CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Các nghiên cứu về cạnh tranh Cạnh tranh là quy luật khách quan, tất yếu cho sự phát triển của tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường ở bất kỳ quốc gia nào. Đã từ lâu trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về cạnh tranh và lý thuyết cạnh tranh với nhiều trường phái như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại.
Về cơ bản các lý thuyết này đã làm rõ bản chất của cạnh tranh, vai trò, các phương thức cạnh tranh và tác động của cạnh tranh đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia. Các nhà khoa học người Anh là Buckley và cộng sự (1988) [92] đã tổng hợp các công trình nghiên cứu về cạnh tranh và cho rằng, đến năm 1988 có rất ít định nghĩa hoặc khái niệm về năng lực cạnh tranh đã được công nhận.Porter (1990) [113] lại cho rằng khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được thống nhất. Đến năm 2004, Henricsson [100] mới đưa ra khái niệm năng lực canh tranh nhưng vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi, nhất là ý kiến của các nhà hoạch định chính sách, các học giả về kinh tế. Trường phái Lý thuyết cạnh tranh cổ điển gắn liền với các tên tuổi các học giả nổi tiếng như: Michael Porter (1980), Adam Smith, W.
Các nghiên cứu của trường phái Lý thuyết cạnh tranh hiện đại phải kể đến những nghiên cứu của các nhà khoa học nổi bật như: E.Aglietta, Micheal Eairbank, John Maurice Clark, Michael Port, J.Schumpeter, Barney, Wernerfelt (1984), Peteraf, Sanchez, Heene… Năng lực cạnh tranh theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh cổ điển truyền thống được dựa trên tiền đề là các doanh nghiệp trong cùng một ngành, ở đó có tính tương đối giống nhau về chiến lược sản xuất kinh doanh, sản phẩm, và nguồn lực chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, do môi trường kinh doanh thường nhạy cảm với chính sách kinh tế của mỗi quốc gia và rất hay có những biến đổi nào đó tác động đáng kể đến chiến lược kinh doanh nên các doanh nghiệp phải điều chỉnh nguồn lực và các điều 10 kiện kinh doanh phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Tiêu biểu là các tác giả như: Porter (1980), Chamberlin (1933), Barney (1991). Trong các công trình nghiên cứu về cạnh tranh, nổi bật nhất là công trình nghiên cứu của Michael Porter (2015), ông là người đấu tiên nghiên cứu và đặt nền móng cho việc hình thành lĩnh vực khoa học chiến lược và cạnh tranh, là giáo sư hàng đầu và là “cha đẻ” của những nghiên cứu về cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ông đã cho ra đời 3 tác phẩm kinh điển là “Chiến lược cạnh tranh”, “Lợi thế cạnh tranh”, “Lợi thế cạnh tranh quốc gia”. Những nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ông có thể áp dụng trong mọi cấp độ (doanh nghiệp, ngành, quốc gia) cũng như mọi lĩnh vực (sản xuất, dịch vụ). Adam Smith đã bắt đầu với tác phẩm “Của cải của các quốc gia”, ông cho rằng hãy cho mọi người tự do về kinh tế, cần sự ổn định chính sách của chính phủ, ổn định môi trường cạnh tranh, ít có sự can thiệp của nhà nước, các doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh, quyền được tiết kiệm, đầu tư vốn và sử dụng máy móc thay thế sức lao động như là những thành phần thiết yếu, sự tích lũy vốn, sự quản lý kinh doanh tốt dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Quan điểm Adam Smith nhấn mạnh 3 thành tố: (1) Tự do cạnh tranh; (2) Quyền cạnh tranh của cá nhân; (3) Tính công bằng trong cạnh tranh [118].
Các nhà khoa học thuộc trường phái Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển đã đi sâu nghiên cứu và xác định những điều kiện để hình thành quy luật tồn tại sự phù hợp tương ứng giữa lợi ích riêng và lợi ích chung trong xã hội mà kết quả cuối cùng là họ đã đưa ra được những mô hình cạnh tranh hoàn hảo biểu thị bởi công thức toán học cụ thể. Nhà kinh tế học người Mỹ John Maurice Clark với cuốn sách “Cạnh tranh là một sự biến đổi linh hoạt” đã đưa ra các luận điểm là: Với những nhân tố không hoàn hảo có thể sửa chữa bằng các nhân tố không hoàn hảo khác trên thị trường cạnh tranh, tạo điều kiện cho sự phát triển cạnh tranh có hiệu quả và làm giảm sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp trong chính sách sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường; vận hành hoạt động cạnh tranh được đo bằng mức độ giảm giá, khả năng nâng cao chất lượng sản phẩm trước nhu cầu không ngừng biến đổi của người tiêu dùng [94].L Rubinfeld (1999) [108], nghiên cứu về cạnh tranh đã đưa ra nhận định: Thị trường cạnh tranh được gọi là hoàn hảo khi thị trường có nhiều người mua và người bán, mà trong đó không một cá nhân nào của bên mua hoặc của bên bán có ảnh hưởng đáng kể hoặc có khả năng chi phối tới giá cả chung đã được thiết lập tại thời điểm nhất định nào đó. 11 Một số tác giả khác như D. Dornbusch (2005) [91] cũng cho rằng cạnh tranh thực chất cũng là cạnh là cạnh tranh hoàn hảo.
Họ quan niệm là: Một cạnh tranh hoàn hảo hay một cạnh tranh đều có chung yếu tố cơ bản nhất đó hành động của mỗi người không gây ảnh hưởng hay tác động đến giá cả thị trường, mỗi sản phẩm hay nhóm sản phẩm phải luôn luôn có nhiều người bán và nhiều người mua. Trong nghiên cứu về “Để xây dựng doanh nghiệp hiệu quả”, MiChaele. Gerber (2016) đã cung cấp cho doanh nghiệp những lý luận công cụ để doanh nghiệp có được sự tiến bộ vượt trội và hoạt động hiệu quả cao nhất. Tác giả đã giới thiệu về giai đoạn hình thành và phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, những nhận thức về doanh nghiệp, về chương trình của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
Đồng thời, cũng đã nêu lên một quan điểm mới về doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay là coi doanh nghiệp như một sản phẩm xã hội [104]. Vì vậy, để xây dựng được một doanh nghiệp hiệu quả cần xác định lộ trình phát triển doanh nghiệp với mục đích cụ thể, chính xác, mục tiêu chiến lược quản lý, nhân sự, marketing, hệ thống. Utton (2006) có công trình nghiên cứu “Chính sách cạnh tranh quốc tế: Duy trì thị trường mở trong nền kinh tế toàn cầu”, đã trình bày những nét cơ bản về cạnh tranh và các chính sách thương mại. Trong điều kiện toàn cầu hóa, dưới những tác động của thị trường trong việc cổ phần hóa, chống phá giá độc quyền, các doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Các doanh nghiệp lớn xuyên quốc gia cần phải tập trung đầu tư về tài chính, nguồn nhân lực, phương thức quản lý, tiếp cận khoa học công nghệ, kỹ thuật mới. Phan Thị Minh Lý (2011) dựa trên kết quả khảo sát 112 doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bản tỉnh Thừa Thiên – Huế, qua nghiên cứu và phân tích đã cho thấy nhóm nhân tố về nội lực của doanh nghiệp có tác động mạnh nhất đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, kế theo đó là nhóm nhân tố về chính sách của địa phương, chính sách vĩ mô và yếu tố vốn. Tuy không đề cập trực tiếp nhưng kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những chỉ số thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, để nâng cao yếu tố nội tại thì doanh nghiệp cần ưu tiên cải thiện, hiện đại hóa trang thiết bị, cập nhật thông tin thị trường, nâng cao trình độ lao động.
Các yếu tố ít cấp bách hơn hoặc liên quan đến môi trường bên ngoài thì khó có thể thay đổi được ngay mà cần thời gian dài hơn trong trung hạn và dài hạn [37]. Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011) trong bài nghiên cứu của mình về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và 12 vừa ở thành phố Cần Thơ đã chỉ ra các nhân tố mức độ tiếp cận chính sách hỗ trợ của Chính phủ, trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, các mối quan hệ xã hội của doanh nghiệp và tốc độ tăng doanh thu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV ở Tp. Có thể thấy ở đây có nhân tố bên ngoài, các nhân tố thuộc tầm quản trị vĩ mô của doanh nghiệp và những chỉ tiêu chung (tốc độ tăng doanh thu) của doanh nghiệp. Cho thấy, khi nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV thì cũng cần xem xét đến yếu tố môi trường khách quan và các yếu tố mang tầm vĩ mô của doanh nghiệp [42].
Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh theo các nhân tố ảnh hưởng và mô hình phân tích năng lực cạnh tranh Trong số các nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh hiện nay thì những nghiên cứu của Michael Porter đã nghiên cứu đầy đủ nhất về năng lực cạnh tranh. Trong nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh quốc tế, M. Porter có 16 cuốn sách và hơn 100 bài báo viết về chiến lược và năng lực cạnh tranh từ cấp độ doanh nghiệp, ngành cho đến quốc gia thuộc các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ. Ở mọi các cấp độ và các lĩnh vực, ông đều đưa ra phân tích, kết luận đúng mức nhất về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh.
Porter với Cách năng lực cạnh tranh hình thành chiến lược ra đời năm 1979 đã chỉ ra được các nhân tố tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp đó là 5 nhân tố: yếu tố đầu vào; nhu cầu của thị trường; doanh nghiệp hỗ trợ và liên quan; môi trường, thể chế kinh tế và sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác; chiến lược của doanh nghiệp [110]. Căn cứ vào đó, các doanh nghiệp đã tìm được các nhân tố cụ thể nhất, rõ nhất ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho mình. Hiện nay mô hình này của M. Porter được các doanh nghiệp trên thế giới ứng dụng nhiều.
Năng lực cạnh tranh tiếp cận từ chuỗi giá trị được Porter đưa ra vào năm 1985 trong cuốn “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”.