CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUCÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Để có thể tiếp cận các công trình nghiên cứu trước đây được một cách toàn diện, có hệ thống và có tính tập trung cao, NCSsẽ căn cứ vào mục tiêu cần nghiên cứu của luận án để trình bày tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và tại Việt Nam theo hai nội dung: (i)các nghiên cứu về thu NSNN và thu NSNN bền vững; (ii) các nghiên cứu về cơ cấu thu NSNN. Với mỗi nội dung, các công trình nghiên cứu sẽ được sắp xếp theo trình tự thời gian, từ cũ đến mới, điều này giúp NCS có thể thấy rõ được các công trình nghiên cứu sau đã kế thừa và phát triển được những gì so với các công trình nghiên cứu trước đó. Từ đó, NCS có thể đưa ra các đánh giá, đồng thời tìm ra các khoảng trống để tiến hành thực hiện nghiên cứu.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Các nghiên cứu về thu NSNN và thu NSNNbền vững Thu ngân sách nhà nước đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Trong đó, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung nhiều vấn đề chính sách thuế và nguồn thu từ thuế do các nhà nghiên cứu mặc nhiên coi đây là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Tác phẩm kinh điển của nhà kinh tế học Adam Smith, “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của nhân loại”, đã đưa ra các nguyên tắc cơ bản để xây dựng một hệ thống thuế tối ưu là đánh thuế phải phù hợp với khả năng và sức lực của dân cư, mức thuế và thời hạn nộp thuế phải được xác định hợp lý, tối thiểu hóa chi phí nộp thuế.
Kế thừa, bổ sung và phát triển các nguyên tắc cơ bản xây dựng một hệ thống thuế tối ưu của Adam Smith, nghiên cứu của Diamond, P.A (1971), “Optimal taxation and Public production: Production efficiency and Tax rules – Đánh thuế tối ưu và sản xuất công cộng: Hiệu quả sản xuất và nguyên tắc của thuế” cho rằng mục tiêu của hệ thống thuế là tính hiệu quả, công bằng và đơn giản. Tính công bằng của thuế sẽ đạt được nếu thuế thu nhập và thuế tiêu dùng không gây ra tình trạng lệch lạc trong phân bổ nguồn lực. Hệ thống thuế tối ưu được đề xuất phải phụ thuộc 8 vào thuế đánh vào thu nhập là chủ yếu. Liên quan đến hiệu quả sản xuất của nền kinh tế, tác giả nhấn mạnh rẳng thuế đánh trên hàng hóa trung gian và thương mại quốc tế là không hợp lí vì nó làm biến dạng giá cả.
Tuy nhiên, trong thực tiễn cải cách thuế, mô hình thuế tối ưu chưa thực sự hữu dụng, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển, bởi sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng của chính sách thuế. Sự hạn chế trong trình độ phát triển kinh tế là rào cản lớn nhất đối với thiết kế mô hình thuế tối ưu. Nghiên cứu của Rao, M. (2005), “Tax system reform in India: Achivements and challenges ahead – Cải cách hệ thống thuế tại Ấn Độ, những thành tựu và thách thức phía trước”cho rằng hệ thống thuế phải là sự cân bằng giữa hiệu quả, phân phối và năng lực quản lí.
Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần tập trung vào kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất để giảm thiểu các biến dạng thị trường do thuế gây ra, cải thiện hiệu lực hiệu quả của bộ máy thu ngân sách và nỗ lực ngăn ngừa việc trốn và tránh thuế. Cải cách thuế phải được thiết lập nhằm giảm thiểu chi phí tuân thủ của người nộp thuế và chi phí quản lý của nhà nước. Theo tác giả, cải cách thuế tại các nước đang phát triển và ở Brazil nên hướng đến thiết lập một hệ thống thuế quan thống nhất và thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) nên dựa trên cơ sở thuế rộng hơn. Đồng thời, nghiên cứu cho rằng nên thu hẹp vai trò của nhà nước, nghĩa là thu hẹp quy mô chi tiêu ngân sách, bằng cách giảm thuế suất, nhất là thuế trực thu để tối thiểu hóa các tác động tiêu cực đến tiết kiệm và đầu tư.
Do đó, cải cách thuế nên tối thiểu hóa các trưởng hợp miễn giảm thuế để mở rộng cơ sở thuế và nhấn mạnh thu hẹp sự phân biệt thuế suất để cải thiện sự tuân thủ thuế và động lực đầu tư cũng như tiết kiệm. Một trong những mục tiêu quan trọng nhất cho cải cách thuế tại các nước đang phát triển là hướng tới một hệ thống thuế đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và bảo đảm tính cạnh tranh quốc tế. Nghiên cứu của Gupta A. (2007), “Determinants of Tax Revenue Efforts in Developing Countries – Các nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu từ thuế tại các nước đang phát triển” thực hiện phân tích hồi quy tỷ trọng thu ngân sách so với GDP của 105 quốc gia đang phát triển trong 25 năm 1980 - 2004 với mục tiêu tìm ra những nhân tố chính dẫn đến sự khác biệt về tỷ trọng thu ngân sách giữa các nước.
Tác giả phân chia 105 quốc gia thành 3 nhóm bao gồm: các quốc gia thu nhập thấp (bao gồm Việt Nam), các quốc gia thu nhập trung bình và các quốc gia thu nhập cao. Kết quả 9 nghiên cứu cho thấy, những yếu tố như GDP bình quân đầu người, cơ cấu ngành kinh tế, độ mở thương mại, vốn đầu tư nước ngoài, sự ổn định của chính sách, sự ổn định kinh tế vĩ mô, chỉ số minh bạch và tham nhũng là những nhân tố quan trọng nhất. Trong đó, vốn đầu tư nước ngoài, tham nhũng, sự ổn định chính sách có nhiều tác động tại các nước thu nhập thấp, nhưng không có nhiều ảnh hưởng với các nước thu nhập cao. Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên hệ giữa cơ cấu thuế với tổng thu từ thuế.
Các quốc gia có tỷ trọng thuế thu gián thu cao hơn thường có doanh thu thuế thấp hơn, ngược lại, các quốc gia chú trọng tới thuế trực thu có doanh thu thuế cao hơn. Kết quả này được khẳng định bởi rất nhiều chỉ số cụ thể được chỉ ra từ phân tích mô hình hồi quy được đề xuất. Nghiên cứu của Ajaz và Ahmeh (2010), “Effect of Corruption and Governance on Tax Revenues - Ảnh hưởng của tham nhũng và quản trị đến doanh thu thuế” đã nghiên cứu tác động của tham nhũng và quản trị đến nguồn thu thuế ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng gồm 25 nước, giai đoạn 1990-2005.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ trọng ngành công nghiệp và quản trị tác động cùng chiều đến tổng số thu thuế; thu nhập bình quân đầu người và tham nhũng tác động ngược chiều đến tổng số thu thuế; tỷ trọng ngành nông nghiệp, độ mở thương mại và lạm phát không tác động đến tổng số thu thuế. Kho bạc New Zealand (2013), “The role of tax in maintaining a sustainable fiscal position – Vai trò của thuế trong duy trì trạng thái tài khóa bền vững”. Nghiên cứu đưa ra những vai trò chủ yếu của thuế trong việc duy trì sự bền vững tài chính, từ đó, phân tích một hệ thống các tiêu chí mà cải cách thu ngân sách trong tương lai cần đạt được. Đó là nâng cao hiệu quả kinh tế, bình đẳng trong phân phối, ổn định kinh tế vĩ mô và thu ngân sách bền vững.
Duy trì một nguồn thu mạnh mẽ là yếu tố quan trọng để đảm bảo một nền tài chính công bền vững. Thuế thu nhập và thuế tiêu dùng ở New Zealand được coi là những sắc thuế hiệu quả nhất trên thế giới bởi mang lại nguồn thu lớn cho quốc gia với mức thuế suất khiêm tốn. Nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ một thay đổi trong một sắc thuế cụ thể sẽ có ảnh hưởng lan rộng đến cả hệ thống thuế. Bởi vậy mọi cải cách thuế phải luôn thận trọng.
Nghiên cứu đưa ra những gợi ý chính sách cho Chính phủ New Zealand nhằm nâng cao số thu từ thuế để đáp ứng những thách thức tài chính trong tương lai. 10 Nghiên cứu về vai trò của thu ngân sáchbền vững còn có thể kể đến các tác giả Fakile và Adeniran Samuel(2014),“Government budget revenue for sustainable development in Africa – Thu ngân sách của chính phủ với mục tiêu phát triển bền vững ở Nam Phi”. Nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của thu ngân sách đối với đầu tư phát triển, giảm nghèo và cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng. Thu ngân sách giúp cho nhà nước tự chủ về tài chính và hạn chế việc vay nợ từ bên ngoài.
Nghiên cứu này khẳng định rằng thu ngân sách là chìa khóa để phát triển bền vững về kinh tế, tạo điều kiện cho đầu tư cơ sở hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã hội. Nghiên cứu cũng chỉ ra những khó khăn và thách thức đối với thu ngân sách ở Nam Phi và đưa ra một số giải pháp để thiết kế hệ thống quản lý thu ngân sách hiệu quả góp phần tăng thu ngân sách, tái tập trung chi tiêu công và phát triển kinh tế bền vững. Nghiên cứu của Gregory De Paepe và Ben Dickinson (2014), “Tax revenues as a motor for sustainable development – Thu từ thuế là một động cơ cho sự phát triển bền vững”đã khẳng định vai trò của thu thuế trong đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo và cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, trong khi ở các nước OECD (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế) thu thuế chiếm trung bình 34% tổng sản phẩm trong nước (GDP), các nước đang phát triển chỉ đạt được một nửa tỉ lệ này.
Nghiên cứu phản ánh tiềm năng của các nước đang phát triển trong tăng thu từ thuế và chỉ ra những hạn chế trong hệ thống thuế của các nước này, ví dụ như chính quyền còn yếu kém trong quản lý, vấn nạn tham nhũng, kỷ luật tài chính và chấp hành ngân sách yếu kém, khó khăn trong việc thu thuế từ các doanh nghiệp đa quốc gia. Từ nhận định những khó khăn này, nghiên cứu đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu ngân sách từ thuế hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.