Chương 1 TOÀN CẦU HOÁ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC VỚI BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC 1. Toàn cầu hóa và thực chất của toàn cầu hóa 1. Khái niệm toàn cầu hoá Thuật ngữ toàn cầu hoá (globalization) xuất hiện lần đầu tiên trong Từ điển của Anh vào năm 1961 và nó được sử dụng phổ biến từ khoảng cuối thập niên 1980 trở lại đây. Toàn cầu hoá được hiểu theo cả quan niệm rộng và hẹp.
Theo quan niệm rộng thì nó như là một quá trình làm gia tăng mạnh mẽ các mối liên hệ gắn kết, tác động, phụ thuộc lẫn nhau; là việc mở rộng quy mô và cường độ hoạt động giữa các khu vực, các quốc gia trên phạm vi toàn cầu; là quá trình phổ biến hoá trên phạm vi toàn cầu những giá trị, hoạt động, mô hình. (kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Theo quan niệm hẹp thì toàn cầu hoá trước hết và chủ yếu là đề cập đến toàn cầu hoá kinh tế, đó là khái niệm chỉ hiện tượng hay quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng cường sự tương tác, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia. Như vậy, toàn cầu hóa hàm chỉ đặc điểm lịch sử của sự vận động nhân loại ngày nay, từ trạng thái các dân tộc, các quốc gia, các khu vực vốn có mối quan hệ lỏng lẻo và tương đối độc lập đến ràng buộc, tác động, quy định, phụ thuộc chặt chẽ với nhau trên tất cả các mặt của đời sống xã hội và trên phạm vi toàn cầu.
Trong đó liên kết kinh tế đóng vai trò quyết định. Về phương diện kinh tế, toàn cầu hoá là quá trình làm gia tăng các mối liên hệ, phụ thuộc giữa các quốc gia trên thế giới; về phương diện chính trị, toàn cầu hóa cũng đang tạo ra những tác động mới mà ở các thời đại trước không có, thế giới toàn cầu hóa nhạy cảm và dễ tổn thương hơn và cũng tạo ra những điều kiện hợp tác mới. Các quốc gia dù chế độ chính trị khác nhau 9 z nhưng đứng trước các vấn đề mang tính toàn cầu thì đều bắt tay nhau, hợp tác ở những mức độ nào đó. Để hội nhập có hiệu quả thì các quốc gia phải điều chỉnh ở mức độ nhất định đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật.
của mình để phù hợp với những quy định, những chuẩn mực chung của các thể chế kinh tế quốc tế và luật pháp quốc tế; về phương diện xã hội, toàn cầu hoá làm thay đổi các vấn đề xã hội như thất nghiệp, tệ nạn. và làm nảy sinh thêm các vấn đề mang tính toàn cầu; về phương diện văn hoá, tạo nên những biến đổi, đó là quá trình vận động của các nền văn hoá dân tộc từ những bộ phận tương đối tách biệt, khép kín đến hình thành những mối liên hệ, tác động qua lại, ảnh hưởng, xâm nhập, chi phối lẫn nhau. Là hiện tượng mang tính lịch sử - xã hội, toàn cầu hoá có nguồn gốc bắt nguồn từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về nguồn gốc khách quan, khi phân tích về quá trình quốc tế hoá sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Ăng-ghen đã vạch rõ: “Vì luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp toàn cầu.
Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi. Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính thế giới. Có nghĩa là bắt đầu từ sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất trong nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, cùng với sự thôi thúc của động cơ đạt lợi nhuận tối đa của chủ nghĩa tư bản, xu thế toàn cầu hoá đã xuất hiện. Khi xuất hiện, nó tác động trở lại làm cho lực lượng sản xuất trên thế giới nói chung có điều kiện phát triển mạnh mẽ.
Thực tế xã hội hiện nay đang tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của quan điểm trên của C.Ăng-ghen trong điều kiện mới. Có thể nói, về mặt khách quan, toàn cầu hoá được quy định bởi bốn yếu tố chủ yếu, đó là: Thứ nhất, là sự phát triển cao của lực lượng sản xuất trong thời đại của cách mạng khoa học - công nghệ. Với những thành tựu về công nghệ thông tin, phương tiện giao thông, thiết bị điện tử viễn thông. đã làm 10 z thu hẹp dần khoảng cách về không gian và thời gian, khiến cho mối liên hệ giữa các quốc gia ngày càng trở nên rộng mở; Thứ hai, sự gia tăng phân công lao động quốc tế đã tạo ra mối quan hệ quốc tế đa dạng, tồn tại đan xen, phụ thuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ; Thứ ba, sự phát triển sâu rộng của kinh tế thị trường trên phạm vi toàn thế giới.
Với cơ chế này đã làm cho nền kinh tế thế giới có xu hướng nhất thể hoá về thị trường và cơ chế vận hành; Thứ tư, sự xuất hiện những vấn đề nóng bỏng mang tính toàn cầu buộc phải có sự tham gia, phối hợp trí tuệ, nguồn lực và hành động của toàn thể cộng đồng quốc tế. Về nguồn gốc chủ quan, với ưu thế về vốn và công nghệ, các tập đoàn tư bản độc quyền, các nước tư bản phát triển, các trung tâm kinh tế, tài chính - tiền tệ và thương mại quốc tế. đã chủ động tác động, chi phối và áp đặt xu thế toàn cầu hoá vào khuôn khổ quá trình tự do hoá tư bản chủ nghĩa. Chiến lược và chính sách của các nước lớn, trong đó trước hết phải kể đến các nước lớn như Mỹ, Nhật, EU và hiện nay là sự nổi lên của Trung Quốc với tham vọng chi phối, áp đặt, định hình bức tranh toàn cầu.
Từ phương diện lịch sử, dù ý kiến của các nhà nghiên cứu có sự khác biệt không nhỏ, nhưng nếu coi quá trình quốc tế hóa là những yếu tố khởi đầu của toàn cầu hóa thì có thể coi những thập kỷ cuối thế kỷ XIX là thời điểm bắt đầu. Để mô tả mức độ tác động sâu, rộng của toàn cầu hóa, các học giả hình dung về một thế giới nhất thể hóa liên kết bởi năm mạng lưới cơ bản: làng thông tin toàn cầu; chợ văn hoá toàn cầu; siêu thị toàn cầu; trụ sở lao động toàn cầu; mạng lưới tài chính toàn cầu. Thực chất của toàn cầu hoá Toàn cầu hoá là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế ngày càng sâu, rộng. Bản chất khách quan của toàn cầu hoá được quy định bởi tính tất yếu khách quan của quá trình quốc tế hoá.Ăngghen đã viết: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế 11 z giới, thị trường mà việc tìm ra châu Mỹ đã chuẩn bị sẵn.
Thị trường thế giới thúc đẩy cho thương nghiệp, hàng hải, những phương tiện giao thông tiến bộ phát triển mau chóng lạ thường…” [21, tr. Đó chính là quá trình quốc tế hoá - giai đoạn trước của toàn cầu hoá. Trong thời đại ngày nay, do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, loài người bước vào nền kinh tế tri thức, lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá cao, phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng, quốc tế hoá nền kinh tế và cả đời sống xã hội. Từ đó thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển, đồng thời tạo ra những phương tiện có hiệu quả càng đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế và nội dung chủ yếu của nó vẫn là toàn cầu hoá kinh tế. Đó là sự gia tăng nhanh chóng hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực để vươn tới quy mô toàn cầu. Có thể nói đó là sự nhất thể hoá về thị trường, vốn, lao động, dịch vụ, công nghệ và các quy định pháp chế giữa các nước trên thế giới trên cơ sở hợp tác và phân công lao động quốc tế sâu rộng. Toàn cầu hoá về kinh tế là trung tâm, là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩy sự thay đổi của lĩnh vực khác như: văn hoá, xã hội, chính trị.
Bắt nguồn từ kinh tế, song nó chỉ ra đời khi nền kinh tế hàng hoá lớn đã phát triển mạnh, vì thế toàn cầu hoá xuất hiện trước tiên ở các nước tư bản, phát triển và cần phải nói rằng, cho đến hiện nay, các nước này vẫn đóng vai trò dẫn dắt, định dạng toàn cầu hóa. Do đó, toàn cầu hoá dù ra đời mang tính khách quan, nhưng bản thân nó xuất hiện lần đầu dưới chế độ tư bản chủ nghĩa nên không tránh khỏi việc bị các nước tư bản phát triển với lợi thế nền kinh tế lớn lợi dụng để phục vụ cho lợi ích riêng của họ.Mác cho rằng quá trình quốc tế hoá dù mang trong nó yếu tố khách quan, nhưng bên trong nó và thúc đẩy nó luôn là ý áp đặt chủ quan của những kẻ nắm các lực lượng kinh tế hùng hậu nhất. 12 z Thực tế cho thấy, các nước tư bản phát triển ở phương Tây và các nước lớn dù mới nổi đã luôn áp đặt chủ nghĩa bá quyền (nhờ lợi thế chi phối về kinh tế, tài chính, công nghệ hiện đại) bằng việc thi hành các chính sách, chiến lược có lợi cho các nước giàu. Hầu hết hệ thống pháp luật và quy chế kinh tế quốc tế hiện nay được xây dựng chủ yếu trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội của các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ.
Toàn cầu hoá có lực lượng chính là các tập đoàn xuyên quốc gia và các tổ chức tài chính lớn như IMF, WB. nhưng lực lượng này lại nằm trong tay các nước tư bản phát triển. Dựa vào sức mạnh kinh tế và mức đóng góp vốn khống chế ở các thiết chế tài chính, tiền tệ, các nước tư bản phát triển đang đặt ra “luật chơi” cho phần còn lại của thế giới khi tham gia IMF, WB, WTO. Trông có vẻ là một “sân chơi công bằng” nhưng ở đó “luật chơi” luôn luôn ưu ái cho những kẻ mạnh - những nước tư bản phát triển.
Ngoài ra, lợi dụng ưu thế về kinh tế, các nước này luôn tìm cách gây sức ép ở các lĩnh vực khác đối với các nước kém phát triển.