Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án 1. Nhóm công trình nghiên cứu về bộ máy nhà nước và pháp luật về bộ máy nhà nước * Nghiên cứu về bộ máy nhà nước gắn với tổ chức quyền lực nhà nước và xây Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Về tổ chức QLNN có: (1) Cuốn "Một số vấn đề về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước" của Nguyễn Minh Đoan và các cộng sự [34] là công trình nghiên cứu khá sớm và tập trung những vấn đề lý luận về QLNN, tổ chức thực hiện QLNN (như khái niệm, nguyên tắc.); tổ chức QLNN ở Việt Nam (QLNN thống nhất, có sự phân công, phối hợp; về vai trò lãnh đạo của Đảng); về nguy cơ và yêu cầu đối với tổ chức thực hiện QLNN (tha hoá, tham nhũng, tham quyền, cố vị).
Kết quả nghiên cứu của tác giả là cơ sở lý thuyết để luận giải về vị trí, vai trò và thẩm quyền của Chủ tịch nước trong tổ chức thực hiện QLNN ở Việt Nam. (2) Cuốn "Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay” của Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh [129] gồm 4 phần lớn nghiên cứu (i) những vấn đề chung về giám sát, cơ chế giám sát QLNN; (ii) giám sát của BMNN; (iii) giám sát của các tổ chức chính trị xã hội; (iv) giới thiệu về giám sát việc thực hiện QLNN ở một số nước trên thế giới (Đức, Trung Quốc) cũng như ở nước ta thời phong kiến. Trong đó, kết quả nghiên cứu về cơ chế giám sát QLNN nói chung và giám sát QLNN của Chủ tịch nước sẽ là cơ sở để xác định, phân tích, đánh giá vai trò của Chủ tịch nước đối với Nhà nước nói chung và với các thiết chế khác trong BMNN.); một số nội dung, hình thức để giới hạn QLNN (như 11 bảo đảm nhân quyền; cơ chế bầu cử và nhiệm kỳ, trong đó có NTQG); về cơ chế giới hạn QLNN từ bên trong (giới hạn bằng việc phân chia/phân công, phân nhiệm, tự kiểm tra giữa các cơ quan trong BMNN, nhất là Chính phủ phải chịu trách nhiệm) và hạn chế QLNN từ bên ngoài (các tổ chức xã hội, nhân dân). Giá trị của cuốn sách này đối với Luận án là cung cấp cơ sở lý thuyết để khẳng định con đường hình thành của Chủ tịch nước trong xã hội dân chủ phải là bầu cử với nhiêm kỳ nhất định; đặc biệt, cần phải xác lập cơ chế kiểm soát, giới hạn quyền lực từ phía Chủ tịch nước và đối với Chủ tịch nước, cả từ bên trong và bên ngoài (như giám sát, phản biện của Mặt trận tổ quốc hay của nhân dân với Chủ tịch nước).
- Về NNPQ XHCN có: (1) Các công trình nghiên cứu trong giai đoạn (2001- 2013) là: (i) Đề tài cấp Nhà nước “Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng” của Đào Trí Úc [128] đã làm rõ nội dung và phương hướng xây dựng NNPQ ở nước ta, đề ra các yêu cầu bảo đảm trên con đường đó là phải bảo đảm quyền lực nhân dân (dân chủ), bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, tôn trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, xây dựng cơ chế thực hiện QLNN có sự phân công, phối hợp rõ ràng trong việc thực hiện các quyền lập pháp, 12 hành pháp, tư pháp. (ii) Cuốn "Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, pháp chế và sự vận dụng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Trịnh Đức Thảo [112] lại tập trung nghiên cứu NNPQ dưới góc độ chính trị - pháp lý; từ việc làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và pháp chế đã chỉ ra những giá trị, việc vận dụng của Đảng trong xây dựng NNPL và một số đề xuất, kiến nghị. (iii) Một số công trình của cá tác giả khác như: Cuốn "55 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Mạnh [81]; Cuốn "Tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam qua các bản Hiến pháp" của Nguyễn Đăng Dung [19]; Cuốn "Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Lý luận và thực tiễn" của Nguyễn Văn Mạnh [72]; Cuốn "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân” của Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn [105]; (v) Cuốn "Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay" của Lê Minh Thông [119]; “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Hoàng Thị Hạnh [49]… Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của việc xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam giai đoạn (2001-2013), các tác giả đã khẳng định, làm rõ bản chất, mục tiêu dân chủ của nhà nước ta và tính đúng đắn của chủ trương xây dựng NNPQ XHCN; rút ra được những đặc điểm, giá trị cốt lõi của mô hình BMNN pháp quyền XHCN; cho thấy nhu cầu tất yếu cần phải tiếp tục hoàn thiện và đề xuất những giải pháp để tiếp tục hoàn thiện mô hình BMNN. Những kết quả nghiên cứu này vừa là cơ sở lý luận, vừa là cơ sở thực tiễn để Luận án phân tích, đánh giá rõ hơn ưu điểm, hạn chế của thực trạng tổ chức, hoạt động của Chủ tịch nước trong quá trình xây dựng NNPQ cũng như khẳng định nhu cầu và xác định định hướng hoàn thiện trong tương lai.
Tuy nhiên, đa số các công trình trên tập trung nghiên cứu nhiều về Quốc hội (lập pháp), Chính phủ (hành pháp), Toà án nhân dân (tư pháp) và về mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương; mức độ, phạm vi nghiên cứu về Chủ tịch nước chưa nhiều, chủ yếu phát sinh từ nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của các thiết chế lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhóm công trình này đã tập trung phân tích, làm rõ những điểm mới về tổ chức BMNN trong HP năm 2013 và kiến nghị phục vụ việc thể chế hoá những quy định của HP; trong đó, có đề cập đến việc cần cụ thể hoá các quy định về Chủ tịch nước. Những kết quả nghiên cứu này giúp Nghiên cứu sinh có thêm thông tin để phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về Chủ tịch nước hiện hành cũng như nhận diện được một số vấn đề cần nghiên cứu trong tương lai. Tuy nhiên, do nghiên cứu về cả BMNN và mục đích chính là nhằm triển khai thi hành HP năm 2013 nên nhóm công trình này chưa nghiên cứu sâu, cụ thể về Chủ tịch nước và chưa hướng tới những kiến nghị lâu dài.
* Nghiên cứu pháp luật về BMNN: Cuốn "Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Lê Minh Tâm [108] đã nghiên cứu (i) những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật, hệ thống pháp luật; (ii) quá trình hình thành, phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, từ năm 1945; (iii) nêu lên những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của công trình, nhất là nội dung nghiên cứu về tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật và những đánh giá về thực trạng cũng như đề xuất phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật là cơ sở giúp Luận án xây dựng tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước cũng như tham khảo để đánh đánh giá, phân tích thực trạng pháp luật (đặt trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật nói chung ở giai đoạn trước) và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước. Gần đây nhất, cuốn "Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Minh Đoan [36] đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Trong nội dung nghiên cứu thực trạng cơ chế pháp lý, thực tiễn pháp luật và thực tiễn kiểm soát quyền lập pháp, hành pháp, tư 14 pháp của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam, tác giả đã đề cập đến các quy định của pháp luật về Chủ tịch nước.
Trong phần quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam, tác giả đã khẳng định "cần tăng cường sự kiểm soát quyền lực của Chủ tịch nước”. Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình có liên quan của một số tác giả như: (i) Cuốn "Tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1992 và 1992 sửa đổi, bổ sung” của Nguyễn Đăng Dung [17]; (ii) Cuốn "Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” của Nguyễn Minh Đoan [35]; (iii) "Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” của Dương Thị Mai [71]; (iv) "Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” của Ban Chỉ đạo tổng kết [5]. Nội dung khái quát của các công trình trên là tập trung phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam từ khi xây dựng NNPQ; chỉ ra những yêu cầu, phương hướng tiếp tục hoàn thiện trong tương lai. Kết quả nghiên cứu trên mang tính khái quát rất cao, nhất là nội dung nghiên cứu pháp luật về tổ chức BMNN, trong đó quy định pháp luật về Chủ tịch nước sẽ giúp Nghiên cứu sinh có thêm cơ sở thực tiễn để đánh giá thực trạng cũng như xác định định hướng hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước một cách phù hợp, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật quốc gia.
Tuy nhiên, hạn chế là các công trình trên lại không nghiên cứu trực tiếp, sâu sắc và đầy đủ pháp luật về Chủ tịch nước.