Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang từ năm 1986 đến năm 2010" thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62 22 03 13), do nghiên cứu sinh Lê Hồng Sơn thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Nhật, bảo vệ năm 2016.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) đã tạo ra bước chuyển căn bản từ cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong tiến trình lịch sử đó, cấp huyện đóng vai trò là một đơn vị hành chính và kinh tế - xã hội quan trọng của quốc gia. Vị Xuyên là huyện miền núi có đường biên giới quốc gia dài 32,6 km giáp với Trung Quốc, giữ vị trí địa bàn trọng yếu về an ninh và quốc phòng của tỉnh Hà Giang và khu vực biên giới phía Bắc. Đây là địa phương có cửa khẩu quốc gia Thanh Thủy (sau nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế), nằm ở điểm đầu Quốc lộ 2, nơi cư trú đan xen của 18 dân tộc anh em. Sau năm 1979 và đặc biệt là nửa đầu thập niên 1980, Vị Xuyên là trọng điểm của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, chịu tổn thất nặng nề về người, cơ sở hạ tầng và đất đai canh tác. Khi bước vào công cuộc Đổi mới, huyện có điểm xuất phát kinh tế thấp, đời sống nhân dân nghèo nàn, phương thức sản xuất mang nặng tính tự cấp tự túc. Trước thời điểm luận án được triển khai, các công trình nghiên cứu hiện có chỉ đề cập đến huyện Vị Xuyên ở một vài lĩnh vực riêng lẻ hoặc trong những khoảng thời gian ngắn, chưa có một công trình khoa học lịch sử nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về toàn bộ quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của địa phương này trong suốt 25 năm đổi mới (1986 - 2010).

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung chính:

  1. Làm rõ những chuyển biến về kinh tế, xã hội của huyện Vị Xuyên trong thời gian từ năm 1986 đến năm 2010.
  2. Phân tích những thành công, hạn chế của quá trình phát triển kinh tế - xã hội huyện Vị Xuyên từ năm 1986 đến năm 2010, rút ra những nhận xét, đánh giá và đưa ra những đề xuất cho sự phát triển trong thời gian tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung cụ thể:

  1. Trên cơ sở tiến hành sưu tầm và xử lý các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài luận án, tập trung giới thiệu về các yếu tố tác động đến chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Vị Xuyên, bao gồm: vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên; điều kiện kinh tế, xã hội và dân cư; tình hình quốc tế và trong nước; chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Hà Giang từ thời điểm đất nước tiến hành công cuộc Đổi mới.
  2. Dựng lại quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang từ năm 1986 đến năm 2010 trên hai góc độ phát triển kinh tế và phát triển xã hội theo hai giai đoạn: 1986 - 2000 và 2001 - 2010.
  3. Từ việc phân tích những nội dung quan trọng về chuyển biến kinh tế, xã hội ở huyện Vị Xuyên trong khung nghiên cứu, rút ra một số nhận xét về vấn đề nghiên cứu, cả trên góc độ những thành công đã đạt được cũng như những hạn chế đã mắc phải trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới; làm rõ nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó, đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của huyện Vị Xuyên hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Vị Xuyên trong thời kỳ từ năm 1986 đến năm 2010.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Về không gian: Địa bàn huyện Vị Xuyên thuộc tỉnh Hà Giang, gồm 24 đơn vị hành chính cơ sở (22 xã và 2 thị trấn), là huyện miền núi biên giới có sự phân chia trình độ phát triển giữa các tiểu vùng.
  • Về thời gian: Khảo sát từ năm 1986 (thời điểm khởi đầu sự nghiệp Đổi mới) đến năm 2010 (mốc tổng kết 25 năm đổi mới đất nước).
  • Về nội dung: Chuyển biến kinh tế tập trung vào cơ cấu kinh tế ngành và các ngành kinh tế gồm nông - lâm nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ; chuyển biến xã hội giới hạn ở các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa - thông tin, lao động việc làm và thực hiện các chính sách xã hội trọng tâm là xóa đói giảm nghèo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả đã hệ thống hóa và phân loại tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thành các hướng chính:

Hướng nghiên cứu thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới ở quy mô cả nước và vùng trung du, miền núi phía Bắc. Về kinh tế - xã hội cả nước, có các công trình: Đổi mới kinh tế - xã hội thành tựu, vấn đề và giải pháp do Phạm Xuân Nam chủ biên (1991); Đổi mới kinh tế và phát triển do Vũ Tuấn Anh chủ biên (1994); Một số kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của Nguyễn Trọng Phúc (2000); Kinh tế Việt Nam đổi mới: Những phân tích và đánh giá quan trọng của Nguyễn Văn Chỉnh, Vũ Quang Việt, Trần Vân (2002); Một số vấn đề về biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam hiện nay do Tạ Ngọc Tấn chủ biên (2010, kết quả đề tài cấp Nhà nước KX.14/06-14); Lịch sử Việt Nam - Tập 4 của Lê Mậu Hãn, Nguyễn Đình Lê, Trương Thị Tiến (2012). Về khu vực miền núi phía Bắc và vấn đề dân tộc, có các nghiên cứu: Một số vấn đề kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc do Viện Dân tộc học thực hiện (1987); Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi do Bế Viết Đẳng chủ biên (1996, đề tài KX.04-11); Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc do Khổng Diễn chủ biên (1996); Phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Nguyễn Đình Phan, Dương Thị Thanh Mai (1998); Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ của Bộ Công nghiệp (2006); Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam do Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện (2008); Nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở miền núi phía Bắc nước ta của Vi Thái Lang (2015). Các công trình này cung cấp khung lý luận, định hướng chiến lược vĩ mô về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và biến đổi xã hội vùng cao.

Hướng nghiên cứu thứ hai gồm các công trình đề cập trực tiếp đến địa phương tỉnh Hà Giang và huyện Vị Xuyên. Về cấp tỉnh và huyện, có: Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn tỉnh Hà Giang (1900 - 1998) của Phạm Văn Nhần, Lê Xuân Mát, Ngô Huy Chương (1999); Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội huyện Vị Xuyên thời kỳ 2000 - 2010 của Ủy ban nhân dân huyện Vị Xuyên (2000); Lịch sử Đảng bộ huyện Vị Xuyên (1939 - 2000) do Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Vị Xuyên xuất bản (2001); Hà Giang 110 năm đấu tranh, xây dựng và phát triển (1891 - 2001) của Hoàng Trung Luyến, Khổng Đức Thiêm, Trình Năng Chung (2001); Các dân tộc ở Hà Giang của Lê Duy Đại, Triệu Đức Thanh (2004); Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Giang - tập 3 (1975 - 2005) của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang (2009); Ngành lao động - thương binh và xã hội Hà Giang - 65 năm xây dựng và phát triển (1945 - 2010) của Tạ Nam Tiến, Nguyễn Thanh Long, Phạm Ngọc Dũng (2010); Tỉnh Hà Giang 20 năm tái lập và phát triển (1991 - 2011) của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Giang (2011); Lịch sử Đảng bộ Quân sự tỉnh Hà Giang (1945 - 2010) (2011); Kỷ yếu Hội thảo khoa học và Diễn đàn đầu tư "Vì Hà Giang phát triển" do Đại học Quốc gia Hà Nội, UBND tỉnh Hà Giang và Vietinbank phối hợp tổ chức (2011); Kỷ yếu Hội thảo "Phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Hà Giang trong mối liên kết vùng Đông Bắc và Tây Bắc" do Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Ban Kinh tế Trung ương và Tỉnh ủy Hà Giang tổ chức (2015). Cùng với đó là các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như bài của Vũ Đăng Bút (2004) và Tống Duy Khuyên (2004) về giáo dục Vị Xuyên; Đàm Văn Bông (2004), Mai Thanh Sơn (2004), Quế Nga (2005), Nguyễn Đình Bảy (2006), Thanh Như (2008) về du lịch và văn hóa tộc người; Viên Thị Mừng (2005) về nghề nấu rượu thóc Tày ở Tùng Bá; các bài báo về xóa đói giảm nghèo gắn với Chương trình 135 trên tạp chí Dân tộc và Thời đại (2007). Về luận văn khoa học có: luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Nguyễn Văn Châu (2009) về tín dụng ưu đãi giảm nghèo tại Vị Xuyên; luận văn Thạc sĩ Địa lý của Bùi Phương Thúy (2010) về phát triển kinh tế - xã hội Vị Xuyên giai đoạn 2000 - 2009; luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Nguyễn Hồng Hạnh (2013) về sinh kế bền vững hộ dân tộc thiểu số tại vùng định canh định cư; luận văn Thạc sĩ Địa lý của Nguyễn Thị Thu Hiền (2013) về tài nguyên rừng gắn với giảm nghèo tại huyện Vị Xuyên giai đoạn 2005 - 2012.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình đã công bố cung cấp nhiều dữ liệu giá trị, nhưng các nghiên cứu vĩ mô chỉ dừng lại ở tính khái quát, ít đi sâu vào cấp cơ sở; còn các nghiên cứu tại địa phương chỉ đề cập tản mạn một số khía cạnh chuyên biệt (như du lịch, cây trồng, lâm nghiệp, tín dụng giảm nghèo) trong những khoảng thời gian ngắn, phân tích chưa sâu và thiếu tính bao quát lịch sử. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có một công trình khoa học lịch sử nào tái hiện bức tranh toàn cảnh, làm rõ quá trình vận động từ điều kiện chiến tranh sang hòa bình xây dựng, nhận diện rõ những đặc trưng riêng của huyện Vị Xuyên trong mối tương quan với tỉnh Hà Giang và vùng núi phía Bắc từ năm 1986 đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam về quy luật phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đường lối đổi mới kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội; quan điểm coi kinh tế là nền tảng vật chất và thực hiện chính sách xã hội là động lực thúc đẩy tăng trưởng; lý luận về vị trí của cấp huyện là một đơn vị kinh tế - xã hội, địa bàn tổ chức đời sống dân cư và bảo đảm an ninh quốc phòng vùng biên giới.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic làm công cụ chủ đạo:

  • Phương pháp lịch sử được dùng để phục dựng tiến trình chuyển biến kinh tế, xã hội của địa phương một cách chân thực theo thứ tự thời gian và bối cảnh cụ thể của từng giai đoạn (1986 - 2000 và 2001 - 2010).
  • Phương pháp logic giúp phân tích bản chất, tìm ra mối liên hệ nhân quả, các quy luật vận động nội tại của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu lao động và phân tầng xã hội.
  • Các phương pháp bổ trợ gồm: phương pháp so sánh đối chiếu số liệu thống kê giữa các năm và các tiểu vùng; phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu; phương pháp điền dã thực tế tại cơ sở và phỏng vấn hồi cố các nhân chứng lịch sử (cán bộ lãnh đạo địa phương qua các thời kỳ, người dân các xã biên giới) nhằm bổ sung, đối chứng cứ liệu.

Nguồn tư liệu thực hiện luận án gồm bốn nhóm:

  1. Nhóm văn kiện chỉ đạo: Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (từ khóa VI đến khóa X), nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và các quyết định, chương trình mục tiêu của Chính phủ (tiêu biểu là Chương trình 135); văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ tỉnh Hà Giang, Huyện ủy và Hội đồng nhân dân huyện Vị Xuyên.
  2. Nhóm tài liệu thống kê gốc: Báo cáo thường niên và báo cáo tổng kết nhiệm kỳ về tình hình kinh tế - xã hội của Huyện ủy, UBND huyện Vị Xuyên từ năm 1986 đến năm 2010; số liệu thống kê lưu trữ của Cục Thống kê tỉnh Hà Giang, Phòng Thống kê huyện Vị Xuyên; tư liệu nghiệp vụ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường.
  3. Nhóm công trình lịch sử và tài liệu xuất bản: Các bộ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Giang, Lịch sử Đảng bộ huyện Vị Xuyên, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo và bài báo khoa học.
  4. Nhóm tư liệu điền dã thực địa: Biên bản ghi chép khảo sát thực tế và các tư liệu phỏng vấn hồi cố tại 24 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Vị Xuyên.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 tập trung khảo sát, phân loại và đánh giá thực trạng các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả chỉ ra rằng các công trình cấp trung ương chủ yếu đưa ra nhận định vĩ mô cho toàn quốc hoặc vùng núi phía Bắc; các tài liệu cấp địa phương tuy phản ánh thực tiễn tỉnh Hà Giang và huyện Vị Xuyên nhưng chỉ tiếp cận cục bộ ở từng lĩnh vực riêng lẻ (giáo dục, du lịch, tín dụng chính sách, nghề thủ công). Chương này xác định rõ các nội dung kế thừa về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử vùng đất và số liệu thống kê đã được công bố; đồng thời khẳng định việc nghiên cứu toàn diện, có hệ thống tiến trình chuyển biến kinh tế - xã hội Vị Xuyên giai đoạn 1986 - 2010 là nhiệm vụ khoa học mà luận án tập trung giải quyết.

Chương 2: Chuyển biến về kinh tế, xã hội từ năm 1986 đến năm 2000

Chương 2 phân tích các nhân tố tác động và tái hiện tiến trình phát triển kinh tế, xã hội huyện Vị Xuyên trong 15 năm đầu đổi mới:

  1. Các yếu tố tác động:
  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Tọa độ địa lý từ 22°29’30’’B đến 23°02’30’’B và 104°02’30’’Đ đến 105°09’30’’Đ; phía Bắc giáp Quản Bạ, phía Nam giáp Bắc Quang, phía Đông Nam giáp Tuyên Quang, phía Đông giáp Bắc Mê, phía Tây Nam giáp Hoàng Su Phì, phía Tây giáp huyện Ma Li Pho (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc). Địa hình chia thành 3 tiểu vùng rõ rệt: tiểu vùng núi cao (trên 1.000 m gồm Lao Chải, Xín Chải, Thanh Đức, Thanh Thủy, Thượng Sơn, Quảng Ngần, Cao Bồ, Phương Tiến); tiểu vùng núi trung bình (500 - 800 m gồm Trung Thành, Bạch Ngọc, Ngọc Minh, Ngọc Linh, Minh Tân, Thuận Hòa, Việt Lâm, Linh Hồ); tiểu vùng thung lũng và núi thấp (dưới 500 m gồm Tùng Bá, Phong Quang, Kim Linh, Phú Linh, Kim Thạch, Đạo Đức, thị trấn Vị Xuyên, thị trấn Việt Lâm). Hệ thống thủy văn có sông Lô chảy qua huyện dài 70 km, sông Miện (xã Thuận Hòa), sông Nậm Điêng (xã Minh Tân); dự án thủy điện Nậm Ngần công suất 13,5 MW (vốn đầu tư 251 tỷ đồng, sản lượng 60,27 triệu KWh/năm) cùng các trạm thủy điện nhỏ Việt Lâm, Suối Sửu, Bản Kiếng, Nậm Má. Tài nguyên có 12 mỏ và điểm quặng (sắt Tùng Bá trữ lượng 223 triệu tấn hàm lượng 36,69%; chì - kẽm Na Sơn 1,6 triệu tấn; sét Hồ Noong 1,6 triệu m³; than bùn 88,45 nghìn m³; nước khoáng nóng Quảng Ngần 61°C); diện tích đất lâm nghiệp có rừng 85.196,36 ha (chiếm 56,8% diện tích tự nhiên, độ che phủ trên 50%), có Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh II.
  • Điều kiện kinh tế, xã hội và lịch sử: Biến động hành chính qua các mốc tách huyện Bắc Quang (1835), Quản Bạ (1962), tách 10 xã phía Đông lập huyện Bắc Mê theo Quyết định số 136/HĐBT ngày 18-11-1983; giai đoạn thuộc tỉnh Hà Tuyên (1976 - 1991) và trở lại tỉnh Hà Giang sau ngày 1-10-1991. Dân cư gồm 17 dân tộc: Tày (36,1%), Dao (22,9%), Kinh (15,2%), Mông (11,0%), Nùng (7,1%), Hoa (1,4%), khác (6,3%).
  • Bối cảnh chiến sự biên giới: Từ năm 1981 đến 1985 diễn ra chiến sự ác liệt; từ ngày 7 đến 23-5-1981 quân Trung Quốc bắn hơn 9.000 quả pháo vào các xã Lao Chải, Thanh Thủy, Minh Tân, Phương Tiến, chiếm các điểm cao 1800A, 1800B, 1875, 1558 (làm 2 người chết, 11 người bị thương, 189 nhà bị phá hủy). Năm 1982 giải thể xã Thanh Hương để chia về Thanh Đức và Xín Chải. Năm 1984 Trung Quốc đưa Quân đoàn 14 tấn công Vị Xuyên. Cuối năm 1985 đến đầu năm 1986 huyện phải sơ tán dân vùng biên vào sâu trong nội địa tạm cư. Quan hệ Việt - Trung bình thường hóa từ năm 1991 mở ra giai đoạn hòa bình phát triển.
  • Đường lối, chính sách: Vận dụng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc khóa VI, VII, VIII; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XI (tháng 1 năm 1992) phân chia 3 vùng kinh tế; thực hiện Chương trình 135 của Chính phủ từ cuối thập niên 1990.
  1. Chuyển biến kinh tế:
  • Giai đoạn 1986 - 1990: Sản xuất tập trung vào 3 chương trình kinh tế lớn (lương thực, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu) trong điều kiện vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu; đất canh tác vùng biên bị bỏ hoang do pháo kích. Đến năm 1990, tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 18.315 tấn, bình quân đạt 305 kg/người/năm (chưa đạt chỉ tiêu 320,8 kg dự kiến năm 1986).
  • Giai đoạn 1991 - 2000: Bắt đầu chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa nông - lâm nghiệp (7/23 xã chuyển biến tích cực, điển hình xã Trung Thành thu nhập bình quân đạt 2 triệu đồng/người/năm). Từ năm 1995 mở rộng sang tiểu thủ công nghiệp. Năm 1996, giá trị sản lượng thủ công nghiệp đạt 5.564,7 triệu đồng (tăng 109,2% so với 1995), khai thác 3.407 m³ đá hộc, sản xuất 2.000 viên gạch chỉ, 937 tấn vôi củ, 830 m³ gỗ, 3.907 nông cụ, trong khi giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp đạt 112.268,8 triệu đồng. Năm 1997, lần đầu tiên kế hoạch phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (máy chế biến chè mini, chưng cất dầu sả, vật liệu xây dựng) được chính thức đưa vào định hướng kinh tế địa phương.
  1. Chuyển biến xã hội: Ổn định đời sống cho các cụm dân cư di dời; củng cố các trạm y tế, trường học; đẩy mạnh phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ; triển khai công tác định canh định cư và giảm tỷ lệ hộ đói nghèo.

Chương 3: Chuyển biến về kinh tế, xã hội từ năm 2001 đến năm 2010

Chương 3 tái hiện bước chuyển của Vị Xuyên trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập:

  1. Yếu tố tác động trong thế kỷ XXI:
  • Tác động tích cực từ việc củng cố môi trường hòa bình biên giới và trao đổi thương mại qua cửa khẩu Thanh Thủy; điều chỉnh địa giới hành chính năm 2006 (sáp nhập 3 xã Kim Thạch, Kim Linh, Phú Linh từ thị xã Hà Giang về Vị Xuyên, chuyển 2 xã Phương Độ, Phương Thiện về thị xã Hà Giang), huyện ổn định với 24 đơn vị hành chính cơ sở (2 thị trấn, 22 xã).
  • Đầu tư nguồn lực lớn từ Chương trình mục tiêu quốc gia 135 (giai đoạn I và II) cho các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  1. Chuyển biến kinh tế:
  • Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng: Giảm dần tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ trong GDP toàn huyện (thể hiện qua Bảng 3.1 và Hình 3 trong luận án).
  • Nông - lâm nghiệp: Tăng diện tích và sản lượng lương thực lúa, ngô; phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày, đặc biệt là chè Shan tuyết (Bảng 3 trong văn bản) và cây ăn quả; mở rộng đàn gia súc (trâu, bò, lợn); bảo vệ rừng phòng hộ và phát triển rừng trồng nguyên liệu.
  • Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng: Đẩy mạnh khai thác quặng sắt Tùng Bá, sét gạch ngói Hồ Noong, sản xuất đá, vôi, chế biến chè công nghiệp; đẩy nhanh tiến độ các công trình thủy điện trên lưu vực sông Lô.
  • Thương mại, dịch vụ và du lịch: Giao thương qua cửa khẩu Thanh Thủy phát triển; nâng cấp hệ thống chợ nông thôn; hình thành các loại hình du lịch văn hóa - lịch sử, sinh thái suối khoáng nóng Quảng Ngần, làng nghề nấu rượu Tùng Bá.
  1. Chuyển biến xã hội và dân cư:
  • Năm 2009, diện tích tự nhiên là 1.495,25 km², dân số đạt 96.250 người (chiếm 18,9% diện tích và 13,6% dân số toàn tỉnh Hà Giang); dân số nông thôn là 84.270 người (chiếm 87,6%). Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,63% (năm 2000) xuống còn 1,2% (năm 2009). Mật độ dân số bình quân năm 2009 là 64 người/km², có sự chênh lệch lớn giữa các vùng:
Khu vực / Xã, thị trấn Mật độ dân số năm 2009 (người/km²) Đặc điểm địa bàn
Thị trấn Vị Xuyên 434 Đô thị trung tâm huyện, ven Quốc lộ 2
Thị trấn Việt Lâm 303 Trung tâm tiểu vùng phía Nam
Xã Đạo Đức 114 Vùng thấp ven Quốc lộ 2
Xã Việt Lâm 109 Vùng trung bình
Xã Phú Linh 105 Vùng thấp
Xã Cao Bồ 33 Vùng núi cao Tây Côn Lĩnh
Xã Thanh Đức 32 Xã vùng cao biên giới
Xã Bạch Ngọc 32 Vùng núi trung bình
Xã Quảng Ngần 26 Vùng núi cao, thưa dân
  • Giáo dục và y tế: Cơ sở vật chất trường lớp học được kiên cố hóa, duy trì tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường; mạng lưới y tế xã được trang bị kỹ thuật chăm sóc sức khỏe ban đầu.
  • Giảm nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm theo các chuẩn nghèo quốc gia (Hình 3 trong luận án phản ánh tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2000 - 2010); đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực.

Chương 4: Nhận xét và một số đề xuất

Chương 4 đúc kết những thành tựu, chỉ ra hạn chế, phân tích nguyên nhân và nêu hệ thống giải pháp:

  1. Nhận xét về thành công, hạn chế và nguyên nhân:
  • Thành tựu: Từ một huyện bị chiến tranh tàn phá nặng nề, địa bàn phân tán, Vị Xuyên đã ổn định chính trị, giữ vững chủ quyền an ninh biên giới, khắc phục tình trạng thiếu đói, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa và công nghiệp hóa nông thôn, hạ tầng giao thông và dịch vụ xã hội từng bước hoàn thiện.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng đất đai, khoáng sản và vị trí địa kinh tế; quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé; sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, các thành tựu chủ yếu tập trung dọc trục Quốc lộ 2 và khu vực thị trấn, thị tứ, trong khi các xã vùng cao núi đá biên giới còn rất khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo ở vùng dân tộc thiểu số còn cao; kết cấu hạ tầng giao thông liên thôn bản còn yếu kém; chất lượng nguồn nhân lực thấp, trình độ dân trí chưa đồng đều. Nguyên nhân chủ yếu do xuất phát điểm kinh tế quá thấp, điều kiện tự nhiên chia cắt mạnh, thiên tai lũ quét, sương muối diễn biến phức tạp và nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách còn hạn hẹp.
  1. Một số đề xuất:
  • Tiếp tục đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông, nhất là các tuyến đường liên xã, liên thôn nối vùng cao với các trục giao thông huyết mạch.
  • Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, khai thác thế mạnh chè Shan tuyết, dược liệu quý (thảo quả, quế, sa nhân), phát triển chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò vàng) gắn với công nghiệp chế biến.
  • Khai thác hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản (sắt, chì kẽm, sét) và hệ thống thủy điện vừa và nhỏ trên sông Lô, sông Miện gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái và rừng phòng hộ.
  • Khai thác lợi thế cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy và Quốc lộ 2 để phát triển thương mại biên mậu, mở rộng các tuyến du lịch sinh thái và văn hóa lịch sử.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo nghề tại chỗ, hỗ trợ vốn tín dụng chính sách gắn với kỹ thuật canh tác cho đồng bào dân tộc thiểu số; gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh biên cương.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận và khoa học lịch sử, luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống và tái hiện chân thật, toàn diện bức tranh chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Vị Xuyên (tỉnh Hà Giang) trong suốt giai đoạn 25 năm đổi mới (1986 - 2010). Công trình đã phân tích làm rõ tính quy luật và đặc thù của một địa bàn miền núi biên giới chuyển mình từ tình trạng chiến sự ác liệt sang hòa bình, tái thiết và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Về mặt thực tiễn, thông qua việc đánh giá khách quan những thành tựu đạt được và phân tích sâu sắc các hạn chế cùng nguyên nhân, luận án cung cấp cơ sở khoa học và các khuyến nghị thiết thực cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong việc hoạch định chính sách, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia.

Về giá trị tư liệu, luận án đã tập hợp, xử lý và hệ thống hóa khối lượng lớn tư liệu thống kê gốc, tư liệu lưu trữ địa phương và tư liệu điền dã thực tế, cung cấp nguồn dữ liệu tin cậy phục vụ nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương cũng như địa lý địa phương tỉnh Hà Giang.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án thực hiện nghiên cứu lịch sử địa phương dựa trên nguồn tài liệu lưu trữ cấp huyện và cấp tỉnh; trong đó tài liệu thống kê giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990) còn gặp khó khăn do hậu quả chiến tranh biên giới làm phân tán tư liệu. Mặt khác, do phạm vi đề tài bao quát cả kinh tế và xã hội trong 25 năm trên 24 xã, thị trấn, luận án chủ yếu tập trung vào bức tranh chung ở cấp huyện và sự phân hóa theo 3 tiểu vùng, chưa đi sâu phân tích vi mô đời sống kinh tế - xã hội của từng nhánh tộc người thiểu số riêng biệt ở các bản làng vùng sâu.

Về hướng nghiên cứu tiếp, từ khung nghiên cứu của luận án, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát giai đoạn sau năm 2010 khi huyện Vị Xuyên bước vào giai đoạn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới và nâng cấp Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy; hoặc đi sâu nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa Vị Xuyên với các huyện biên giới khác của các tỉnh Đông Bắc và Tây Bắc nhằm làm rõ mô hình phát triển kinh tế biên mậu gắn với bảo đảm an sinh xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng, Địa lý kinh tế - xã hội, Dân tộc học và Quản lý phát triển xã hội.
  • Cán bộ lãnh đạo, công chức các ban ngành thuộc huyện Vị Xuyên và tỉnh Hà Giang làm công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn, thương mại biên giới, tài nguyên khoáng sản, giáo dục và công tác dân tộc.
  • Giảng viên, giáo viên giảng dạy lịch sử địa phương, địa lý địa phương tại các trường chính trị, trường cao đẳng, trường phổ thông trung học trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm: hệ thống số liệu thống kê lịch sử về cơ cấu kinh tế (nông - lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp), tài nguyên khoáng sản và thủy điện, hiện trạng sử dụng đất đai, tư liệu biến động địa giới hành chính và tiến trình khắc phục hậu quả chiến sự biên giới bảo vệ Tổ quốc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Huyện Vị Xuyên được phân chia thành những tiểu vùng sinh thái nào và đặc điểm phát triển của từng vùng ra sao?
    Luận án phân định huyện Vị Xuyên thành 3 tiểu vùng dựa trên độ cao và địa hình:
  • Tiểu vùng núi cao (độ cao trên 1.000 m gồm các xã Lao Chải, Xín Chải, Thanh Đức, Thanh Thủy, Thượng Sơn, Quảng Ngần, Cao Bồ, Phương Tiến): thích hợp phát triển chè Shan tuyết, quế, cây thảo mộc, chăn nuôi đại gia súc và nghề rừng.
  • Tiểu vùng núi trung bình (độ cao từ 500 đến 800 m gồm các xã Trung Thành, Bạch Ngọc, Ngọc Minh, Ngọc Linh, Minh Tân, Thuận Hòa, Việt Lâm, Linh Hồ): thuận lợi cho cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, chè, chăn nuôi và trồng rừng.
  • Tiểu vùng thung lũng và núi thấp (độ cao dưới 500 m gồm các xã Tùng Bá, Phong Quang, Kim Linh, Phú Linh, Kim Thạch, Đạo Đức, thị trấn Vị Xuyên, thị trấn Việt Lâm): thuận lợi cho lúa nước, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi và phát triển các cụm công nghiệp.
  1. Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc trong nửa đầu thập niên 1980 đã tác động như thế nào đến tình hình huyện Vị Xuyên?
    Vị Xuyên là chiến trường trọng điểm bị đánh phá ác liệt. Từ ngày 7 đến 23-5-1981, đối phương bắn hơn 9.000 quả pháo vào các xã biên giới làm 2 người chết, 11 người bị thương, 189 ngôi nhà bị phá hủy và đánh chiếm các cao điểm 1800A, 1800B, 1875, 1558. Năm 1982, huyện phải giải thể xã Thanh Hương để sáp nhập vào Thanh Đức và Xín Chải. Năm 1984, chiến sự tiếp tục bùng phát dữ dội khi đối phương sử dụng Quân đoàn 14 tấn công. Cuối năm 1985 đến đầu năm 1986, huyện phải di dời các cụm dân cư vùng biên vào sâu trong nội địa tạm cư; nhiều diện tích đất canh tác bị bỏ hoang do đạn pháo kích, sản xuất và đời sống bị xáo trộn lớn.

  2. Địa giới hành chính của huyện Vị Xuyên có những thay đổi lớn nào từ trước năm 1986 đến năm 2010?
    Nguyên là châu Vị Xuyên thuộc phủ Tường Yên; năm 1835 cắt phần đất hữu ngạn sông Lô lập huyện Vĩnh Tuy (Bắc Quang); tháng 12-1962 tách các xã phía Bắc lập huyện Quản Bạ; ngày 18-11-1983 tách 10 xã phía Đông lập huyện Bắc Mê theo Quyết định 136/HĐBT; giai đoạn 1976 - 1991 thuộc tỉnh Hà Tuyên; từ ngày 1-10-1991 trở lại tỉnh Hà Giang. Năm 2006, sáp nhập 3 xã Kim Thạch, Kim Linh, Phú Linh từ thị xã Hà Giang về Vị Xuyên và chuyển 2 xã Phương Độ, Phương Thiện về thị xã Hà Giang, đưa huyện về quy mô ổn định gồm 24 đơn vị hành chính cơ sở (2 thị trấn và 22 xã).

  3. Cơ cấu các dân tộc và phân bố dân cư tại huyện Vị Xuyên có đặc trưng gì?
    To