ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, xu hướng nghiên cứu phát triển thuốc từ các loại dược liệu thông qua việc tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học ngày càng được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam quan tâm. Từ các dược liệu đã được sử dụng nhiều trong dân gian, các nhà khoa học đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của chúng, từ đó mở ra nhiều hướng nghiên cứu phát triển thuốc mới nhằm hỗ trợ điều trị bệnh. Ở Việt Nam, có nhiều loài thuộc chi Dó đất (Balanophora), họ Dó đất (Balanophoraceae) đã và đang được sử dụng nhiều trong dân gian dùng làm thuốc bổ, kích thích tiêu hóa và tăng cường khả năng sinh dục …, trong đó loài Tỏa dương B. laxiflora được dùng phổ biến nhất.
Khoảng chục năm gần đây, loài này được khai thác và buôn bán rất nhiều ở các tỉnh miền núi (Lào Cai, Sơn La, Cao Bằng, Yên Bái, Hà Giang …) đồng thời cũng thu hút được nhiều sự quan tâm của người dân và các nhà khoa học. laxiflora được sử dụng làm thuốc chữa đau đầu, đau lưng, đinh nhọt, tăng cường khả năng sinh dục và trong các bài thuốc kích thích tiêu hóa hoặc phục hồi sức khỏe cho phụ nữ sau sinh [1]. Các nghiên cứu về thành phần hóa học của loài B. laxiflora cho thấy sự có mặt của các nhóm chất như: tannin, lignan, flavonoid, terpenoid, steroid … Các cao chiết và một số hợp chất phân lập từ loài B.
laxiflora thể hiện tác dụng chống viêm khá rõ rệt. Cho đến nay, những nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài B. laxiflora ở Việt Nam còn rất hạn chế, đặc biệt là về hoạt tính chống viêm của loài này. Chính vì vậy, nhằm mục đích nghiên cứu làm rõ thành phần hóa học và hoạt tính chống viêm của loài B.
laxiflora ở Việt Nam tạo cơ sở khoa học trong việc sử dụng tài nguyên cây thuốc này, đồng thời tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo trong việc tạo ra các chế phẩm có hoạt tính sinh học cao phục vụ công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, luận án: “Nghiên cứu về thực vật, thành phần hoá học và tác dụng chống viêm của loài Tỏa dương (Balanophora laxiflora Hemsl.)” đã được thực hiện với các mục tiêu sau: 1. Xác định được tên khoa học và mô tả đặc điểm hình thái và đặc điểm vi học của Tỏa dương. Nghiên cứu thành phần hóa học của Tỏa dương. Đánh giá tác dụng chống viêm của cao toàn phần, cao phân đoạn và một số hợp chất phân lập từ Tỏa dương.
Để thực hiện được ba mục tiêu trên, đề tài được tiến hành với các nội dung sau đây: • Nghiên cứu về thực vật - Mô tả đặc điểm hình thái và xác định tên khoa học của mẫu nghiên cứu. - Xác định đặc điểm giải phẫu một số bộ phận của cây và đặc điểm bột dược liệu Tỏa dương. • Nghiên cứu về hóa học - Định tính sự có mặt của các nhóm chất chủ yếu có trong Tỏa dương. - Chiết xuất, phân lập và xác định cấu trúc của một số hợp chất tinh khiết từ Tỏa dương.
• Nghiên cứu về tác dụng chống viêm - Đánh giá tác dụng chống viêm và chống oxy hóa in vitro của cao chiết và các hợp chất phân lập từ Tỏa dương. - Đánh giá tác dụng chống viêm in vivo (chống viêm cấp và viêm mạn) của cao chiết và một số hợp chất phân lập từ Tỏa dương. TỔNG QUAN VỀ CHI DÓ ĐẤT (BALANOPHORA) 1. Thực vật học của chi Dó đất (Balanophora) 1.
Trên thế giới Họ Balanophoraceae bao gồm các đại diện có những đặc điểm tương đối độc đáo như không phân hóa cụ thể các bộ phận là thân, cành, lá, rễ; cũng không có diệp lục và sống ký sinh trên rễ các loài thực vật khác. Mặc dù vậy, khi sắp xếp họ này trong hệ thống phân loại thực vật còn có những quan điểm không đồng nhất. Trước hết, các nhà nghiên cứu về hệ thống học thực vật đều thống nhất các đại diện trong họ Balanophoraceae thuộc thực vật có hoa/ thực vật hạt kín, nhưng khi sắp xếp chúng trong hệ thống phân loại thì có 2 quan điểm: Quan điểm 1: Phân loại và sắp xếp vào đầy đủ các bậc taxon. Đại diện quan điểm này có A.
Quan điểm 2: theo hệ thống phân loại APG IV (2016) của nhóm phát sinh chủng loài thực vật hạt kín (Angiosperm Phenology Group): Liên bộ Cúc (Superasterid), Bộ (Ordo) – Đàn hương (Santalales); Họ (Families) – Dó đất (Balanophoraceae); Chi (Genus) – Dó đất (Balanophora) [2]. Quan điểm phân loại 1 được Nguyễn Tiến Bân (1997) và nhiều nhà thực vật khác ở Việt Nam áp dụng. Theo Bertel Hansen (1973), trong “Flore du Cambogde du Laos etdu Viet- Nam” Tom.14, họ Balanophoraceae trên thế giới có 18 chi với 47 loài, trong đó ở cả 3 nước Đông Dương (Campuchia, Lào và Việt Nam) có 2 chi (Balanophora và Rhopalocnemis), 5 loài [3]. Đến năm 2003, khi biên soạn họ Balanophoraceae trong “Flora of China”, Huang Shu-mai và Ji Murata cũng ghi nhận trên thế giới có 18 chi và khoảng 50 loài.
Riêng Trung Quốc chỉ mới biết 13 loài thuộc 2 chi Balanophora và Rhopalocnemis [4]. Trong “Flora of Thailand”, Bertel Hansen (1970) cho rằng, họ Balanophoraceae ở Thái Lan có 3 chi (Balanophora, Rhopalocnemis và Exorhopala), 3 nhưng không cho biết tổng số loài của cả họ (mà chỉ đề cập ở chi Balanophora) [5]. Như vậy, với một số tài liệu ở trên có thể thấy, họ Balanophoraceae ở các nước lân cận với Việt Nam chỉ có 2 đến 3 chi (Genera), trong đó chi Balanophora được coi là phổ biến hơn cả. là chi lớn nhất trong họ Balanophoraceae, chi này được các nhà thực vật học người Đức (Johann Reinhold Forster (1729-1798) và Georg Forster) đặt tên từ năm 1775 [6].
Trên thế giới, 19 loài thuộc chi Balanophora đã được biết đến; các loài này phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới ẩm châu Á, châu Phi và châu Đại Dương. Chi Balanophora ở Trung Quốc có 12 loài [4]; ở Thái Lan có 5 loài [5] và ở Lào có 4 loài [3] đã được xác nhận. Trong số gần 20 loài đã biết thuộc chi Balanophora ở trên thế giới thì loài B. đã được William Hemsley, nhà thực vật người Anh (1843-1924) xác định từ năm 1894.
Loài này hiện có một số đồng danh như: Polyplethia hexamera Tiegh. = Acroblastum hexamerum (Tiegh. = Balanophora hexamera (Tiegh.) Lecomte = Balanophora indica auct. đã được ghi nhận ở các quốc gia xung quanh Việt Nam, cụ thể như ở Trung Quốc tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Chiết Giang và đảo Đài Loan [4].
Ở Thái Lan, loài B. ghi nhận ở Khao Luang [5]. Ở Lào, một số tài liệu đã ghi nhận về phân bố của loài thực vật này, song chưa có địa điểm cụ thể [3], [4], [5]. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, họ Balanophoraceae được gọi tên trong Tiếng Việt là họ “Dó đất” [7], hay là họ “Dương đài” [8].
Họ thực vật này được Bertel Hansen đề cập đầu tiên ở Việt Nam cũng như cho 3 nước Đông Dương trong bộ “Flora du Cambodge du Laos et du Viet-nam”. Trong đó, tác giả mô tả họ Balanophoraceae ở Việt Nam với 2 chi Rhopalocnemis (R. phalloides Jungnum) và chi Balanophora (B. Người tiếp theo, cũng là người Việt Nam đầu tiên đề cập đến họ Balanophoraceae ở nước ta là Phạm Hoàng Hộ (2000).
Trong bộ “Cây cỏ Việt Nam” 4 quyển II, ông cũng chỉ ra 2 chi: chi Rhopalocnemis có 1 loài (R. phalloides Jungnum) và chi Balanophora có 5 loài và 1 loài phụ (sub sp. fungosa Forst và B. Hansen Vào năm 2005, khi biên soạn bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” tập III, Nguyễn Tiến Bân vẫn khẳng định họ Balanophoraceae ở Việt Nam có 2 chi: chi Rhopalocnemis có 1 loài như 2 tác giả trước đó, còn chi Balanophora có 7 loài và 1 thứ [8] gồm có: B.
Hansen và thứ B. Trong số 7 loài và 1 thứ này, có 1 loài mới (B. Ban) và 1 thứ mới (B. globosa Ban) do chính tác giả công bố [8].
Đáng lưu ý, trong vài năm gần đây (2017-2019), một số tác giả trong nước đã bổ sung 3 loài mới cho Việt Nam (B. f [11]) và công bố mới cho khoa học 1 loài thuộc chi là B. Như vậy, tính đến năm 2019, tổng số loài đã biết thuộc chi Balanophora, họ Balanophoraceae ở Việt Nam hiện đã lên tới 11 loài và 1 thứ. Sau đây là bảng thống kê các loài này, cùng với nơi đã ghi nhận về phân bố của chúng: Bảng 1.
Các loài thuộc chi Balanophora ở Việt Nam STT Tên khoa học Nơi phân bố đã được ghi nhận TLTK 1 B. abbreviata Blume Ninh Bình, Cúc Phương, Quảng Nam [8] 2 B. Ban Ninh Bình [8] 3 B. elongata Blume Ninh Bình (Cúc Phương) [8] 4 B.
Ninh Bình, Kontum [8] 5 B. indica Hà Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Kon [8] (Arn. Hansen và thứ B. Tum, Lâm Đồng, Ninh Thuận, An indica var.
globosa Ban Giang 6 B.) Thanh Hóa, Khánh Hòa, Ninh Thuận, [8] Lecomte Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, An Giang 7 B. Ninh Bình, Kontum [8] 8 B. Tam Hà Giang, Điện Biên, Lâm Đồng, Lai [9] Châu 9 B. tobiracola Makino Lạng Sơn [10] 10 B.
f Lai Châu, Yên Bái, Quảng Ninh, Lâm [11] Đồng 11 B. Đăk Nông [12] 5 Trong số 11 loài và 1 thứ thuộc chi Balanophora ở Việt Nam, loài Tỏa dương – B. có phạm vi phân bố rộng nhất. Hiện đã ghi nhận được sự phân bố của loài này tại các tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Tuyên Quang, Ninh Bình, Kontum… 1.
Đặc điểm hình thái chung của chi Balanophora Forst & Forst.f Theo thực vật chí Trung Quốc (Flora of China) [13], đặc điểm hình thái chi Balanophora được mô tả như sau: Cây đơn tính hoặc lưỡng tính. Thân rễ phân nhánh hoặc không phân nhánh, chứa sáp dính (balanophorin), vỏ mịn hoặc có nốt sần dạng mụn cóc, có vảy nhỏ và/hoặc tế bào xốp hình sao. Lá mọc đối hoặc xen kẽ, xếp thành hai dãy hoặc xoắn ốc, hoặc mọc vòng; lá không có cuống, dạng thịt hoặc dạng vảy giống lá bắc. Cụm hoa dạng bông mo, hình trụ, hình elip, hình trứng hoặc hình cầu, mở rộng khi nở.
Hoa đực: cuống ngắn hoặc không cuống, đính với đế cụm hoa hình U, có hoặc không nhiều lá bắc đính ở dưới. Bao hoa 3 - 6 thùy; thùy hình trứng, hình mũi giáo hoặc hình tròn, lõm, giống hoặc khác nhau, xếp van, tỏa tròn khi nở.