Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nhóm công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Bản sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lõi, nội dung, bản chất của một nền VH cụ thể nào đó, là những nét VH riêng có của nền VH một dân tộc. Những nét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị VH vật chất và tinh thần, vật thể và phi vật thể, nó là phần tinh túy, thấm sâu trong tâm hồn, cốt cách, bản lĩnh của mỗi dân tộc. Ở Việt Nam, khi bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, đề tài bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, các tổ chức chính trị, xã hội, VH và khoa học trên cả nước.
Cho đến hiện nay, nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đề tài này đã được công bố. Có thể khái quát các công trình tiêu biểu trong số đó theo các chủ đề chính như sau: 1. Các công trình bàn về bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Về chủ đề này, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: Cuốn sách “Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc” [10] của tác giả Huy Cận đề cập cộng đồng người Việt Nam trong quá trình lịch sử của mình đã tạo ra những giá trị VH tư tưởng nuôi dưỡng tâm linh, tình cảm cho mỗi con người. Đó là những giá trị truyền thống được coi là hạt nhân căn bản của VH dân tộc, là chất keo kết dính mỗi thành viên cộng đồng trong khối đại đoàn kết.
Cuốn sách “Văn hóa - tiếp cận từ vấn đề và hiện tượng” [77] của tác giả Nguyễn Tri Nguyên đã khái quát chung về VH, theo đó tác giả đã phân tích khái niệm VH hiểu theo truyền thống phương Đông và theo truyền thống phương Tây, tác giả nhấn mạnh, mọi cuộc cách tân VH chân chính đều phải cắm gốc rễ rất sâu vào quá khứ, không có truyền thống lớn sẽ không thể có cách tân VH lớn. Bên cạnh đó, tác giả phân tích khái niệm BSVHDT, khẳng định BSVHDT là điều kiện để đổi mới VH, VH là hạt nhân của bản sắc dân tộc. Những phân tích, nhận định trong công trình nghiên 11 cứu này đã giúp nghiên cứu sinh có một cái nhìn tổng thể hơn về nội hàm và các cách tiếp cận khác nhau về khái niệm VH, BSVHDT. Cuốn sách “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” [100] của Trần Ngọc Thêm bao gồm 6 chương có bàn đến rất nhiều nội dung phong phú như: Cơ sở lý luận cho cách nhìn hệ thống - Loại hình về văn hóa Việt Nam; văn hóa nhận thức; văn hóa tổ chức cộng đồng: đời sống tập thể; văn hóa tổ chức cộng đồng: đời sống cá nhân; văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.
Trong phần cuối của cuốn sách, thay lời kết, tác giả phân tích VH Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, trong đó, tác giả chỉ rõ VH Việt Nam cổ truyền đứng trước công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Cùng với sự hội nhập, mở cửa, hợp tác, phát triển của đất nước, VH truyền thống của Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, chúng có sự thâm nhập tương đối lớn đối với sự phát triển của VH. Bên cạnh những yếu tố tích cực của VH truyền thống người Việt, như: tính linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình hội nhập, phát triển; thì những mặt khó khăn trong VH truyền thống của con người Việt Nam là: bệnh tùy tiện, bệnh làm ăn kiểu sản xuất nhỏ, bệnh gia đình chủ nghĩa, bệnh đố kị luôn song hành. Qua đó, tác giả đã chỉ rõ những yếu tố mà con người có thể điều chỉnh với những điều kiện phù hợp trong quá trình phát triển của đất nước.
Từ đó, vấn đề đặt ra là giữa cái hay và cái dở, cái được và cái mất trong kinh tế thị trường là bài toán tối ưu giữa hai nhiệm vụ: nâng cao đời sống và phát triển kinh tế đi đôi với bảo tồn và phát triển VH dân tộc. Cuốn sách “Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận” [111] của tác giả Lê Ngọc Trà là tập hợp nhiều bài viết về VH, đặc trưng và BSVH Việt Nam của các nhà khoa học. Trong đó, có bài viết của Minh Chi “Khái niệm bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam”, tác giả cho rằng nói đến bản sắc dân tộc của VH Việt Nam tức là nói đến giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam. Những giá trị này không phải tự nhiên mà có được tạo thành dần dần và khẳng định trong lịch sử xây dựng, củng cố và phát triển của nhà nước, của dân tộc Việt Nam; hay “Về vấn đề đi tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” của Trần Đình Hượu, tác giả cho rằng đặc sắc dân tộc của VH làm cho mỗi dân tộc hiện ra với những nét độc đáo, phân biệt với các dân tộc khác; “Bản sắc văn hóa dân tộc - Những cơ sở lịch sử” của Dương Trung Quốc đã phân tích làm rõ khái niệm và đặc trưng của BSVHDT, đặc biệt tác giả xem xét những 12 yếu tố, những cơ sở lịch sử, địa lý tạo nên và phản ánh những đặc trưng VH hay BSVH của dân tộc Việt Nam.
Cuốn sách “Việt Nam văn hóa sử cương” [3] của Đào Duy Anh là công trình bàn về VH, BSVH. Theo tác giả: “Người ta thường cho rằng văn hóa là chỉ những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải như vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cũng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là trong phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: “Văn hóa tức là sinh hoạt” [3, tr.
Với quan niệm “văn hóa là sinh hoạt”, tác giả đã bao quát các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội và trí thức; do đó, tác giả đã tóm tắt, phác họa và minh định được ở chừng mực nào đó lược sử VH của người Việt như một dân tộc, một VH. Hơn thế, ông còn chỉ ra cả những biến đổi của VH Việt Nam giai đoạn Âu hóa, với sự rạn vỡ hoặc biến đổi của những giá trị cũ và sự lên ngôi của những giá trị mới. Cũng theo tác giả: Ta muốn trở nên một nước cường thịnh, vừa về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ VH cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng), mà lấy VH mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hòa tinh tuý của VH phương Đông với 11 những điều sở trường về khoa học và kỹ thuật của VH phương Tây. Cuốn sách “Bản sắc văn hóa Việt Nam” [71] của tác giả Phan Ngọc đã đưa ra quan điểm về VH, BSVH.
Theo Phan Ngọc: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác” [71, tr. Đồng thời, tác giả phân tích bề dày VH Việt Nam, BSVH Việt Nam trong giao lưu VH, nền tảng của giao lưu quốc tế. Ngoài ra, tác giả đã làm sáng tỏ cách phát huy VH trong cuộc tiếp xúc VH hiện nay và ưu thế VH Việt Nam trong nền kinh tế thị trường.
Trong đó, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khai thác bề dày VH để làm cho đất nước giàu có, cần có thế hệ tri thức quan tâm hơn đến VH và giữ gìn BSVH của dân tộc. Đây là 13 những nội dung quan trọng mà nghiên cứu sinh tiếp cận để làm rõ các khái niệm công cụ trong luận án. Tác giả Phạm Duy Đức trong cuốn “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 - Những vấn đề phương pháp luận” [31] - đây là một trong những kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài khoa học cấp nhà nước về Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Với hơn 300 trang, nội dung cuốn sách là những vấn đề được nghiên cứu trên cơ sở tổng kết thực tiễn 25 năm xây dựng và phát triển nền VH Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Từ việc nghiên cứu những vấn đề này, các tác giả phân tích, đánh giá thực trạng VH Việt Nam và thực trạng lãnh đạo, quản lý VH của Đảng và Nhà nước; chỉ rõ các mối quan hệ giữa VH và các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng VH chính trị; đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp có tính chất đột phá để phát triển nền VH dân tộc trong thập kỷ tới. Theo các tác giả, vấn đề nghiên cứu phát triển VH Việt Nam giai đoạn 2011-2020 phải đặt trên cơ sở phương pháp tiếp cận liên ngành, xác định rõ cơ sở kinh tế - chính trị xã hội, sự tác động của môi trường quốc tế và sự vận động nội tại của các nguồn lực VH dân tộc trong quá trình phát triển… Khái niệm phát triển VH là một khái niệm đa nghĩa bao gồm sự thay đổi VH theo xu thế tiến bộ, trước hết là ở những lĩnh vực cơ bản của đời sống VH dân tộc như phát triển con người, phát triển môi trường VH cùng với các lĩnh vực hoạt động VH cơ bản như giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, thông tin đại chúng; phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa và dịch vụ VH, bảo vệ và phát huy di sản VH; đảm bảo sự đa dạng VH giữa các dân tộc… Sự phát triển VH không phải là sự phát triển đơn tuyến mà là sự đa tuyến, đa dạng. Tác giả Hồ Bá Thâm trong cuốn “Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc” [95] là tập hợp, hệ thống hóa các bài nghiên cứu của tác giả về VH, nhận thức xây dựng nền VH nước ta trong bối cảnh mới hiện nay.