Tổng quan về luận án
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quá trình toàn cầu hóa đang tái định hình sâu sắc cấu trúc kinh tế - xã hội và đời sống tinh thần của mọi quốc gia. Tại Việt Nam, sự tương tác giữa các luồng giao lưu văn hóa quốc tế với nền tảng truyền thống bản địa đã tạo nên những biến chuyển phức tạp trong hệ giá trị tộc người. Luận án tiến sĩ triết học "Sự biến đổi của bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa" do nghiên cứu sinh Lê Quốc Tuấn thực hiện (chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 62 22 03 02, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đặng Thị Lan và PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2022) là một công trình tiên phong tiếp cận vấn đề biến đổi bản sắc văn hóa dân tộc dưới lăng kính triết học Mác - Lênin.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được luận án xác định xuất phát từ thực trạng: phần lớn các công trình trước đây của các tác giả như Ma Ngọc Dung (2004), Bế Văn Hậu (2012), hay Nguyễn Thị Nội (2017) chủ yếu tiếp cận văn hóa tộc người tại Thái Nguyên và vùng Đông Bắc dưới góc độ mô tả dân tộc học, nhân học hoặc xã hội học thuần túy về từng tập quán, ẩm thực, trang phục riêng lẻ. Chưa có một công trình nào phân tích có tính hệ thống ở cấp độ bản thể luận và nhận thức luận triết học về quy luật vận động biện chứng, cơ chế tiếp biến và mâu thuẫn nội tại của bản sắc văn hóa dân tộc trước các nhân tố tác động của toàn cầu hóa tại một địa bàn mang tính hỗn dung văn hóa đặc thù như Thái Nguyên.
Để giải quyết khoảng trống này, luận án xác lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Bản chất, cấu trúc và quy luật vận động biện chứng của bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa dưới góc độ chủ nghĩa duy vật lịch sử là gì?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực trạng biến đổi của bản sắc văn hóa ở các cộng đồng dân tộc thiểu số tiêu biểu tại Thái Nguyên đang diễn ra theo những chiều kích và xu hướng nào từ khi Đổi mới (1986) đến nay?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những mâu thuẫn biện chứng, nguyên nhân cốt lõi và hệ quả thực tiễn đặt ra từ sự biến đổi đó là gì, và cần xác lập hệ quan điểm, giải pháp nào để định hướng bảo tồn và phát triển?
- Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Bản sắc văn hóa dân tộc không phải là một hằng số bất biến mà là một hệ thống mở, biến đổi mang tính tất yếu khách quan thông qua quy luật phủ định của phủ định và sự tương tác giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
- Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Dưới tác động kép của công nghiệp hóa, đô thị hóa (đặc biệt là làn sóng FDI với các tập đoàn đa quốc gia như Samsung) và kinh tế thị trường, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên biến đổi phân cực: song song với việc tiếp thu cái mới và loại bỏ hủ tục là nguy cơ suy giảm tính đặc thù, bị "Kinh hóa" và "thương mại hóa tiêu cực".
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng vững chắc trên nền tảng triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, lý thuyết hệ giá trị của Ngô Đức Thịnh, lý thuyết hệ thống - loại hình văn hóa của Trần Ngọc Thêm, và quan niệm thao tác luận/độ khúc xạ văn hóa của Phan Ngọc. Về phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát không gian văn hóa tỉnh Thái Nguyên – trung tâm chính trị, kinh tế, giáo dục của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, nơi cư trú của 46 trên tổng số 54 thành phần dân tộc Việt Nam – với tiêu điểm là 3 dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn và tiêu biểu nhất: Tày, Nùng, và Sán Dìu trong khung thời gian từ năm 1986 đến năm 2022. Ý nghĩa đột phá của luận án là cung cấp cơ sở lý luận triết học và dữ liệu thực chứng chuẩn xác cho việc hoạch định chính sách dân tộc, văn hóa trong giai đoạn phát triển mới.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong luận án được phân tích mạch lạc thành ba dòng nghiên cứu (research streams) chính:
Dòng thứ nhất tập trung vào lý luận về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc. Đào Duy Anh (1938) trong Việt Nam văn hóa sử cương đã đặt nền móng với luận điểm tiến bộ: "Văn hóa tức là sinh hoạt" [3, tr. 14], bao hàm mọi phương diện hoạt động sống của con người. Phan Ngọc (1998) định nghĩa văn hóa thông qua mối quan hệ biểu tượng và hành vi: "Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng... biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người" [71, tr. 16]. Trần Ngọc Thêm (1996, 2016) xây dựng cấu trúc hệ giá trị văn hóa và đặc trưng loại hình; Hoàng Thị Hương (2010) mô hình hóa bản sắc qua cấu trúc 3 tầng diện (tầng sâu bản chất, tầng nấc tư duy/lối sống, và tầng bề mặt hình thức ngôn ngữ, trang phục, phong tục). Đinh Xuân Lâm và Bùi Đình Phong (2007) nhấn mạnh tính chất lịch sử - cụ thể: "Bản sắc văn hóa Việt Nam là tố chất được hợp luyện cùng chiều với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bản sắc đó không phải là một hằng số, là những giá trị bất biến, mà có những giá trị mới được hình thành, bồi tụ trong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn hóa" [60, tr. 32].
Dòng thứ hai khảo sát tác động hai mặt của toàn cầu hóa đối với văn hóa dân tộc. Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (2002), Thành Duy (2004), Phạm Duy Đức (2012), và Nguyễn Thế Nghĩa (2015) chỉ rõ toàn cầu hóa vừa mở rộng biên độ giao lưu, làm giàu bản sắc, vừa tạo ra nguy cơ "đồng nhất hóa văn hóa", làm xói mòn các giá trị truyền thống cốt lõi và gia tăng xung đột thang bậc giá trị.
Dòng thứ ba là các nghiên cứu trường hợp tại Thái Nguyên và vùng Đông Bắc. Các công trình của Ma Ngọc Dung (2004) về tập quán ẩm thực người Tày, Bế Văn Hậu (2012) về biến đổi văn hóa Tày tại Lạng Sơn, Nguyễn Thị Quế Loan (2003, 2007) về hôn nhân và ẩm thực người Sán Dìu, Nguyễn Anh Tuấn (2011) về tang ma người Nùng, Nguyễn Thị Nội (2017) về giá trị văn hóa người Tày đã miêu tả chi tiết các nét sinh hoạt tộc người.
Từ bức tranh tổng quan, luận án chỉ ra các cuộc tranh luận học thuật sâu sắc:
- Bản chất tĩnh hay động của bản sắc: Phái bản chất luận (Essentialism) nhìn nhận bản sắc như những di sản cố định cần bảo tồn nguyên trạng; ngược lại, phái cấu trúc luận lịch sử (Constructivism) xem bản sắc là một kiến tạo động liên tục biến đổi theo điều kiện kinh tế - xã hội. Luận án đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng, khẳng định bản sắc vừa có hạt nhân bền vững vừa liên tục tích hợp các giá trị mới.
- Đồng hóa văn hóa vs. Bản địa hóa: Trước nguy cơ "Tây phương hóa" hay "Kinh hóa", tranh luận đặt ra là các dân tộc thiểu số sẽ bị tan biến bản sắc hay tạo ra sự dung hợp sáng tạo.
Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế như lý thuyết Glocalization của Roland Robertson (1992) hay lý thuyết về các dòng chảy văn hóa (cultural flows / scapes) của Arjun Appadurai (1996), luận án đã định vị sự đóng góp của mình bằng cách làm sáng tỏ cơ chế tiếp biến văn hóa ở cấp độ vi mô (tộc người thiểu số) trong một quốc gia đang phát triển có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nơi quá trình toàn cầu hóa đan kết chặt chẽ với quá trình công nghiệp hóa địa phương.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án tạo ra những bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa nguyên lý triết học Mác - Lênin vào phân tích thực tiễn văn hóa tộc người:
- Phát triển quy luật biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong lĩnh vực văn hóa: Luận án chứng minh rằng sự chuyển đổi căn bản của phương thức sản xuất (từ kinh tế nương rẫy, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, kinh tế công nghiệp - dịch vụ và hội nhập chuỗi giá trị toàn cầu) là nguyên nhân sâu xa làm biến đổi ý thức tộc người, cấu trúc gia đình và thang bậc giá trị của đồng bào Tày, Nùng, Sán Dìu.
- Tái định nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc như một hệ thống động mở: Khắc phục quan điểm siêu hình xem bản sắc là thực thể bất biến, tác giả khẳng định: "BSVHDT không phải là cái ngưng đọng, bất biến mà luôn phát triển một cách biện chứng theo xu hướng tích lũy, thu nạp những điều tốt đẹp, tiến bộ, thải loại cái xấu, cái lạc hậu không phù hợp với thời đại".
- Xác lập hệ mệnh đề lý thuyết (Theoretical Propositions):
- Mệnh đề 1 (P1): Biến đổi bản sắc văn hóa dân tộc là quá trình phủ định biện chứng, trong đó sự phủ định các yếu tố lạc hậu là tiền đề tất yếu để kế thừa và phát triển các giá trị nhân văn cốt lõi.
- Mệnh đề 2 (P2): Toàn cầu hóa tạo ra tương tác đa chiều; mức độ bảo tồn hay mai một bản sắc phụ thuộc trực tiếp vào "bản lĩnh văn hóa" và năng lực tự ý thức của chủ thể tộc người.
- Mệnh đề 3 (P3): Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa không loại trừ nhau mà thống nhất biện chứng; sự phát triển kinh tế tạo nguồn lực vật chất cho bảo tồn, nhưng nếu phát triển tự phát sẽ dẫn đến sự "thương mại hóa tiêu cực" làm tha hóa bản sắc.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp nhuần nhuyễn 3 trụ cột lý thuyết: (1) Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C. Mác và Ph. Ăng-ghen; (2) Lý thuyết hệ giá trị và tiếp biến văn hóa của Ngô Đức Thịnh và Trần Ngọc Thêm; (3) Thao tác luận và khái niệm "độ khúc xạ văn hóa" của Phan Ngọc.
Điểm độc đáo của khung phân tích nằm ở sự phân đôi rành mạch nhưng không tách rời giữa hai bình diện: Văn hóa vật chất (nhà ở, trang phục, công cụ lao động, ẩm thực) và Văn hóa tinh thần (ngôn ngữ, chữ viết, văn học nghệ thuật dân gian, tín ngưỡng nông nghiệp, phong tục tang ma - cưới hỏi, lễ hội Then, Soọng cô, Sloong hao). Đồng thời, tác giả xác định rõ các điều kiện biên (boundary conditions): khung phân tích áp dụng đặc thù cho các cộng đồng dân tộc thiểu số cư trú xen cài với người Kinh tại các vùng chuyển tiếp kinh tế trung du miền núi, nơi đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa thần tốc.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
- Lập trường nhận thức luận và thế giới quan: Luận án quán triệt triệt để thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử. Hiện tượng biến đổi văn hóa được xem xét trong trạng thái vận động không ngừng, đặt trong mối liên hệ phổ biến với các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Thiết kế hỗn hợp liên ngành: Kết hợp phương pháp nghiên cứu triết học (trừu tượng hóa, khái quát hóa, quy nạp - diễn dịch, phân tích - tổng hợp, lịch sử - lôgíc) với các phương pháp chuyên ngành của Văn hóa học, Nhân học và Xã hội học.
- Cỡ mẫu và địa bàn: Nghiên cứu đi sâu vào thực tiễn tỉnh Thái Nguyên với 46/54 dân tộc, lấy mẫu trọng điểm tại các địa bàn có mật độ cư trú đậm đặc của 3 dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu như các huyện Định Hóa, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Lương và thị xã Phổ Yên.
Quy trình nghiên cứu rigorous
- Chiến lược chọn mẫu định tính chuyên sâu (Purposive Sampling): Nghiên cứu sinh đã thiết lập danh sách và thực hiện phỏng vấn sâu trực tiếp 24 người đại diện cho đầy đủ các cấu trúc xã hội - thế hệ trong cộng đồng dân tộc thiểu số:
- Chủ thể tâm linh và tri thức dân gian: Thầy mo, nghệ nhân Then, người nắm giữ làn điệu Soọng cô.
- Chủ thể quản lý và lãnh đạo cộng đồng: Trưởng bản, già làng, cán bộ văn hóa cấp xã/huyện.
- Các tầng lớp xã hội đương đại: Nông dân, công nhân tại các khu công nghiệp tập trung (KCN Yên Bình, Điềm Thụy), giáo viên, học sinh, sinh viên các trường đại học/cao đẳng tại Thái Nguyên.
- Quy trình thu thập và tam giác hóa dữ liệu (Triangulation):
- Data Triangulation: Kết hợp tài liệu thứ cấp (báo cáo thống kê của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Nguyên, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Niên giám thống kê qua các mốc 1986, 2000, 2010, 2020) với dữ liệu điền dã sơ cấp.
- Methodological Triangulation: Đan cài phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản, phương pháp điền dã dân tộc học, quan sát tham dự (participant observation) tại các lễ hội Lồng tồng, lễ cưới, đám tang và phỏng vấn bán cấu trúc.
- Độ tin cậy và giá trị khoa học (Validity & Reliability): Tính giá trị nội dung và giá trị cấu trúc được đảm bảo nhờ việc đối chiếu chéo các phản ánh của người dân với dữ liệu quản lý văn hóa; các biên bản phỏng vấn được mã hóa và xác thực thông tin theo phương pháp phân loại chủ đề logic.
Data và phân tích
Dữ liệu định tính được phân tích theo phương pháp phân tích chủ đề (Thematic Analysis) và phân tích so sánh lịch sử. Tác giả tiến hành so sánh đối chiếu đa tầng:
- So sánh giữa các thời kỳ: Trước Đổi mới (trước 1986), giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa (sau 2000), và giai đoạn toàn cầu hóa sâu rộng gắn với làn sóng đầu tư FDI (2010 - 2022).
- So sánh liên tộc người: Đánh giá sự tương đồng và khác biệt trong tốc độ và mức độ biến đổi bản sắc giữa người Tày (tiếp biến nhanh nhất), người Nùng (giữ gìn thiết chế dòng họ chặt chẽ) và người Sán Dìu (tập quán ẩm thực và hát Soọng cô có tính bảo lưu đặc thù).
- Kiểm tra tính vững (Robustness checks): Đối chiếu các phát hiện điền dã với các đề tài khoa học cấp bộ và luận án tiến sĩ cùng thời kỳ để loại trừ sai lệch do cảm tính cá nhân của người được phỏng vấn.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án đã đúc kết 4 nhóm phát hiện thực chứng đột phá, mang tính quy luật cao:
-
Sự xác lập đồng thời của 3 xu hướng biến đổi tích cực:
- Tiếp thu văn hóa hiện đại: Đồng bào nhanh chóng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tiếp cận truyền thông số, nâng cao dân trí, xây dựng nếp sống văn minh gia đình văn hóa, bình đẳng giới.
- Phủ định biện chứng các yếu tố lạc hậu: Từng bước xóa bỏ các hủ tục kéo dài ngày trong tang ma, tệ thách cưới tốn kém, mê tín dị đoan, kiêng cữ phản khoa học trong chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh (đặc biệt ở người Sán Dìu, Nùng).
- Bảo tồn, phục hồi di sản: Phục dựng thành công nhiều lễ hội truyền thống như Lễ hội Lồng tồng ATK Định Hóa, hát Then - đàn Tính của người Tày, Nùng (được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại), hát Soọng cô của người Sán Dìu.
-
Cảnh báo khoa học về 3 xu hướng biến đổi tiêu cực mang tính báo động:
- Suy giảm nghiêm trọng các yếu tố văn hóa vật thể truyền thống: Nhà sàn truyền thống bằng gỗ, mái cọ bị thay thế ồ ạt bằng nhà ống bê tông cốt thép; trang phục truyền thống bằng vải chàm tự dệt gần như biến mất trong đời sống thường nhật, chỉ còn xuất hiện mang tính "trình diễn" trong các ngày hội.
- Hiện tượng "Kinh hóa" áp đảo trong văn hóa tinh thần: Tỷ lệ trẻ em và thanh niên dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu không biết nói tiếng mẹ đẻ gia tăng nhanh chóng; tiếng Việt trở thành ngôn ngữ giao tiếp độc tôn trong gia đình; các làn điệu dân ca cổ truyền có nguy cơ thất truyền do lớp nghệ nhân cao tuổi qua đời mà không có thế hệ kế cận.
- Xu hướng "thương mại hóa tiêu cực" và biến dạng nghi lễ: Hiện tượng sân khấu hóa gượng gạo các nghi lễ thiêng, thương mại hóa lễ hội phục vụ du lịch đơn thuần, biến tướng các hoạt động tín ngưỡng tâm linh (như bói toán, giải hạn thu tiền) làm mất đi tính thuần khiết và thiêng liêng của văn hóa bản địa.
-
Phát hiện nghịch lý phát triển giữa tăng trưởng kinh tế và an ninh văn hóa:
Thái Nguyên thu hút dòng vốn FDI khổng lồ (điển hình là tổ hợp Samsung Electronics tại Phổ Yên), kéo theo hàng vạn lao động thanh niên dân tộc thiểu số rời bỏ làng bản vào làm việc trong các dây chuyền công nghiệp hiện đại. Quá trình này nâng cao thu nhập nhanh chóng nhưng lại làm đứt gãy không gian thực hành văn hóa truyền thống, đẩy nhanh quá trình đô thị hóa lối sống và tách rời cá nhân khỏi thiết chế cộng đồng làng bản.
Implications đa chiều
- Về mặt lý thuyết: Cung cấp mô hình phân tích toàn diện về cơ chế "Kinh hóa" và "thương mại hóa văn hóa" trong điều kiện kinh tế thị trường chuyển đổi, bổ sung luận cứ thực tiễn cho lý thuyết phát triển bền vững văn hóa ở các quốc gia đa dân tộc.
- Về mặt phương pháp luận: Chuẩn hóa quy trình khảo sát liên ngành triết học - nhân học văn hóa cho các nghiên cứu biến đổi xã hội ở cấp độ địa phương.
- Về mặt chính sách và thực tiễn: Luận án đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao:
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước: Rà soát, hoàn thiện quy hoạch bảo tồn văn hóa gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên.
- Thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc và giảm nghèo bền vững: Tạo dựng nền tảng kinh tế vững chắc để đồng bào có đủ nguồn lực tự thân giữ gìn bản sắc.
- Nâng cao năng lực chủ thể văn hóa của đồng bào: Đặt người dân bản địa (Tày, Nùng, Sán Dìu) vào vị trí trung tâm của mọi chương trình bảo tồn; tôn vinh, đãi ngộ thỏa đáng đối với các nghệ nhân dân gian, thầy then, thầy mo.
- Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn truyền thống và tiếp thu hiện đại: Thực hiện "bảo tồn động" (living heritage), đưa di sản văn hóa vào phát triển du lịch sinh thái - cộng đồng có kiểm soát.
- Đẩy mạnh tổng kiểm kê, sưu tầm, số hóa di sản: Ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng ngân hàng dữ liệu số về văn hóa vật thể và phi vật thể của 46 dân tộc Thái Nguyên.
- Ngăn chặn và chế tài nghiêm khắc các biểu hiện thương mại hóa tiêu cực: Thanh tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động lễ hội, bài trừ mê tín dị đoan và các ấn phẩm phi văn hóa.
Limitations và Future Research
Mặc dù đạt được những đóng góp học thuật xuất sắc, luận án thẳng thắn thừa nhận một số giới hạn nghiên cứu (limitations):
- Giới hạn phạm vi tộc người: Mới chỉ tập trung chuyên sâu vào 3 dân tộc (Tày, Nùng, Sán Dìu), chưa thể bao quát hết toàn bộ 46 thành phần dân tộc thiểu số khác tại Thái Nguyên như người Dao, H'Mông, Sán Chay, Hoa... vốn có những đặc thù biến đổi văn hóa rất riêng biệt.
- Giới hạn về phương pháp định lượng: Quy mô mẫu phỏng vấn sâu (24 người) mang tính đại diện về cấu trúc xã hội nhưng chưa kết hợp được khảo sát định lượng quy mô lớn (large-scale quantitative survey) để chạy các mô hình thống kê đa biến kiểm định trọng số tác động của từng nhân tố toàn cầu hóa.
- Giới hạn thời gian theo dõi: Dữ liệu phản ánh biến đổi đến năm 2022, chưa đánh giá hết các biến động văn hóa hậu đại dịch COVID-19 và sự trỗi dậy của không gian số/mạng xã hội (TikTok, YouTube) đối với giới trẻ vùng cao.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Mở rộng khung phân tích sang các nhóm dân tộc thiểu số vùng cao có nguy cơ tổn thương văn hóa cao hơn như H'Mông, Dao.
- Ứng dụng phương pháp định lượng nâng cao (Mô hình phương trình cấu trúc - SEM, Phân tích so sánh định tính - fsQCA) để đo lường định lượng các nhân tố thúc đẩy giữ gìn bản sắc văn hóa.
- Nghiên cứu sâu tác động của chuyển đổi số và không gian mạng đối với việc tái tạo bản sắc tộc người trong giới trẻ dân tộc thiểu số.
- Nghiên cứu so sánh xuyên vùng (Cross-regional comparison) giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc hoặc Tây Nguyên về mô hình thích ứng văn hóa trước làn sóng công nghiệp hóa FDI.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật (Academic Impact): Luận án là công trình tham khảo chuẩn mực cho các chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Triết học, Văn hóa học, Nhân học và Dân tộc học tại Đại học Quốc gia Hà Nội và các viện nghiên cứu trên toàn quốc. Cung cấp hệ thống luận cứ vững chắc, thúc đẩy các hướng nghiên cứu triết học văn hóa ứng dụng.
- Tác động chính sách và quản trị công (Policy Influence): Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên trong việc tổng kết Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, xây dựng các đề án bảo tồn văn hóa gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030.
- Chuyển đổi kinh tế - xã hội (Industry & Community Transformation): Định hướng cho ngành du lịch Thái Nguyên khai thác bền vững tài nguyên văn hóa các dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu tại các vùng chè Tân Cương, hồ Núi Cốc, ATK Định Hóa, tạo sinh kế bền vững và ngăn chặn sự đồng hóa văn hóa của cộng đồng địa phương.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận một mô hình nghiên cứu mẫu mực kết hợp giữa triết học hàn lâm và khảo cứu thực địa, giải quyết rõ ràng một khoảng trống khoa học cụ thể.
- Giảng viên đại học và nhà nghiên cứu lý luận: Có thêm tài liệu tham khảo giàu cứ liệu thực chứng phục vụ giảng dạy các chuyên đề Triết học văn hóa, Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.
- Cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa các huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên có được cẩm nang phân tích thực trạng và giải pháp chính sách khả thi.
- Cộng đồng cư dân bản địa Tày, Nùng, Sán Dìu: Được cất lên tiếng nói về những tâm tư, nguyện vọng bảo tồn di sản của cha ông trước sức ép của làn sóng công nghiệp hóa và đô thị hóa.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã phát triển lý thuyết cụ thể nào?
Trả lời: Đóng góp độc đáo nhất là luận án đã vận dụng sáng tạo quy luật phủ định của phủ định và nguyên lý mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử để luận giải bản sắc văn hóa dân tộc như một hệ thống mở, động và phi tuyến tính. Luận án đã vượt qua quan điểm bảo tồn tĩnh tại, giải chứng minh rằng biến đổi văn hóa là một tất yếu lịch sử, trong đó sự tự phủ định các yếu tố phản giá trị (hủ tục) là điều kiện tất yếu để khẳng định và thăng hoa các giá trị nhân văn cốt lõi của bản sắc dân tộc.
2. Đổi mới phương pháp luận của nghiên cứu được thể hiện như thế nào khi so sánh với các công trình trước đây?
Trả lời: So với các công trình của Bế Văn Hậu (2012) vốn thuần túy dùng xã hội học định lượng mô tả, hay Ma Ngọc Dung (2004) dùng dân tộc học miêu tả đơn tuyến, luận án của Lê Quốc Tuấn thực hiện bước đột phá về tam giác hóa phương pháp: kết hợp phương pháp phân tích bản chất triết học Mác - Lênin với phương pháp điền dã dân tộc học và phỏng vấn sâu 24 chủ thể đại diện cho toàn bộ các nhóm cấu trúc xã hội. Điều này giúp phát hiện không chỉ "hiện tượng" mà chỉ ra tận gốc "bản chất và quy luật" chi phối sự biến đổi văn hóa.
3. Phát hiện nào trong luận án mang tính bất ngờ và có ý nghĩa cảnh báo cao nhất?
Trả lời: Phát hiện bất ngờ nhất là hiện tượng "Kinh hóa" và sự đứt gãy truyền giao ngôn ngữ mẹ đẻ diễn ra với tốc độ nhanh nhất ở chính các vùng có kinh tế phát triển nhanh nhất (nơi có các khu công nghiệp FDI lớn tại Thái Nguyên như Phổ Yên, Sông Công). Sự giàu có lên về mặt thu nhập vật chất từ công nghiệp hóa ngắn hạn lại tỷ lệ nghịch với khả năng bảo lưu không gian văn hóa truyền thống, tạo ra nguy cơ "tha hóa văn hóa" và mất gốc bản sắc ở thế hệ trẻ nếu không có sự can thiệp thể chế kịp thời.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) rõ ràng không?
Trả lời: Có. Luận án xây dựng quy trình nghiên cứu 4 bước chặt chẽ: (1) Xác lập hệ tiêu chí cấu trúc bản sắc (Văn hóa vật chất vs. Văn hóa tinh thần); (2) Phân nhóm xu hướng phân cực (3 tích cực vs. 3 tiêu cực); (3) Khung câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc theo nhóm đối tượng chủ thể; (4) Khung đối chiếu chéo dữ liệu văn bản quản lý và dữ liệu điền dã thực địa. Quy trình này có thể tái lập hoàn toàn tại các tỉnh miền núi phía Bắc khác như Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang.
5. Luận án vạch ra chương trình nghiên cứu 10 năm tới như thế nào?
Trả lời: Luận án phác thảo định hướng nghiên cứu dài hạn: (1) Xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá sức khỏe bản sắc văn hóa tộc người (Cultural Identity Vitality Index); (2) Theo dõi dọc (Longitudinal tracking) sự biến đổi văn hóa của thế hệ công nhân người dân tộc thiểu số sau 10-15 năm làm việc tại các tập đoàn đa quốc gia; (3) Nghiên cứu tích hợp chuyển đổi số và công nghiệp văn hóa trong bảo tồn di sản tộc người.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Quốc Tuấn là một công trình khoa học công phu, nghiêm túc và có giá trị lý luận - thực tiễn sâu sắc, đánh dấu bước tiến mới trong nghiên cứu triết học văn hóa tại Việt Nam với 6 đóng góp cốt lõi:
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm nội hàm khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc và toàn cầu hóa dưới lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Xác lập bức tranh toàn cảnh, chân thực và khách quan về sự biến đổi của bản sắc văn hóa dân tộc tại Thái Nguyên (thông qua 3 tộc người tiêu biểu: Tày, Nùng, Sán Dìu) từ năm 1986 đến năm 2022.
- Phân loại chuẩn xác 6 xu hướng biến đổi cơ bản theo hai trục đối lập biện chứng: 3 xu hướng tích cực (tiếp thu cái mới, loại bỏ hủ tục, phục dựng di sản) và 3 xu hướng tiêu cực (suy giảm giá trị truyền thống, "Kinh hóa", thương mại hóa tiêu cực).
- Luận giải căn nguyên sâu xa của các biến đổi từ sự chuyển dịch của phương thức sản xuất, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và tác động của kinh tế thị trường, làn sóng đầu tư FDI.
- Đề xuất hệ thống 3 quan điểm chỉ đạo và 6 nhóm giải pháp thực tiễn có tính đồng bộ, đột phá nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và giữ gìn an ninh văn hóa.
- Mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành mới về chính sách văn hóa tộc người trong kỷ nguyên số hóa và toàn cầu hóa sâu rộng.