống khoa học về một nghiên cứu toàn diện sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với Hội Phụ nữ giai đoạn 1997-2015, từ đó xác lập các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể về tư liệu và nội dung mà luận án cần thực hiện.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2005
Chương 2 gồm 2 tiết, tập trung làm rõ chặng đường đầu tiên sau khi tái lập tỉnh Bắc Ninh:
- Tiết 1: Những yếu tố tác động tới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ (1997-2005). Luận án phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Bắc Ninh; truyền thống lịch sử, văn hiến Kinh Bắc; quá trình phát triển của phong trào phụ nữ Bắc Ninh qua các thời kỳ cách mạng trước năm 1997; và hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác vận động phụ nữ thời kỳ đầu đổi mới (Nghị quyết Đại hội VI, VII, VIII; Nghị quyết số 8B-NQ/TW năm 1990; Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 12-7-1993 của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16-5-1994 của Ban Bí thư về công tác cán bộ nữ; Nghị quyết Đại hội IX năm 2001).
- Tiết 2: Chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh (1997-2005). Luận án phản ánh dấu mốc lịch sử khi tỉnh Bắc Ninh tái lập: ngày 11-12-1996, Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội ban hành Quyết định số 267/QĐ-ĐCT công nhận Ban Chấp hành lâm thời Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh gồm 17 ủy viên; ngày 03-01-1997, Tỉnh ủy lâm thời Bắc Ninh ban hành Nghị quyết số 02/NQ-TƯ thành lập các đoàn thể nhân dân, cơ quan Tỉnh hội tiếp nhận 9 cán bộ chuyên trách từ Hà Bắc trở về. Trong giai đoạn này, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo Hội ổn định tổ chức, tổ chức thành công Đại hội phụ nữ các cấp, triển khai ba phong trào thi đua nòng cốt: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, và “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”.
Bảng dưới đây tổng hợp các dữ liệu và chỉ số kinh tế - xã hội quan trọng của tỉnh Bắc Ninh được luận án trích xuất, phản ánh bối cảnh tác động tới phong trào phụ nữ:
| Chỉ số / Đặc điểm |
Dữ liệu phản ánh trong luận án |
| Diện tích tự nhiên toàn tỉnh |
822,7 km² (tỉnh có diện tích nhỏ nhất cả nước) |
| Đơn vị hành chính cấp cơ sở |
8 đơn vị cấp huyện (1 TP, 1 thị xã, 6 huyện); 126 xã, phường, thị trấn |
| Tăng trưởng kinh tế bình quân (1997-2015) |
Đạt mức hai con số, bình quân đạt 15,1%/năm |
| Quy mô GRDP năm 2015 so với 1997 |
Đạt 122.500 tỷ đồng (gấp 60,7 lần năm 1997) |
| Cơ cấu kinh tế năm 1997 |
Công nghiệp - xây dựng: 23,8%; Dịch vụ: 31,2%; Nông nghiệp: 45,0% |
| Cơ cấu kinh tế năm 2015 |
Công nghiệp - xây dựng: 74,3%; Dịch vụ: 20,7%; Nông nghiệp: 5,0% |
| GRDP bình quân đầu người năm 2015 |
Đạt trên 4.847 USD/người (gấp 24,7 lần năm 1997) |
| Lực lượng lao động có khả năng lao động |
822,1 nghìn người (chiếm 71,2% dân số tỉnh) |
| Số lao động đang làm việc |
Hơn 648,51 nghìn người (chiếm 78,88% tổng nguồn lao động) |
| Cơ cấu trình độ học vấn của người lao động |
Tốt nghiệp THPT trở lên: 23,6%; Tốt nghiệp THCS: 44,34% |
| Cơ cấu chuyên môn kỹ thuật lao động |
Bậc cao: 8,6%; Bậc trung: 10,8%; Thợ và việc giản đơn: 49,2% |
| Di tích lịch sử và di sản văn hóa |
1.558 di tích (4 di tích quốc gia đặc biệt); 4 di sản phi vật thể thế giới |
| Ban Chấp hành lâm thời Tỉnh hội (11-12-1996) |
Gồm 17 ủy viên; cơ quan Tỉnh hội ban đầu có 9 cán bộ chuyên trách |
| Cơ sở Hội sau tái lập (năm 1996) |
123 chi hội/cơ sở (1.107 ủy viên BCH cơ sở); 114 ủy viên BCH cấp huyện |
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh (2005-2015)
Chương 3 gồm 2 tiết, nghiên cứu giai đoạn kinh tế Bắc Ninh chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghiệp:
- Tiết 1: Yêu cầu đổi mới hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh trong tình hình mới. Luận án phân tích những chuyển biến sâu sắc từ việc đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp tập trung, quá trình thu hồi đất nông nghiệp, sự hình thành đội ngũ nữ công nhân trong các nhà máy và những vấn đề xã hội nảy sinh liên quan đến phụ nữ và trẻ em; việc quán triệt Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
- Tiết 2: Chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh tăng cường lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh (2005-2015). Luận án phân tích việc Tỉnh ủy ban hành Chương trình hành động số 24-CTr/TU triển khai Nghị quyết số 11-NQ/TW, tập trung lãnh đạo các cấp Hội đổi mới nội dung phương thức hoạt động; tập hợp lao động nữ trong khu công nghiệp và khu nhà trọ; nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình 5 không 3 sạch; hỗ trợ phụ nữ vay vốn, dạy nghề, chuyển đổi việc làm; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ nữ tham gia cấp ủy và cơ quan dân cử.
Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Chương 4 gồm 2 tiết:
- Tiết 1: Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015. Tác giả chỉ rõ:
- Về ưu điểm: Đảng bộ tỉnh đã kịp thời ban hành các chủ trương, nghị quyết sát hợp với đặc điểm địa phương; nhận thức của hệ thống chính trị về bình đẳng giới và công tác phụ nữ được nâng lên; tổ chức bộ máy các cấp Hội được củng cố, số lượng và chất lượng hội viên tăng; các phong trào thi đua đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế và an sinh xã hội của tỉnh.
- Về hạn chế và nguyên nhân: Một số cấp ủy cơ sở chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác phụ nữ; tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở một số địa phương, ban ngành chưa đạt chỉ tiêu đề ra; việc tập hợp lao động nữ trẻ, nữ công nhân tại các khu công nghiệp còn gặp nhiều lúng túng; nội dung sinh hoạt Hội ở một số chi hội nông thôn chậm đổi mới.
- Tiết 2: Một số kinh nghiệm. Luận án đúc kết các bài học kinh nghiệm về: sự lãnh đạo thống nhất, trực tiếp của cấp ủy Đảng; công tác quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ Hội gắn với cán bộ nữ lãnh đạo; đổi mới phương thức vận động theo hướng sát cơ sở; và sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, ban ngành với tổ chức Hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt khoa học và thực tiễn, luận án đã tự xác định các đóng góp mới cụ thể như sau:
- Góp phần hệ thống hóa, làm rõ các quan điểm, chủ trương và quy trình chỉ đạo tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015 một cách toàn diện và có căn cứ tư liệu xác thực.
- Phân tích, làm sáng tỏ các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác phụ nữ, bao gồm chủ trương của Trung ương, bối cảnh kinh tế - xã hội đặc thù của một tỉnh tái lập có tốc độ công nghiệp hóa nhanh, cùng các yếu tố truyền thống lịch sử, văn hóa Kinh Bắc.
- Đánh giá khách quan, khoa học những ưu điểm, kết quả đạt được cũng như các hạn chế, khuyết điểm của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong việc lãnh đạo tổ chức Hội; chỉ rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó; trên cơ sở thực tiễn sinh động của Bắc Ninh, luận án bước đầu đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn.
- Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử địa phương và dữ liệu thực tế đáng tin cậy phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử Đảng bộ địa phương, lịch sử phong trào phụ nữ.
Về kiến nghị và giải pháp đề xuất: Luận án đề xuất cấp ủy các cấp cần tiếp tục nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới; quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ nữ; chỉ đạo chính quyền phối hợp và tạo điều kiện về cơ chế, nguồn lực tài chính cho các cấp Hội Phụ nữ hoạt động; chỉ đạo đổi mới phương thức tập hợp hội viên phù hợp với cơ cấu lao động công nghiệp và đô thị hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định giới hạn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến năm 2015, dừng lại ở thời điểm Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XIX, do đó chưa phản ánh toàn diện các biến động và sự phát triển mới của phong trào phụ nữ Bắc Ninh từ năm 2016 đến nay khi địa phương chuyển mình mạnh mẽ hơn về công nghiệp công nghệ cao. Về phạm vi không gian, luận án khu biệt trong địa bàn hành chính tỉnh Bắc Ninh, không mở rộng so sánh định lượng với các địa phương lân cận trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ kết quả của đề tài, các nhà khoa học có thể mở rộng nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với công tác vận động phụ nữ trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng sau năm 2015; nghiên cứu chuyên sâu về các mô hình tổ chức Hội và công tác chăm lo đời sống nữ công nhân tại các khu công nghiệp tập trung quy mô lớn của tỉnh.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các đối tượng cụ thể sau:
- Cán bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền và cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp: Cung cấp luận cứ thực tiễn và bài học kinh nghiệm về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với đoàn thể quần chúng; cách thức xây dựng phong trào thi đua gắn với các mục tiêu kinh tế - xã hội tại địa phương; giải pháp tháo gỡ khó khăn trong công tác cán bộ nữ.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử hệ thống về quá trình triển khai các nghị quyết của Trung ương (Nghị quyết 04-NQ/TW, Chỉ thị 37-CT/TW, Nghị quyết 11-NQ/TW) ở cấp tỉnh.
- Nhà nghiên cứu về xã hội học giới và nghiên cứu phụ nữ: Cung cấp dữ liệu thực tế về chuyển dịch cơ cấu lao động nữ, vai trò phụ nữ nông thôn và nữ công nhân trong quá trình chuyển đổi từ tỉnh nông nghiệp sang công nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định mốc thời gian 1997-2015 dựa trên cơ sở lịch sử nào?
Năm 1997 là dấu mốc tỉnh Bắc Ninh được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX (chia tách tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang), Đảng bộ tỉnh và tổ chức bộ máy Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới. Năm 2015 là thời điểm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2015-2020), đánh dấu chặng đường gần 20 năm tái lập và phát triển với những biến đổi căn bản về cơ cấu kinh tế - xã hội.
2. Tổ chức bộ máy Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh trong những ngày đầu tái lập năm 1997 có đặc điểm gì?
Theo các tài liệu được công bố trong luận án, ngày 11-12-1996, Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội ban hành Quyết định số 267/QĐ-ĐCT công nhận Ban Chấp hành lâm thời Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh gồm 17 ủy viên. Ngày 03-01-1997, Tỉnh ủy lâm thời ban hành Nghị quyết số 02/NQ-TƯ, cơ quan Tỉnh hội ban đầu chỉ có 9 cán bộ chuyên trách chuyển giao từ Tỉnh hội Hà Bắc về địa bàn mới để ổn định và lãnh đạo 123 cơ sở hội.
3. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997-2015 được phản ánh như thế nào trong luận án?
Luận án dẫn chứng số liệu thực tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 15,1%/năm. Năm 1997, nông nghiệp chiếm 45% GDP, công nghiệp - xây dựng chiếm 23,8%, dịch vụ chiếm 31,2%. Đến năm 2015, cơ cấu kinh tế dịch chuyển rõ rệt: công nghiệp - xây dựng tăng vọt lên 74,3%, dịch vụ chiếm 20,7%, còn nông lâm thủy sản chỉ còn 5%. Quy mô GRDP năm 2015 đạt 122.500 tỷ đồng (gấp 60,7 lần năm 1997) và GRDP bình quân đầu người đạt trên 4.847 USD (gấp 24,7 lần năm 1997).
4. Trong giai đoạn 1997-2005, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh tập trung triển khai các phong trào thi đua chủ yếu nào?
Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh và hướng dẫn của Trung ương Hội, các cấp Hội Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh giai đoạn này tập trung thực hiện ba phong trào thi đua trọng tâm: “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, và cuộc vận động “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”.
5. Luận án rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu nào từ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh?
Luận án đúc kết các bài học kinh nghiệm: Phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và thường xuyên của cấp ủy Đảng đối với tổ chức Hội; coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ nữ; không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội theo hướng bám sát cơ sở, xuất phát từ nhu cầu và lợi ích thiết thực của hội viên; phát huy sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, ban ngành, đoàn thể nhằm huy động tối đa nguồn lực xã hội chăm lo cho sự phát triển của phụ nữ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ “Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015” của tác giả Trần Thị Vân là một công trình nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam được thực hiện nghiêm túc, có hệ thống dữ liệu xác thực và phương pháp luận rõ ràng. Tác giả đã tái hiện đầy đủ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo củng cố tổ chức và định hướng hoạt động cho Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh trong bối cảnh địa phương tái lập và đẩy mạnh công nghiệp hóa. Các kết quả đánh giá ưu điểm, hạn chế và hệ thống kinh nghiệm đúc kết từ luận án vừa đóng góp làm sáng tỏ lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, vừa cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cho công tác vận động phụ nữ thời kỳ mới.