Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được công bố, chủ yếu như sau: 1. Các công trình nghiên cứu về chiến tranh nhân dân Việt Nam 1. Ở trong nước Nghiên cứu về chiến tranh cách mạng nói chung, chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói riêng đã có rất nhiều công trình: Võ Nguyên Giáp (1970), Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội; Nắm vững đường lối chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1972), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội; Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1979), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội,.
Với vai trò là Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, các công trình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thể hiện rõ nét những quan điểm về đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và Nhà nước Việt Nam, như về quá trình hình thành và phát triển đường lối chiến tranh nhân dân Việt Nam của Đảng, về tư tưởng chiến tranh nhân dân của Hồ Chí Minh, về mục đích, lực lượng, phương thức tiến hành, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, nổi bật là tư tưởng toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Tác giả khẳng định 1930-1945 là thời kì hình thành đường lối khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân của Đảng, đi đến hoàn chỉnh ở thời kì 1945-1954 và được nâng cao trong thời kì 1954-1975. Riêng về công trình Nắm vững đường lối chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, gồm 5 bài viết, sau khi tổng kết những thắng lợi hết sức to lớn mà quân và dân ta đã giành được trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, tác giả phân tích tính chất, mục đích thủ đoạn đánh phá cùng những thất bại của đế 9 quốc Mỹ; nêu bật tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân dân ta, đường lối chiến tranh, đặc biệt là đường lối chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại, từ đó rút ra những bài học qua 4 năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968), trong đó nhấn mạnh vị trí chiến lược của chiến tranh nhân dân ở địa phương và của các lực lượng vũ trang địa phương, cũng như phát huy sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển. Riêng đối với cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại, tác giả làm rõ đó là một cuộc chiến đất đối không, đất đối biển, không đối không, không đối biển và thậm chí là cả đất đối đất, với những nội dung cụ thể là “toàn dân đánh máy bay và tàu chiến địch, toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân đảm bảo giao thông vận tải, kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu và sản xuất, thực hiện chuyển hướng kinh tế để phục vụ quốc phòng, bảo đảm đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tiếp tục làm tròn nhiệm vụ chi viện miền Nam và chi viện quốc tế” [100, tr.
Văn Tiến Dũng (1979), Chiến tranh nhân dân quốc phòng toàn dân, tập 2, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, luận giải nhiều vấn đề mang tính tổng kết về truyền thống chiến tranh nhân dân trong lịch sử và chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc như về nghệ thuật quân sự trong kháng chiến chống Mỹ, về một số kinh nghiệm trong chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, như đánh giá đúng âm mưu chiến lược và khả năng hoạt động của địch, có quyết tâm cao đối phó kịp thời và giành thắng lợi, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời ra sức tranh thủ sự viện trợ quốc tế, … Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1982, 1983), Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, trình bày đặc điểm tình hình và diễn biến của chiến tranh, rút ra 9 bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh nhân dân đánh thắng không quân và hải quân Mỹ, xây dựng lực lượng vũ trang trong chiến tranh, đảm bảo giao thông vận tải, chuyển 10 hướng kinh tế, tổ chức phòng không nhân dân, … bảo vệ vững chắc hậu phương và chi viện cho tiền tuyến. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trình bày các giai đoạn phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, rút ra những bài học kinh nghiệm lớn, trong đó có “nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân sáng tạo, tổ chức lực lượng cả nước đánh giặc”. Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (1995), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954-1975), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trong chương X và XI đề cập những diễn biến chính của cuộc chiến đấu của quân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại của Mỹ.
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, ngoài đề cập quá trình xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện, làm chỗ dựa cho cách mạng miền Nam, công trình dành phần quan trọng trình bày về xây dựng và phát huy tuyến vận tải chiến lược chi viện cách mạng miền Nam, chủ yếu là qua tuyến đường Trường Sơn. Công trình cũng rút ra những bài học kinh nghiệm lớn về phát huy vai trò hậu phương trong chiến tranh nhân dân. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975.
Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tổng kết nguyên nhân và diễn biến của cuộc chiến tranh cách mạng 30 năm (1945-1975), rút ra những bài học, trong đó có bài học về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh, về hậu phương - căn cứ địa, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc, … Bộ Tổng Tham mưu (2001), Tổng kết chiến tranh nhân dân: Chuyên đề chỉ đạo xây dựng và hoạt động chiến đấu của lực lượng phòng không địa phương chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc (1954-1975), Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, làm rõ một số đặc điểm có liên quan đến quá trình chỉ đạo 11 xây dựng và hoạt động của lực lượng phòng không địa phương, từ đó rút ra 4 bài học kinh nghiệm, đó là thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động xây dựng, phát triển lực lượng phòng không địa phương trong thế trận chiến tranh nhân dân đối không; Vừa chỉ đạo đánh trả có hiệu quả máy bay địch, vừa chỉ đạo thực hiện tốt việc sơ tán phòng tránh, khắc phục hậu quả ở địa phương; Quán triệt sâu sắc tư tưởng, nguyên tắc tác chiến phòng không, vận dụng sáng tạo vào chỉ đạo tác chiến phòng không địa phương, thực hiện cách đánh thích hợp có hiệu quả, kết hợp phòng không địa phương với phòng không chủ lực; Phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, quản lí điều hành của chính quyền, tham gia của các ngành, đoàn thể, vai trò tham mưu và chỉ huy của cơ quan tham mưu phòng không các cấp. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), xuất bản lần thứ 2, Nxb.
Chính trị Quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, trong đó về cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của quân dân miền Bắc được phản ánh trong các tập IV, V, VI, VII. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2015), Tổng kết chiến đấu chống đế quốc Mỹ phong tỏa sông, biển miền Bắc bằng thủy lôi và bom từ trường những năm 1965-1973, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, tái hiện những nét đặc sắc, tiêu biểu nhất về quá trình lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức chiến đấu của quân dân ta, từng bước đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn đánh phá, phong tỏa bằng vũ khí công nghệ cao hết sức hiểm độc của đế quốc Mỹ ở trên chiến trường sông biển thuộc quân khu 3 và 4 (gồm các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh vào đến Vĩnh Linh), trong đó tập trung chủ yếu ở một số vùng có ý nghĩa chiến lược như cảng Hải Phòng, cảng Gianh và Nhật Lệ. Công trình làm rõ những loại vũ khí và thủ đoạn đánh phá, phong tỏa của Mỹ cùng quá trình quân dân ta đối phó, làm vô hiệu hóa cuộc chiến phong tỏa.
Trên cơ sở đó, công trình rút ra kết quả, ý nghĩa và 7 bài học kinh nghiệm, trong đó có “quán triệt sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, … Không ngừng xây dựng và củng cố thế trận chiến tranh nhân dân chống địch đánh phá phong tỏa” [214, tr. 12 Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2015), Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập IV: Từ năm 1945 đến năm 1975, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, nghiên cứu tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam qua quá trình lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trong đó có tư tưởng tiến hành chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân toàn diện, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ viện trợ quốc tế; tư tưởng xây dựng căn cứ địa, hậu phương chiến tranh; vừa kháng chiến vừa kiến quốc; tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân và nền quốc phòng toàn dân ở Việt Nam. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2015), Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập V: Tổng luận, Nxb.
Chính trị Quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, rút ra những vấn đề chung nhất, có tính quy luật, xuyên suốt tiến trình lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, trong đó có tư tưởng chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam; tư tưởng xây dựng căn cứ địa, hậu phương; tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang; tư tưởng đại đoàn kết toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.