MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 193 quốc gia, trong đó có Việt Nam đã cam kết thực hiện và thông qua Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững1 tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc từ ngày 25 – 27/9/2015 tại New York, Mỹ. Tai tầm nhìn và nguyên tắc số 6 “Cách tiếp cận tích hợp để phát triển bền vững: Tích hợp chính sách nghĩa là cân bằng cả ba khía cạnh phát triển bền vững: Tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường” đã được cụ thể hóa thành 05 mục tiêu trong Chương trình nghị sự2. Tại Diễn đàn Kinh tế - Xã hội Việt Nam năm 2023, PGS.
Bùi Quang Tuấn - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã báo cáo, Việt Nam đứng thứ 13 trong số 180 quốc gia theo Chỉ số Rủi ro Khí hậu Toàn cầu Germanwatch giai đoạn 2000- 2021. Việt Nam cũng chưa chuẩn bị kỹ để đối phó với các hiện tượng cực đoan, nhiệt độ nóng hơn và mực nước biển dâng (xếp thứ 91 trong số 192 quốc gia theo Chỉ số Sẵn sàng ND-GAIN). Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu - nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thảm họa thiên tai, môi trường, dịch bệnh. Do đó, BVMT vì mục tiêu phát triển bền vững là một trong những vấn đề Chính phủ Việt Nam và toàn cầu rất quan tâm.
Đại hội XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ cơ bản để phát triển bền vững về tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là tăng cường truyền thông, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm về quản lý tài nguyên, BVMT và ứng phó với biến đổi khí hậu, cũng như phát huy vai trò của các cơ quan thông tin 1 Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển Bền vững với 17 Mục tiêu phát triển bền vững là Mục tiêu toàn cầu được thiết kế nhằm kêu gọi tất cả các quốc gia trên thế giới tham gia tiến trình xóa đói giảm nghèo và đưa thế giới hướng tới hòa bình, thịnh vượng và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người. 2 Mục tiêu chung 6: Đảm bảo nguồn cung cứng và quản lý bền vững nguồn nước và các điều kiện vệ sinh môi trường cho tất cả mọi người. Mục tiêu chung 12: Đảm bảo các hình mẫu sản xuất và tiêu dùng bền vững. Mục tiêu chung 13: Triển khai các hành động khẩn cấp để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và các tác động của nó.
Mục tiêu chung 14: Bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và tài nguyên biển cho phát triển bền vững. Mục tiêu chung 15: Bảo vệ, khôi phục và khuyến khích sử dụng bền vững các hệ sinh thái trên bề mặt trái đất, quản lý bền vững tài nguyên rừng, chống sa mạc hóa, chống xói mòn đất và ngăn chặn sự mất đa dạng sinh học. 9 đại chúng trong truyền thông về BVMT; đa dạng hóa nội dung, hình thức chia sẻ, làm cho nhân dân hiểu rõ hậu quả trước mắt cũng như lâu dài của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đối với sự phát triển bền vững của đất nước, sức khỏe con người, đời sống xã hội. Là tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam; phấn đấu vì sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới, Hội LHPN Việt Nam giữ vai trò nòng cốt trong việc tập hợp, đoàn kết và động viên hội viên, phụ nữ tham gia tích cực vào công tác BVMT.
Trong đó, TW Hội LHPN Việt Nam là cơ quan cấp cao nhất, có vai trò chỉ đạo, hướng dẫn các cấp thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xã hội được giao. Hoạt động truyền thông của Hội LHPN Việt Nam được TW Hội LHPN Việt Nam triển khai thông qua các hoạt động, sự kiện, chiến dịch truyền thông như sinh hoạt chuyên đề, hội thảo, lớp tập huấn hàng năm tại các tỉnh thành khắp cả nước, truyền thông qua mạng xã hội Facebook và Zalo, các sản phẩm, ấn phẩm truyền thông đa dạng, phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau tại cộng đồng. Việc thúc đẩy vai trò của các cấp Hội, hội viên, phụ nữ trong BVMT cũng được truyền thông trên hệ thống thông tin đại chúng TW và địa phương, điển hình qua công tác phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam xây dựng và phát sóng các talkshow, chương trình. Qua Báo cáo “Tháng hành động vì Môi trường” của TW Hội LHPN Việt Nam 03 năm gần đây, các cấp Hội LHPN trong cả nước tích cực hưởng ứng, thông qua nhiều hình thức truyền thông và những hành động thiết thực, góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và thay đổi hành vi của hội viên, phụ nữ và cộng đồng chung tay bảo vệ, giữ gìn môi trường sống xanh, sạch, đẹp, thân thiện; được các cấp ủy Đảng, chính quyền ghi nhận, đánh giá cao.
Tuy nhiên, các báo cáo cũng chỉ ra rằng hoạt động truyền thông, vận động có lúc, có nơi chưa kịp thời, một số điểm mới quy định trong luật pháp, chính sách về BVMT chưa được người dân tiếp thu đúng và triệt để; hoạt động truyền thông của Hội LHPN Việt Nam vẫn chưa lan tỏa mạnh mẽ đến nhóm các cơ sở kinh doanh, doanh 10 nghiệp, hộ gia đình, hội viên, phụ nữ; người dân chưa quen với việc sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường do giá thành cao. Những lý do đó khiến cho các hoạt động truyền thông về BVMT do Hội thực hiện chưa lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội mà chỉ tập trung trong hệ thống các cán bộ, chuyên viên của Hội LHPN cấp trung ương đến địa phương. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả chọn đề tài “Quản trị hoạt động truyền thông về BVMT của TW Hội LHPN Việt Nam”, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và định hướng nâng cao cách thức quản trị hoạt động truyền thông BVMT của Hội LHPN Việt Nam thời gian tới. Lịch sử các nghiên cứu liên quan đến đề tài - Các nghiên cứu về quản trị truyền thông: + Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, rất nhiều cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và báo chí chính thống đã ý thức được tầm quan trọng của quản trị truyền thông, là chìa khóa quan trọng để duy trì và phát triển công tác truyền thông của đơn vị.
Vì vậy, có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề “quản trị hoạt động truyền thông”. Trong đó phải kể đến một số cuốn sách và các nghiên cứu như: Cuốn sách “Giáo trình quản trị học” của Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Giao thông vận tải (2006) [18]; cuốn sách “Quản trị học – Những vấn đề cơ bản” của tác giả Nguyễn Tấn Phước, NXB Đồng Nai (1998) [19] và cuốn sách “Quản trị học” của tác giả Nguyễn Hải Sản, NXB Thống kê (2003) [21] cung cấp những tri thức cơ bản về quản trị nói chung, đặc biệt là khái niệm các yếu tố và quy trình quản trị. Cuốn sách “Quản trị học – Những vấn đề cơ bản” (2012) của PGS. TS Hà Văn Hội, NXB Thông tin và truyền thông [12] gồm 15 chương nêu ra những nội dung tổng quan về quản trị học, các phương pháp quản trị, môi trường, công tác và kế hoạch.
Ngoài ra còn có nội dung lãnh đạo và điều hành trong quản trị, công tác kế hoạch trong quản trị. Cuốn sách cung cấp những kiến thức nâng cao năng lực quản trị cần thiết cho các nhà quản trị tham khảo. 11 Cuốn sách “Lý thuyết truyền thông nâng cao”, NXB Thế giới (2019) do TS. Phạm Hải Chung [3] là chủ biên đã hệ thống hóa các nghiên cứu kiến thức chuyên ngành về truyền thông được giảng dạy trên thế giới, nêu rõ phương thức thực hiện truyền thông hiệu quả trong môi trường truyền thông, tiếp cận các xu hướng truyền thông mới được cập nhật trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của mạng xã hội.
Trong cuốn “Truyền thông quốc tế”, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật (2014), tác giả Vũ Thanh Vân [26] đã tổng hợp, khái quát, và trình bày khái niệm, đặc điểm thúc đẩy toàn cầu hóa thông tin và cái nhìn toàn cảnh về tình hình thực tế và đặc thù của ngành kinh doanh truyền thông trên thế giới hiện nay cùng những thách thức phải khó khăn trong việc quản lý truyền thông của một cơ quan báo chí. “Truyền thông theo phong cách Win-Win”, Phạm Sông Thu (2020) NXB Hà Nội [25] là cuốn sách đưa ra những ví dụ thực tế về hoạt động quản trị truyền thông của các doanh nghiệp cùng các bài học về việc hợp tác trao đổi thông tin, thiết lập quan hệ truyền thông và xây dựng thông điệp cho thương hiệu. Nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tuyên truyền chính trị ở Việt Nam hiện nay” của PGS. Cao Thu Hằng, PGS.
Lê Trọng Tuyến trên Tạp chí Cộng sản, 20/12/2022 [30] đã chỉ ra tuyên truyền chính trị hiện nay có thể sử dụng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, như tuyên truyền miệng, tuyên truyền qua sách, báo…; trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỷ nguyên số, việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội là một hình thức truyên truyền cần thiết. Với đặc tính dễ kết nối, dễ chia sẻ, dễ tương tác, ẩn danh, nên sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tuyên truyền chính trị đem đến cả khía cạnh tích cực và tiêu cực. Bài báo cũng đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong tuyên truyền chính trị. Nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả quản trị hoạt động truyền thông về bình đẳng giới ở Việt Nam” của tác giả Trịnh Hồng Thủy năm 2023 trên Tạp chí Lý luận chính trị [38] đã làm rõ vai trò, thực trạng, một số hạn chế của quản trị hoạt động truyền thông về bình đẳng giới tại Việt Nam nói chung và của Bộ Lao động – 12 Thương binh và Xã hội nói riêng, chỉ ra nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị hoạt động truyền thông về bình đẳng giới cho cơ quan này.