Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Khái niệm Khu vực Khái niệm “khu vực” (tiếng Anh là area/region) có nội hàm ngữ nghĩa khá mơ hồ và hiện nay vẫn còn tranh cãi giữa các nhà khoa học, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất. Theo Yumito Sakurai “khu vực là một không gian có đặc trưng riêng” [142]. Tính đặc trưng khu vực là kết quả của sự tác động qua lại giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo, trong đó môi trường tự nhiên chính là yếu tố quan trọng nhất.
Theo cách hiểu này, quy mô của một khu vực được xác định hoàn toàn phụ thuộc vào phạm vi nghiên cứu của nhà khu vực học. Theo nhà khu vực học, nghiên cứu tính đặc thù của cảnh quan ven biển ĐNB, ven biển ĐNB là một khu vực; nếu nhà khu vực học tìm hiểu tính đặc thù của khu vực TP. HCM là một khu vực. Riggs, khu vực là “một đơn vị lãnh thổ ổn định trong đó các dân tộc đã sống qua nhiều thế hệ, sản xuất và tiêu dùng hàng hóa và thông tin mà họ cần một cách tương đối biệt lập với thế giới bên ngoài, theo các quy tắc và thói quen văn hóa riêng của họ” [164].
Cách hiểu khu vực theo định nghĩa này có sự gần gũi với khái niệm quốc gia dân tộc. Ở Việt Nam, khái niệm khu vực được diễn giải trong Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ biên soạn “là phần đất đai, trời biển có giới hạn rõ ràng, được vạch ra dựa trên những tính chất, đặc điểm chung nào đó” [147]. Việc định nghĩa khu vực theo vị trí địa lý được hiểu là bất biến, vì vị trí địa lý của bất kỳ một quốc gia, vùng lãnh thổ, vùng hoặc tiểu vùng nào được coi là tiêu chí tồn tại tự nhiên, không thay đổi nhiều qua thời gian. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế, nội hàm khu vực được học giả Lương Văn Kế nhận định “khái niệm khu vực mang tính đa nghĩa và ẩn dụ cao.
Vì vậy cần phải coi tiêu chí đồng nhất về chức năng (xã hội) của không gian là quan trọng nhất để xác định khu vực” [77, tr. Như vậy, dù chưa thể đưa ra một kết luận chính xác và duy nhất về định nghĩa khu vực, nhưng theo quan điểm nhận thức luận, chỉ cần hiểu và định nghĩa khu vực là một khái niệm mở và động. Bên cạnh các tiêu chí cơ bản 13 truyền thống về vị trí địa lý và đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. còn phải tính đến các tiêu chí xuất phát từ yêu cầu, xu hướng phát triển của thực tiễn qua từng thời kỳ.
Trong khuôn khổ luận án, khu vực được hiểu là một vùng lãnh thổ được xác định bởi một số các đặc điểm chung hoặc hoàn cảnh cụ thể, chẳng hạn như khí hậu, địa hình, kinh tế, văn hóa. Khu vực ven biển Viện Tái thiết Nông thôn Quốc tế Philipines cho rằng, vùng ven biển là vùng đất chịu ảnh hưởng của biển, phạm vi tùy ý phụ thuộc vào mực thủy triều [149]. Khái niệm này đề cập đến tương tác giữa biển và lục địa thông qua tác động của thủy triều nhưng vẫn còn hạn chế khi nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến kinh tế - xã hội trong quá trình khai thác lợi thế của biển. Ở Việt Nam, việc xác định vùng ven biển cũng có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau.
Trong chương trình điều tra biển Việt Nam 1997 - 2000, khái niệm vùng ven biển được diễn giải như sau: “Vùng ven biển Việt Nam chạy dài trên 3.200 km bờ biển của đất nước, bao gồm 24/50 tỉnh và thành phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼ dân số cả nước” [57]. Theo Nghị định số 25/2009/NĐ/CP, ngày 06/3/2009 của Chính phủ về Quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, “Vùng ven biển là vùng chuyển tiếp giữa lục địa và biển, bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển được xác định theo ranh giới hành chính để quản lý” [18]. Hiện nay, do sự phân chia lại địa giới các tỉnh vì vậy vùng ven biển nước ta bao gồm tất cả các quận, huyện, thị xã, thành phố có đường biên giới biển thuộc 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Từ phân tích các khái niệm có liên quan, dưới góc độ tiếp cận của chuyên ngành và phạm vi nghiên cứu, vùng ven biển hay khu vực ven biển trong luận án này được hiểu là toàn bộ địa bàn các xã (phường, thị trấn) ven biển, các huyện (quận, thành phố trực thuộc tỉnh) ven biển có địa giới hành chính tiếp giáp với đường bờ biển và có các hoạt động kinh tế - xã hội gắn với phạm vi địa bàn lãnh thổ này.
Khu vực ven biển Đông Nam Bộ ĐNB bao gồm TP. HCM và các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu. Vùng ĐNB có diện tích vào loại nhỏ so với các vùng khác (23.5 nghìn km2), dân số và lao động vào loại trung bình, nhưng lại dẫn đầu cả nước 14 về tổng sản phẩm trong nước, giá trị sản lượng công nghiệp và giá trị hàng xuất khẩu. Đây là khu vực kinh tế phát triển nhất Việt Nam, đóng góp hơn 2/3 thu ngân sách hàng năm, có tỷ lệ đô thị hóa 50% [107].
Đa số các tỉnh miền ĐNB nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hiện nay việc phân định ranh giới khu vực ven biển ĐNB trong từng lĩnh vực quản lý khác nhau có cách tiếp cận, tiêu chí khác nhau. Với cách tiếp cận tổ chức lãnh thổ quân sự, Quân khu 7 cho rằng “Bờ biển ở miền Đông Nam Bộ dài, với nhiều cửa sông lớn như Soài rạp, Đồng Tranh, Cần Giờ, Lòng Tàu, Cái Mép, Phan Rí; trong đó có cửa biển chiến lược Cần Giờ nối Sài Gòn với biển Đông. Ngoài khơi có hai đảo lớn là Côn Lôn và Phú Quý” [12, tr.
Như vậy, từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ranh giới khu vực ven biển ĐNB theo quan điểm của Quân khu 7 được xác định từ vùng biển Bình Thuận trải dài đến TP. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết 161/NQ-CP ngày 31/12/2018 của Chính phủ về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc phòng đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất quốc phòng kỳ cuối (2016 - 2020). Theo đó, địa bàn Quân khu 7 có 09 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm: TP. HCM, các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai, Lâm Đồng, Long An, Tây Ninh với tổng diện tích khoảng 45.689,1 km2, dân số là 22.066 người; có vùng biển trải dài thuộc 03 tỉnh Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.
HCM với chiều dài bờ biển là 322 km và vùng biển rộng 112. Dưới góc độ tiếp cận tổ chức lãnh thổ theo không gian kinh tế - xã hội, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về khu vực ven biển ĐNB thể hiện trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là: “Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ, bao gồm 8 huyện, thị xã, thành phố trực thuộc 2 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và TP. HCM có chiều dài bờ biển 127 km. Với định hướng phát triển thành phố Vũng Tàu thành trung tâm kinh tế hướng ra biển.
Hình thành các tuyến hành lang kinh tế, các khu công nghiệp, trong đó quan trọng nhất là tuyến hành lang dọc quốc lộ 51” [53, tr. Hướng tiếp cận này cho thấy, khu vực ven biển ĐNB được nhìn nhận là một tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội. Đó là sự sắp xếp, phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng về điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật, kinh tế, chính trị. của khu vực, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững.
15 Trong khuôn khổ luận án, để thuận lợi trong việc thu thập số liệu, tài liệu và đưa ra những đánh giá chính xác, khoa học về quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội của khu vực, NCS xác định Khu vực ven biển ĐNB bao gồm các xã (phường, thị trấn), huyện (quận, thành phố trực thuộc tỉnh) thuộc TP. HCM và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có địa giới hành chính tiếp giáp với đường bờ biển thuộc vùng biển ĐNB. Kinh tế biển Theo Vụ Nghề cá và Đại dương Canada (DFO), kinh tế biển là những ngành được thành lập trong khu vực hàng hải và các cộng đồng ven biển liền kề với các khu vực này, hay những ngành mà thu nhập của chúng phụ thuộc vào các khu vực này [168]. Trong khi đó, nhà khoa học Hoa Kỳ Charles S.
Colgan đưa ra khái niệm kinh tế biển dựa trên cơ sở các hoạt động kinh tế gắn liền với biển với nội hàm hẹp hơn: Kinh tế biển là những hoạt động có nguồn gốc từ biển. Cụ thể bao gồm các hoạt động liên quan đến biển như khai thác biển, hải sản và ngành vận tải biển [157]. Gần đây, tổ chức OECD đã đưa ra định nghĩa mới về kinh tế biển, theo đó, kinh tế biển được hiểu là nền kinh tế không chỉ bao gồm các ngành công nghiệp dựa trên khai thác đại dương (như vận tải biển, đánh bắt cá, gió ngoài khơi, công nghệ sinh học biển) mà còn là các tài sản tự nhiên khác cùng các dịch vụ hệ sinh thái mà đại dương cung cấp [180]. Ở Việt Nam, kinh tế biển cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Trong Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển, vùng ven biển và các hải đảo Việt Nam đến năm 2010 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì (1995 - 1996), kinh tế biển là sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trên dải đất liền ven biển, trong đó biển chủ yếu đóng vai trò vùng khai thác nguyên liệu, là môi trường cho các hoạt động vận tải, du lịch biển,. còn toàn bộ các hoạt động sản xuất và phục vụ khai thác biển lại nằm trên dải đất liền ven biển [11]. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện trong Nghị quyết số 09- NQ/TW ngày 9/2/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, các ngành kinh tế biển ở nước ta được tập trung phát triển đến năm 2020 bao gồm: 1. Khai thác, chế biến dầu, khí; 2.
Kinh tế hàng hải (gồm có cảng biển, dịch vụ cảng biển, vận tải biển, đóng tàu…); 3. Khai thác và chế biến hải sản; 4.