CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỐ TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm của bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự Quyền con người luôn được cộng đồng quốc tế và các quốc gia coi trọng và xem đó như là một thành tựu của nền văn minh trong thời đại ngày nay; là thước đo của sự tiến bộ xã hội, không phân biệt hệ tư tưởng, chế độ chính trị, bản sắc văn hóa, trình độ phát triển của các quốc gia [84, tr. “Quyền con người là điều kiện mà bản chất con người đòi hỏi để tồn tại một cách thích đáng” [113].
Do đó, quyền con người luôn được Nhà nước ta coi trọng và bảo đảm thực hiện. Với sự ghi nhận các quyền con người trong Hiến pháp, trong các Bộ luật và các văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước đã tạo hành lang pháp lý vững chắc để mọi người có thể thuận lợi trong việc tham gia thực hiện các quyền đó. Quyền con người, mà biểu hiện của nó ở cấp độ quốc gia là các quyền công dân. Quyền công dân cũng là quyền con người được áp dụng trong điều kiện, hoàn cảnh của một quốc gia, với công dân của một quốc gia, chứ không phải là một dạng thức khác biệt về bản chất với quyền con người [42, tr.
Như vậy, quyền công dân chỉ là quyền con người được pháp luật các quốc gia ghi nhận và áp dụng cho công dân của nước mình. Các quốc gia khác nhau quy định quyền công dân cũng không giống nhau. Quyền công dân ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào các quan hệ pháp luật mà họ tham gia để pháp luật ghi nhận các quyền pháp lý phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Các quyền pháp lý của công dân được cụ thể hóa trong Hiến pháp, Bộ luật và các văn bản quy phạm pháp luật.
Trong các quyền con người, các quyền về dân sự được xem là có tính chất nền tảng, cơ bản, thiết yếu nhất. Cũng như các quyền con người khác, các quyền về dân sự của các chủ thể được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia và được bảo hộ chặt chẽ. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 16/12/1996 đã bảo đảm rằng: bất cứ người bào bị xâm phạm các quyền và tự do được công nhận trong công ước này thì đều được bảo hộ pháp lý một cách hiệu quả [76, tr. Theo tiến sĩ Trần Phương Thảo, quyền tìm đến Tòa án để nhờ Tòa án bảo vệ cũng là một quyền con người được ghi nhận tại Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 19 19/12/1948 [76, tr.
Khi quyền và lợi ích dân sự của chủ thể được pháp luật quốc gia ghi nhận và bảo hộ bị xâm phạm thì pháp luật trao cho chủ thể có quyền, lợi ích dân sự các quyền tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Các quyền tố tụng này được thực hiện trong quá trình tố tụng dân sự trước Tòa án. Do vậy, cần phải xác định được thời điểm bắt đầu và kết thúc trình tự tố tụng để đương sự có thể thực hiện các quyền tố tụng được pháp luật trao cho. Nếu xét theo nghĩa rộng thì TTDS là trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án và trình tự, thủ tục thi hành án dân sự.
Còn xét theo nghĩa hẹp thì TTDS chỉ bao hàm trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án. Kết quả nghiên cứu cho thấy xét về bản chất thì “tố tụng” được hiểu là việc kiện cáo trước Tòa án [46, tr.687] hay “tố tụng” là phương thức pháp lý do pháp luật thiết lập nhằm bảo đảm việc thi hành công lý đúng đắn [108]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu cho rằng “tố tụng” là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latinh (procedure), được hiểu là một đường lối phải tuân theo để đi tới chổ thắng kiện [36]. Trong một công trình nghiên cứu của mình tác giả Alexandre Ciaudo nhận định, “tố tụng có thể được định nghĩa như là một chuỗi liên kết những hành động hoặc các thủ tục nhằm đưa ra một quyết định, cũng như các quy định và các nguyên tắc chỉ đạo cho chuỗi liên kết này” [111, tr.
Tố tụng có thể hiểu là quá trình kiện tụng tại Tòa án và được Tòa án chấp nhận giải quyết. TTDS là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự [83, tr. Tuy nhiên, trình tự tố tụng trước Tòa án là việc thực hiện các hành vi của các chủ thể tố tụng, trong đó có đương sự thực hiện hành vi tố tụng trước Tòa án, từ khi bắt đầu có yêu cầu khởi kiện cho đến khi Tòa án ra phán quyết cuối cùng của vụ án [19, tr. Các đương sự tham gia vào quá trình tố tụng được pháp luật trao cho các quyền tố tụng nhất định để bảo vệ quyền, lợi ích dân sự của mình.
Quyền tố tụng của đương sự là một khái niệm được các nhà khoa học nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo tác giả Robert G.Bone “có thể xem quyền tố tụng thực sự là một quyền” và định nghĩa “quyền tố tụng như là một quyền về bộ tiêu chuẩn tối thiểu của tố tụng để bảo đảm được tính chính xác cao nhất” [103, tr.Bone cũng nhận xét: “Một điều khá phổ biến trong lĩnh vực tố tụng dân sự là việc phê bình các nguyên tắc tố tụng với lý do chúng tạo nên gánh nặng cho “quyền” tố tụng của một bên, hoặc bảo vệ cho sự cải cách vì mục tiêu thúc đẩy các quyền tố tụng. Với công trình nghiên cứu này tác Robert G.Bone cho rằng quyền tố tụng là một quyền và quyền tham gia phiên tòa, các quyền khác 20 như quyền được nhận thông báo hợp lệ, quyền tranh tụng…phát sinh dựa trên cơ sở quyền tố tụng, việc xây dựng các quyền khác nhằm mục đích hỗ trợ, bảo đảm cho việc thực hiện quyền tố tụng của đương sự. Ở Việt Nam quyền tố tụng của đương sự cũng đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Theo tiến sĩ Nguyễn Công Bình thì “quyền tố tụng là cách xử sự mà pháp luật quy định cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự thực hiện. Tùy theo mục đích, tính chất tham gia quan hệ tố tụng của các chủ thể mà pháp luật TTDS quy định cho các chủ thể các quyền tố tụng dân sự nhất định” [32, tr. Tuy không đưa ra một định nghĩa cụ thể phân tách giữa quyền và nghĩa vụ TTDS nhưng nhà nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, “việc pháp luật quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự là rất cần thiết, bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng và đúng đắn. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để các đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ” hay “các quyền, nghĩa vụ tố TTDS của đương sự thể hiện trong các lĩnh vực như sử dụng các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước Tòa án; quyết định quyền, lợi ích của mình trong TTDS; khiếu nại, tố cáo các hành vi trái pháp luật của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tố tụng” [32, tr.
Các quyền tố tụng cơ bản được pháp luật trao cho đương sự để bảo vệ quyền, lợi ích dân sự của mình trong tố tụng bao gồm được quyết định về yêu cầu tố tụng trước Tòa án; được chứng minh, bảo vệ quyền lợi trước Tòa án; được tiếp cận chứng cứ, tài liệu; được tranh tụng; được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan trong một thời hạn hợp lý; được đề xuất với Tòa án áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; được hòa giải với nhau về quyền, lợi ích tranh chấp; kháng cáo, khiếu nại, trong đó có khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.v… Từ các quyền tố tụng cơ bản này, Nhà lập pháp sẽ cụ thể hóa thành các quyền tố tụng cụ thể như quyền khởi kiện, giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu; cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình; được biết, ghi chép và sao chụp các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập; đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án trong trường hợp tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải, tham gia phiên toà; nhận thông báo hợp lệ từ 21 Tòa án. Các quyền tố tụng này của đương sự sẽ được bảo đảm thực hiện thông qua nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác cũng như nhiệm vụ của Tòa án, Viện Kiểm sát. Khi nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Đỗ Thị Hà đã đưa ra khái niệm quyền tố tụng của đương sự, theo đó quyền tố tụng của đương sự “là quyền năng được pháp luật tố tụng dân sự quy định cho đương sự khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự tại Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước. Các quyền năng này được đương sự sử dụng để bảo vệ các quyền năng dân sự tại Tòa án và được Tòa án bảo đảm thực hiện” [19, tr.
Theo hướng tiếp cận trên, quyền tố tụng dân sự của đương sự mang tính pháp lý “được ghi nhận trong luật”, thông qua việc ghi nhận các quyền tố tụng dân sự của đương sự, Nhà nước cung cấp những quyền năng, những chuẩn mực pháp lý để các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTDS thực hiện. Như vậy, quyền tố tụng của đương sự trong TTDS có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng có thể được hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng, cách thức xử sự mà pháp luật TTDS quy định cho các đương sự được thực hiện khi tham gia tố tụng tại Tòa án.