Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu liên quan đến những vấn đề chung về xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn trên phạm vi cả nước Các nghiên cứu về vai trò, đặc điểm tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn: Vấn đề này được tác giả Nguyễn Văn Cư (2000) bàn đến trong bài “Tổ chức cơ sở đảng với việc giữ vững ổn định chính trị ở nông thôn” [32]. Bài viết đã làm rõ vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở đảng trong lãnh đạo giữ vững ổn định chính trị ở địa bàn nông thôn Việt Nam.
Từ việc khái quát thực tiễn, tác giả khẳng định: “Tổ chức cơ sở đảng có vai trò quyết định đối với sự ổn định chính trị ở nông thôn” [32, tr. Liên quan đến vấn đề trên, tác giả Hoàng Chí Bảo (2002) đã có bài viết “Vai trò của cơ sở và sự cần thiết phải đổi mới hệ thống chính trị cơ sở” [23]. Theo tác giả, cơ sở (xã, phường, thị trấn) là hình ảnh của xã hội thu nhỏ; là nơi nảy sinh từ thực tế biết bao kinh nghiệm có thể tổng kết được do thường xuyên phải giải quyết những tình huống của cuộc sống đặt ra. Trong một công trình nghiên cứu khác, năm 2005, bàn luận về “Đảng bộ xã lãnh đạo việc xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn hiện nay” [24], tác giả nhấn mạnh: “Công tác lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở của đảng bộ, chi bộ nông thôn được đặt ra như một công tác có tầm quan trong đặc biệt và lâu dài” [24, tr.
Phác họa đặc điểm cơ sở xã, phường, thị trấn giữ vai trò chi phối thường xuyên, trực tiếp đến tổ chức, hoạt động của tổ chức đảng ở cơ sở cấp xã, trong bài viết “Mười cái nhất ở cơ sở” [90], tác giả Trần Hậu Thành (2007), đã chỉ ra 10 nét tiêu biểu: 1 - Cơ sở là cấp có địa vị pháp lý thấp nhất trong hệ thống chính trị; 2 - Cơ sở là vùng nhạy cảm nhất của đời sống xã hội, là nền tảng của chế độ chính trị và đời sống xã hội; 3 - Hệ thống chính trị cơ sở có tổ chức bộ máy đơn giản nhất; 4 - Cơ sở là cấp có bộ máy cán bộ biến động nhất, có trình 11 độ được đào tạo thấp nhất; 5 - Cơ sở là cấp gần dân nhất; 6 - Tổ chức và hoạt động của cơ sở mang tính tự quản cao nhất; 7 - Cơ sở là nơi có nhiều cư dân sinh sống nhất; 8 - Cơ sở là cấp nhiều việc nhất; 9 - Cơ sở là nơi có cán bộ, đảng viên hưu trí nhiều nhất; 10 - Cơ sở là cấp mà các yếu tố có tính truyền thống, dòng họ, văn hóa làng xã có thể tác động mạnh nhất [90, tr. Các nghiên cứu liên quan đến xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn: Trước tình trạng mất dân chủ xảy ra ở nhiều cơ sở làm suy yếu vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, tác giả Lê Khả Phiêu (1998) trong bài “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở” [80], đã nhấn mạnh: Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Về phương châm và phương pháp tiến hành, tác giả chỉ rõ: 1 - “Phải làm trong Đảng trước rồi mới ra dân”; 2 - “Phải làm từng bước vững chắc, không làm lướt, ồ ạt”; 3 - “Phải qua tự phê bình trong nội bộ và qua phê bình nhận xét của nhân dân mà biểu dương những cán bộ, đảng viên tốt, gương mẫu và xử lý những cán bộ, đảng viên có sai phạm” [80, tr. Trong “Tổng quan Hội thảo về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn” [86], Ban Biên tập Tạp chí Lịch sử Đảng (2004) đã khái quát kết quả của Hội thảo: Tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trước hết là ở việc lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.
Theo đó, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt; Nâng cao chất lượng cấp ủy, chất lượng đội ngũ đảng viên; Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng; Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng; Tăng cường công tác quần chúng; Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng đối với chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng. Tác giả Nguyễn Văn Giang (2006), khi nghiên cứu về “Kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội 12 X” [50] đã đề xuất các giải pháp: Thể chế hóa về mặt nhà nước vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; Xây dựng quy chế làm việc, phân định rõ sự lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ với hoạt động quản lý của chính quyền, sự tự quản của các đoàn thể; Tổ chức hoạt động của đảng bộ, chi bộ theo chương trình công tác, tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, mới nảy sinh; Tiếp tục cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng ở cơ sở, nhất là sinh hoạt chi bộ; Kiện toàn và tăng cường bồi dưỡng nâng cao chất lượng cấp ủy cơ sở; Tăng cường công tác kiểm tra đảng viên; đánh giá đúng chất lượng tổ chức cơ sở đảng… Cuốn sách Một số vấn đề về xây dựng tổ chức cơ sở đảng hiện nay [51] của tác giả Nguyễn Đức Hà (2010) đã dành một phần trọng tâm luận giải vấn đề nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đã nêu và phân tích các nhiệm vụ và giải pháp một cách khá toàn diện: Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng; Gắn tổ chức cơ sở đảng với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội; Thực hiện mạnh mẽ chủ trương trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa, thể chế hóa và từng bước nhất thể hóa chức danh cán bộ; Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức cơ sở đảng theo hướng vừa mở rộng dân chủ, vừa tăng cường kỷ cương, kỷ luật; Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên; Dựa vào dân để xây dựng Đảng. Như vậy, dù đã bàn đến những vấn đề rất cơ bản, có ý nghĩa sâu sắc trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, nhưng tiếc rằng cuốn sách chưa nêu ra được những kinh nghiệm về xây dựng tổ chức cơ sở đảng.
Cuốn sách của Vụ Cơ sở đảng - Ban Tổ chức Trung ương (2010), Về công tác chi bộ ở xã, phường, thị trấn [20] đã chỉ rõ chức năng, nhiệm vụ của chi bộ trực thuộc các đảng bộ xã, phường, thị trấn. Theo đó, chi bộ thôn (làng, bản, ấp), tổ dân phố (khu phố, khu dân cư) “là hạt nhân chính trị ở địa bàn dân cư, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, có chức năng lãnh đạo thực hiện 13 đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ do đảng ủy xã, phường, thị trấn giao và các công việc của cộng đồng dân cư đặt ra trong thực tiễn” [20, tr. Tác giả Nguyễn Trọng Phúc (2012) trong cuốn Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930 - 2011) [82], đã trình bày có hệ thống chủ trương và những sự kiện nổi bật trong công tác xây dựng Đảng gắn liền với sự ra đời, phát triển và quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng; qua đó, đã dựng lại bức tranh tổng quát về công tác xây dựng Đảng từ khi Đảng ra đời đến năm 2011, làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về xây dựng Đảng. Trong cuốn sách này, vấn đề xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong thời kỳ đổi mới, được tác giả trình bày với tư cách là một nội dung công tác, một nhiệm vụ cụ thể trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng.
Cuốn sách của tác giả Dương Trung Ý (2013) đề cập khá toàn diện vấn đề Nâng cao chất lượng đảng bộ xã trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn [200]. Thành công của tác giả là đã xây dựng tiêu chí, đánh giá thực trạng, nguyên nhân, rút ra một số kinh nghiệm; xác định phương hướng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng các đảng bộ xã. Từ thực tiễn xây dựng các đảng bộ xã, tác giả đã khái quát 8 kinh nghiệm: 1 - Nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đặc điểm, tiềm năng thế mạnh của xã để đề ra nhiệm vụ đúng đắn, sát hợp; 2 - Thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; 3 - Phát huy nội lực, tinh thần chủ động, sáng tạo ở cơ sở, kết hợp sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đảng bộ xã; 4 - Kết hợp chặt chẽ hoạt động xây dựng tổ chức cơ sở đảng với lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội; 5 - Coi trọng công tác cán bộ, đảng viên, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ; 6 - Xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc; 7 - Đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt các chi bộ trực thuộc; 8 - Tập 14 trung lãnh đạo, chỉ đạo dứt điểm từng nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm theo kế hoạch, coi trọng và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Nghiên cứu về “Nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức cơ sở đảng cấp xã” [61], tác giả Phạm Mạnh Khởi (2013) đã đem đến cái nhìn tổng thể về tổ chức cơ sở đảng cấp xã.
Vào thời điểm này, tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn chỉ chiếm 19,3% tổng số tổ chức cơ sở đảng, nhưng lại chiếm tới 64,5% số chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, với 61,4% số đảng viên của toàn Đảng, trực tiếp lãnh đạo hơn 80% dân số cả nước.