Luận án Tiến sĩ: Phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên THCS

Luận án thạc sĩ nghiên cứu phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên trung học cơ sở, nâng cao chất lượng giáo dục và phương pháp giảng dạy.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2010

174
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

1.3.1. Khách thể nghiên cứu

1.3.2. Đối tượng nghiên cứu

1.4. Giả thuyết khoa học

1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

1.7. Phương pháp nghiên cứu

1.7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

1.7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

1.7.3. Các phương pháp nghiên cứu khác

1.8. Những luận điểm cần bảo vệ

1.9. Đóng góp mới của luận án

1.9.1. Về mặt lý luận

1.9.2. Về mặt thực tiễn

1.10. Cấu trúc luận án

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG DẠY HỌC HỢP TÁC CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Cơ sở lý luận về phát triển kỹ năng dạy học hợp tác

1.1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài

1.1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.2. Nghiên cứu trong nước

1.1.2. Cơ sở khoa học của dạy học hợp tác

1.1.2.1. Cơ sở triết học
1.1.2.2. Cơ sở tâm lý học
1.1.2.3. Cơ sở xã hội học
1.1.2.4. Cơ sở lý luận dạy học

1.1.3. Các khái niệm công cụ

1.1.3.1. Khái niệm hợp tác
1.1.3.2. Khái niệm học tập hợp tác
1.1.3.3. Khái niệm dạy học hợp tác
1.1.3.4. Khái niệm phát triển
1.1.3.5. Khái niệm bồi dưỡng
1.1.3.6. Khái niệm kỹ năng

1.1.4. Bản chất, cấu trúc, tác dụng của DHHT N

1.1.4.1. Bản chất của DHHT N
1.1.4.2. Cấu trúc dạy học hợp tác nhóm
1.1.4.3. Tác dụng của DHHT đối với cấp học THCS

1.1.5. Phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho GV THCS

1.1.5.1. Mục đích của việc phát triển kỹ năng DHHT cho GV THCS
1.1.5.2. Nội dung phát triển kỹ năng DHHT cho GV THCS
1.1.5.3. Hình thức phát triển kỹ năng DHHT cho GV THCS

1.2. Cơ sở thực tiễn của việc phát triển kỹ năng DHHT cho GV trung học cơ sở

1.2.1. Thực trạng sử dụng các PPDH và đổi mới PPDH, sự hiểu biết về DHHT, HTHT và hoạt động bồi dưỡng phát triển kỹ năng DHHT cho GV THCS qua khảo sát

1.2.1.1. Tổ chức khảo sát
1.2.1.2. Kết quả khảo sát
1.2.1.3. Kết luận chung về thực trạng qua khảo sát

1.3. Kết luận chương 1

2. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG DẠY HỌC HỢP TÁC CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ

2.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp phát triển kỹ năng DHHT cho GV THCS

2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích

2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

2.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả toàn diện

2.2. Biện pháp phát triển kỹ năng DHHT cho GV THCS

2.2.1. Nhóm biện pháp 1: Xây dựng nội dung bồi dưỡng kỹ năng DHHT cho GV THCS

2.2.1.1. Mục đích ý nghĩa
2.2.1.2. Nội dung
2.2.1.3. Điều kiện thực hiện nhóm biện pháp

2.2.2. Nhóm biện pháp 2: Hướng dẫn thực hiện kỹ năng DHHT và ứng dụng thực hành, rèn luyện kỹ năng DHHT tại trường THCS

2.2.2.1. Mục đích
2.2.2.2. Nội dung nhóm biện pháp
2.2.2.3. Điều kiện thực hiện nhóm biện pháp

2.2.3. Mối liên hệ giữa các nhóm biện pháp

2.3. Kết luận chương 2

3. ĐÁNH GIÁ CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG DẠY HỌC HỢP TÁC CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ

3.1. Thực nghiệm sư phạm

3.1.1. Mục đích

3.1.2. Tiến hành thực hiện

3.1.3. Nội dung thực nghiệm

3.1.4. Phương pháp thực nghiệm

3.1.5. Lựa chọn các lớp thực nghiệm và đối chứng

3.1.6. Lựa chọn GV dạy các lớp thực nghiệm và đối chứng

3.1.7. Trao đổi với GV về phương pháp thực nghiệm

3.1.8. Thời gian thực nghiệm

3.1.9. Cách đánh giá kết quả học tập của học sinh

3.1.10. Kết quả thực nghiệm

3.1.10.1. Kết quả thống kê tổng hợp môn Văn 7 ở cả 3 trường
3.1.10.2. Kết quả thống kê tổng hợp môn Toán lớp 9 ở cả 3 trường
3.1.10.3. Kết quả thống kê tổng hợp môn Địa 9

3.2. Quan sát, đánh giá sự phát triển kỹ năng DHHT của GV

3.2.1. Nội dung quan sát

3.2.2. Tiến hành thực hiện quan sát

3.2.3. Địa điểm quan sát

3.2.4. Tiêu chí đánh giá kết quả quan sát

3.2.5. Kết quả tổng hợp

3.2.6. Nhận xét chung về quan sát, đánh giá kết quả phát triển kỹ năng DHHT

3.3. Hỏi ý kiến chuyên gia

3.3.1. Đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp phát triển kỹ năng DHHT

3.3.1.1. Mục đích
3.3.1.2. Nội dung và phương pháp tiến hành
3.3.1.3. Kết quả

3.3.2. Đánh giá việc phát triển kỹ năng DHHT của GV THCS (Sau khi dự lớp bồi dưỡng)

3.3.2.1. Mục đích
3.3.2.2. Nội dung và phương pháp
3.3.2.3. Kết quả

3.4. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên trung học cơ sở

Phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên trung học cơ sở (THCS) là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Việc áp dụng dạy học hợp tác không chỉ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn phát triển năng lực xã hội cho học sinh. Nghiên cứu này sẽ đi sâu vào các khía cạnh lý luận và thực tiễn của việc phát triển kỹ năng này.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của dạy học hợp tác

Dạy học hợp tác là phương pháp giảng dạy mà trong đó học sinh làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu học tập chung. Phương pháp này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng xã hội mà còn nâng cao khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề. Theo nghiên cứu của John Dewey, việc học tập trong môi trường hợp tác sẽ tạo ra sự hứng thú và động lực cho học sinh.

1.2. Lý do cần phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên

Giáo viên cần có kỹ năng dạy học hợp tác để có thể hướng dẫn học sinh một cách hiệu quả. Việc phát triển kỹ năng này giúp giáo viên tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia và tương tác. Nghiên cứu cho thấy rằng giáo viên có kỹ năng dạy học hợp tác sẽ nâng cao chất lượng giảng dạy và cải thiện kết quả học tập của học sinh.

II. Những thách thức trong việc phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên

Mặc dù việc phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên THCS mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng gặp phải không ít thách thức. Những thách thức này có thể đến từ cả phía giáo viên và học sinh, cũng như từ hệ thống giáo dục.

2.1. Khó khăn trong việc thay đổi phương pháp giảng dạy

Nhiều giáo viên vẫn còn quen với phương pháp giảng dạy truyền thống, dẫn đến việc khó khăn trong việc áp dụng dạy học hợp tác. Sự thiếu hụt về đào tạo và bồi dưỡng cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến giáo viên không thể phát triển kỹ năng này.

2.2. Sự thiếu hụt về tài liệu và nguồn lực hỗ trợ

Việc thiếu tài liệu hướng dẫn và nguồn lực hỗ trợ cho giáo viên trong quá trình áp dụng dạy học hợp tác cũng là một thách thức lớn. Nhiều giáo viên không biết cách thiết kế bài học hợp tác hiệu quả, dẫn đến việc không đạt được mục tiêu học tập.

III. Phương pháp phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên trung học cơ sở

Để phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên THCS, cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Những phương pháp này không chỉ giúp giáo viên nâng cao kỹ năng mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực cho học sinh.

3.1. Tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn

Các khóa bồi dưỡng chuyên môn về dạy học hợp tác cần được tổ chức thường xuyên để giáo viên có cơ hội học hỏi và thực hành. Những khóa học này nên bao gồm các nội dung về lý thuyết và thực hành, giúp giáo viên áp dụng vào thực tế giảng dạy.

3.2. Tạo cơ hội cho giáo viên chia sẻ kinh nghiệm

Việc tạo ra các diễn đàn hoặc nhóm thảo luận cho giáo viên để chia sẻ kinh nghiệm về dạy học hợp tác sẽ giúp họ học hỏi lẫn nhau. Những buổi chia sẻ này có thể giúp giáo viên tìm ra những phương pháp giảng dạy hiệu quả và sáng tạo hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về kỹ năng dạy học hợp tác

Việc áp dụng kỹ năng dạy học hợp tác trong thực tiễn đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Nghiên cứu cho thấy rằng học sinh tham gia vào các hoạt động học tập hợp tác có kết quả học tập tốt hơn và phát triển kỹ năng xã hội tốt hơn.

4.1. Kết quả từ các trường hợp thực nghiệm

Các trường hợp thực nghiệm tại một số trường THCS cho thấy rằng việc áp dụng dạy học hợp tác đã giúp nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Học sinh không chỉ cải thiện điểm số mà còn phát triển kỹ năng làm việc nhóm và giao tiếp.

4.2. Phản hồi từ giáo viên và học sinh

Phản hồi từ giáo viên và học sinh về việc áp dụng dạy học hợp tác cho thấy sự hài lòng cao. Giáo viên cảm thấy tự tin hơn trong việc giảng dạy, trong khi học sinh cảm thấy hứng thú và tích cực hơn trong việc học.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho kỹ năng dạy học hợp tác

Việc phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên THCS là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách. Để đạt được hiệu quả cao, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý giáo dục và sự tham gia tích cực của giáo viên.

5.1. Đề xuất các biện pháp hỗ trợ giáo viên

Cần có các biện pháp hỗ trợ giáo viên trong việc phát triển kỹ năng dạy học hợp tác, bao gồm việc cung cấp tài liệu, tổ chức các khóa bồi dưỡng và tạo cơ hội cho giáo viên chia sẻ kinh nghiệm.

5.2. Tương lai của dạy học hợp tác trong giáo dục

Dạy học hợp tác sẽ tiếp tục là một xu hướng quan trọng trong giáo dục. Việc phát triển kỹ năng này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn góp phần vào sự phát triển toàn diện của học sinh.

23/07/2025
Luận án thạc sĩ phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên trung học cơ sở

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG DẠY HỌC HỢP TÁC CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG DẠY HỌC HỢP TÁC Tổng quan vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài Nghiên cứu ở nước ngoài Từ thế kỷ XVIII, lý thuyết về học tập hợp tác (HTHT) đã thực hiện khá phổ biến ở các nước tư bản. Thời kỳ này có Joseph Lancaster và Andrew Bell đã thực nghiệm và triển khai rộng rãi việc HTHT nhóm ở Anh quốc và vào khoảng cuối thế kỷ XIX ở Mỹ đã đề cao HTHT, điển hình có Fancis Parker, hiệu trưởng một trường công ở bang Massachusetts đã đưa ra các quan niệm nhằm biện hộ cho lý thuyết HTHT, phản đối kiểu học tập cạnh tranh mang màu sắc của xã hội tư bản. Theo Fancis Parker nếu quá trình học tập được thực hiện trên tinh thần chia sẻ nhóm, lớp với cả tình cảm và trí tuệ thì việc học sẽ không bao giờ bị nhàm chán; niềm vui lớn nhất của HS là cùng nhau chia sẻ thành quả học tập với các bạn trong tương tác học tập với tinh thần giúp đỡ lẫn nhau [103]. Tiếp tục Parker, John Dewey đã viết một cuốn sách có tựa đề “Nền Dân chủ và Giáo dục” Ông cho rằng con người có bản chất sống hợp tác, trẻ cần được dạy biết cảm thông, tôn trọng quyền của người khác, làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề theo lẻ phải và cần được trải nghiệm quá trình sống hợp tác ngay từ trong nhà trường.

Ông cũng cho rằng cuộc sống ở lớp học phải là hiện thân của dân chủ, không chỉ trong việc HS tự do lựa chọn cách học và thực hiện các dự án học tập cùng nhau mà còn cả trong việc HS học cách quan hệ với người khác [113]. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như Devries. ở trung tâm tổ chức xã hội, các trường học đã kết hợp học hợp tác nhóm (HHT N) tranh đua giữa các nhóm và các trò chơi học tập vận dụng vào thực tiễn hoạt động trong lớp học; E. Cohen đã xây dựng một phương pháp HTHT dựa trên những lý thuyết, những phát biểu mong đợi.

Glasser đã nghiên cứu thúc đẩy việc sử dụng các mối quan hệ hợp tác giữa HS với nhau. Những nghiên cứu trên cũng như các công trình khác của các nhà nghiên cứu giáo dục, khoa học xã hội ở Mỹ, Canada… đã đi tiên phong trong việc nghiên cứu và triển khai các bài học, chương trình, chiến lược và kỹ năng DHHT [113]. 7 Albert Bandura đưa ra lý thuyết học tập mang tính xã hội: “Sự làm việc đồng đội”. Lý thuyết này được xây dựng trên nguyên tắc phổ biến: HS nỗ lực thực hiện những nhiệm vụ thì sẽ được khen thưởng, còn nếu không hoàn thành sẽ không được khen hoặc bị chê.

Tư tưởng chính của thuyết này là khi các cá nhân làm việc cùng nhau hướng tới mục tiêu chung thì sự phụ thuộc lẫn nhau sẽ thúc đẩy họ hoạt động tích cực hơn, qua đó giúp nhóm và chính bản thân mình đạt đến kết quả học tập mong muốn [95]. Jean Piaget với học thuyết “Sự giải quyết mâu thuẫn” cho rằng, để thúc đầy sự phát triển trí tuệ cho HS, GV sắp đặt từng cặp HS có quan điểm đối lập với nhau về cách giải quyết vấn đề thành một nhóm và yêu cầu từng cặp hai em này hoạt động cùng nhau cho đến khi nhất trí hoặc có câu trả lời chung thì khi đó mới đi đến kết luận về bài học. Sau khi các em thống nhất, GV kiểm tra riêng từng em và luôn thấy rằng những em lúc đầu còn kém cỏi về một vấn đề nào đó thì bây giờ có thể tự mình giải quyết một cách đúng đắn, không khác với cách giải quyết của bạn mình [81]. Các tác giả Palincsar và Brown xây dựng và phát triển phương pháp dạy lẫn nhau.

Theo phương pháp này, HS và GV thay phiên nhau đóng vai trò người dạy sau khi cùng nghiên cứu tài liệu học tập. GV làm mẫu đưa ra cách thức và các vấn đề, đặt các câu hỏi, cách tóm tắt, cách phân tích làm sáng tỏ vấn đề… HS học cách làm của GV và áp dụng vào trong nhóm học tập của mình. Các thành viên khác của nhóm tham gia thảo luận nêu ra các câu hỏi, trả lời, bình luận, tìm kiếm những từ ngữ chính xác, thích hợp, khái quát và rút ra những kết luận. Vai trò của từng thành viên được luân phiên thay đổi [114].

Vào những năm 1980 trở lại đây, việc nghiên cứu về DHHT đã được tiếp tục đẩy mạnh ở các nước Tây Âu. Các nghiên cứu này hướng vào xây dựng mô hình và chiến lược dạy học theo nhóm hợp tác một cách có hiệu quả. Chúng ta có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như Brown và Palincsar năm 1989 [114], Rosenshine, Meister năm 1994 [123], Slavin năm 1990 [125] và Renkl năm 1995 [122]. Các Ông cho rằng DHHT tạo lập và cải thiện những mối quan hệ xã hội giữa các thành viên, với những đặc thù xã hội và phẩm chất cá nhân.

Raja Roy Singh, nhà giáo dục của Ấn Độ trong cuốn sách “Nền giáo dục cho thế kỷ XXI: Những triển vọng của Châu Á - Thái Bình Dương”, tác giả đã đề cập tới nhiều nội dung cho giáo dục thế kỷ XXI, song vấn đề cần tập trung hơn cả về giáo dục con người là hình thành cho họ năng lực sáng tạo, có kỹ năng hợp tác chung sống với người khác, biết gắn bó con người với xã hội trong thế giới toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu rộng. Theo ông một trong những PPDH đạt tới mục tiêu trên, đó là mô hình DHHT, học tập từ bạn bè, từ cộng đồng, từ lao động và các hoạt động xã hội. Ông 8 còn cho rằng “Sự hoàn thiện của hoạt động học là sự chia sẻ, người ta càng học càng khát khao được chia sẻ… Học để đạt tới sự chắc chắn là để chuẩn bị cho sự chia sẻ” [84]. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tập thể luôn được xem là môi trường để thực hiện mục tiêu giáo dục con người phát triển toàn diện.

Mác khẳng định: “Chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có được những phương tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và do đó, chỉ có trong cộng đồng mới có tự do cá nhân” [10]. Bằng việc đánh giá cao vai trò của tập thể, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, giáo dục con người trong tập thể là một nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Dựa trên quan điểm Mác - Lê Nin về giáo dục, nhiều nhà khoa học ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây đã đi sâu nghiên cứu về DHHT và áp dụng thành công trong thực tiễn giáo dục. Trước tiên có thể kể tới công trình nghiên cứu của Vưgôtsky.

Theo Ông, mọi chức năng tâm lý cao cấp đều có nguồn gốc xã hội và xuất hiện trước hết ở cấp độ liên cá nhân, trước khi được chuyển vào trong và tồn tại ở cấp độ nội cá nhân. Ông cho rằng “Trong sự phát triển của trẻ, mọi chức năng tâm lý cao cấp đều xuất hiện hai lần, lần thứ nhất như là một hoạt động tập thể, một hoạt động xã hội, nghĩa là như một chức năng liên tâm lý; lần thứ hai như là một hoạt động cá nhân, như là một chức năng tâm lý bên trong”. Vưgôtsky đã đưa ra khái niệm xây dựng lý thuyết về vùng phát triển gần, theo đó dạy học chỉ có hiệu quả về vùng phát triển khi tác động của nó nằm ở vùng phát triển gần của HS. Phải làm sao kích thích và làm thức tỉnh quá trình chuyển vào trong và hoạt động bên trong của đứa trẻ và những quá trình như vậy chỉ diễn ra trong phạm vi mối quan hệ với người xung quanh và sự hợp tác với bạn bè.

Các quá trình hướng nội này sẽ tạo nên những kết quả bên trong của bản thân trẻ. "Điều trẻ em cùng với nhau hôm nay, chúng sẽ tự làm được vào ngày mai". Quan điểm của Vưgôtsky đã chỉ ra sự cần thiết của mối quan hệ tương tác giữa người học với môi trường, giữa người học với nhau [129]. Dạy học nêu vấn đề theo hình thức hợp tác nhóm cũng được tiến hành nghiên cứu với qui mô lớn ở Ba Lan vào những năm 1950-1960 với các công trình nghiên cứu của Bozdanxky, Rot, Kupixevich, Palatopxky… các tác giả đều khẳng định: Dạy học nêu vấn đề theo hình thức hợp tác nhóm có hiệu quả hơn hẳn so với dạy học nêu vấn đề ở lớp hoặc theo cá nhân.

Trong cuốn chuyên khảo “Dạy học nêu vần đề” Ôkôn, V. đã tiến hành tổng kết các hình thức và các giai đoạn dạy học theo nhóm, mặt khác cũng chỉ rõ việc tổ chức DHHT nhóm sẽ được diễn ra như thế nào trong hoàn cảnh cụ thể tương ứng với mục đích môn học, tiết học và vào tài nghệ sư phạm của GV [76]. 9 Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam với truyền thống hiếu học và đoàn kết dân tộc, tinh thần học tập hợp tác truyền thụ tri thức, kinh nghiệm của người đi trước cho thế hệ sau đã thể hiện bằng nhiều hình thức linh hoạt và sau này phát triển thành các phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, học cùng nhau, học bạn, học nhóm. Vào những năm 1960, chiến tranh diễn ra ác liệt nhưng việc nghiên cứu khoa học giáo dục cũng được quan tâm nhằm tìm ra các giải pháp phát huy tính tích cực, chủ động học tập của HS.

Khẩu hiệu “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” cũng đã đi vào các trường sư phạm từ thời điểm đó. Nhưng phải đến những năm 1980 vấn đề phát huy tính tích cực của HS mới trở thành một trong những phương hướng của cải cách giáo dục và được triển khai trong hoạt động thực tế ở các trường phổ thông. Tuy nhiên những chuyển biến trong giáo dục vẫn còn nhiều hạn chế. Song phải tới những năm cuối của thế kỷ XX, định hướng nầy mới thực sự có chuyển biến rõ rệt.

Nhiều tài liệu giáo dục và dạy học đề cập tới việc chuyển từ dạy học lấy GV làm trung tâm sang dạy học lấy HS làm trung tâm. Một trong những phương pháp được xếp vào các PPDH theo hướng lấy HS làm trung tâm có hiệu quả đó là phương pháp DHHT. Nhiều công trình nghiên cứu cũng như nhiều bài viết quan tâm tới PPDH mang tính hợp tác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ