CHƯƠNG 1. ĐỘNG THÁI CỦA NHÀ NƯỚC - DÂN TỘC TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA 1. Động thái của nhà nước - dân tộc và những chuyển biến chính trị mang tính toàn cầu Quá trình toàn cầu hoá làm chuyển biến triệt để các nhà nước - dân tộc. Những biến đổi này, một mặt, phản ánh những động thái mang tính khách quan do tác động của bối cảnh thế giới, nhưng thực chất ẩn chứa đằng sau những chuyển biến đó là thái độ, cũng như cách thức hành xử của các nhà cầm quyền, đặc biệt là các nhà cầm quyền của các siêu cường trên thế giới.
Điều đó tạo ra động thái của các nhà nước - dân tộc trong bối cảnh mới. Bàn về động thái có nghĩa là bàn về trạng thái biến đổi, biến động. Trong trường hợp này, chúng ta bàn về những chuyển biến, biến đổi của nhà nước – dân tộc dưới tác động của toàn cầu hóa, đặc biệt là toàn cầu hóa văn hóa. Cần phải nhấn mạnh điều này, vì văn hóa ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của loài người.
Văn hóa là một lĩnh vực chịu tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa văn hóa trở thành một bộ phận cấu thành của toàn cầu hóa nói chung. Điều quan trọng hơn là văn hóa đóng vai trò là một trong những nhân tố đảm bảo sự hội nhập thành công, chủ động và qua đó là bảo vệ bản sắc văn hóa, chủ quyền dân tộc, chống lại nguy cơ đồng hóa văn hóa, lệ thuộc văn hóa. Nhìn từ góc độ này, chúng ta thấy rõ cần phải nghiên cứu động thái của nhà nước – dân tộc như chỉnh thế duy nhất hoàn thành chức năng bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa, tiếp biến văn hóa toàn cầu.
Chúng ta biết rằng toàn cầu hoá đang có những tác động không nhỏ đến động thái của các nhà nước - dân tộc. Tuy nhiên, ta có thể tạm chia ra hai khuynh hướng chuyển dịch của nhà nước - dân tộc xét từ hai góc độ. Thứ nhất, với tư cách là một yếu tố trong chỉnh thể toàn cầu, nhà nước - dân tộc dần chuyển một phần quyền lực của mình lên trên theo hướng xây dựng một 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà nước chung hay một chính phủ toàn cầu. Trong đó, nhà nước toàn cầu thực chất là sự thống lĩnh của một quốc gia, một cường quốc có sức mạnh về kinh tế, tài chính, quân sự nhưng không hẳn đã là một đại diện tiêu biểu cho văn hóa nhân loại.
Thứ hai, là khuynh hướng “phi nhà nước hóa” nền kinh tế xã hội. Về thực chất, đây là hai khuynh hướng khác nhau về hình thức biểu hiện nhưng về bản chất thì là một. Nó đều nhằm hướng đến phá bỏ vai trò của các nhà nước - dân tộc với tư cách chỉnh thể, thay vào đó là một nhà nước phổ biến bao trùm lên tất cả các nhà nước khác, nhà nước “siêu nhà nước”. Trên thực tế, nhà nước này rất khó thực thi vì nhiều lí do khác nhau.
Hơn thế, trong điều kiện toàn cầu hoá, nhà nước - dân tộc vẫn chưa thể mất đi vai trò của mình. Tuy nhiên, việc say mê công khai sự hùng mạnh như vậy là rất nguy hiểm, vì nó tất yếu sinh ra phản ứng đáp lại của các nền văn minh và các cường quốc thế giới khác hoàn toàn không có ý muốn chịu đựng sự khống chế của bất kỳ một nền văn minh nào đang làm mất bá quyền của mình. Điều đó làm tăng nguy cơ xung đột giữa các nền văn minh, góp phần tác động đến quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc cũng như các nền văn minh trong bối cảnh mới, đưa đến xu hướng đối đầu và đụng độ giữa các nền văn minh cũng như trong nội bộ các nước. Sự xung đột ấy rất có thể sẽ phá hủy hoàn toàn nền văn minh của nhân loại bởi nó sẽ là cuộc chiến tranh mang tính hủy diệt.
Điều này là không thể chấp nhận được với tất cả những người từng trải nghiệm hai cuộc thế chiến của thế kỷ trước - hậu quả của cái gọi là chủ nghĩa duy lý, của nền văn minh công nghiệp. Thế giới đã có nhiều thay đổi sau hai cuộc thế chiến nhưng những trang sử đó sẽ không thể phai với những người có lương tri. Với tư cách một thiết chế xã hội, nhà nước ( với tư cách là các quốc gia tiền dân tộc - Ở Châu Âu vào thế kỷ XVIII, các quốc gia phi dân tộc điển hình thường là các đế quốc đa dân tộc (ví dụ Đế quốc Nga, Đế quốc Pháp, Đế quốc Anh, Đế quốc Áo-Hung và Đế quốc Ottoman) và là một số quốc gia nhỏ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có quy mô "dưới" một dân tộc. Về trường hợp một đế quốc, thông thường nó theo chế độ quân chủ, người lãnh đạo có thể là một vị vua (Anh), Hoàng đế (Pháp) hay Sultan Hồi giáo (Ottoman).
Và tất nhiên, thành phần dân cư của đế quốc rất đa dạng về dân tộc và ngôn ngữ. Nhưng trong số đó chỉ có một cộng đồng dân tộc nắm địa vị thống trị, và thường ngôn ngữ của dân tộc thống trị là ngôn ngữ chính thức của đế quốc, các thành viên trong hoàng tộc cũng thường thuộc dân tộc thống trị này. Lãnh thổ của các đế quốc cũng không chỉ nằm giới hạn trong phạm vi châu Âu, có một số đế quốc có lãnh thổ trải rộng khắp trên nhiều châu lục khác nhau (Ottoman, Anh,.) Ở trường hợp thứ hai, một số quốc gia nhỏ ở châu Âu có thể có thành phần dân tộc không quá phức tạp, nhưng cũng là những nước quân chủ, được thống trị bởi một gia đình vương tộc. Lãnh thổ có thể thay đổi bằng việc kết thông gia giữa các vương tộc với nhau, qua đó lãnh thổ các quốc gia này hợp nhất với nhau hoặc mở rộng thêm.
Ở một vài khu vực của Châu Âu, ví dụ Đức, một số "quốc gia" nhỏ cũng tồn tại. Các "quốc gia" này có hệ thống chính quyền, luật pháp riêng biệt được các nước lân bang công nhận về mặt độc lập, chủ quyền. Người đứng đầu không nhất thiết là "vua", mà có thể là một Công tước hay một giám mục,. Và vì chúng quá nhỏ, nhiều khi văn hóa và ngôn ngữ của các "quốc gia" này hoàn toàn giống như các nước lân bang.
Một vài quốc gia trong số này bị các phong trào dân tộc chủ nghĩa lật đổ vào thế kỷ XIX. Một số quốc gia dân tộc như Anh và Pháp thì lại lớn mạnh lên thông qua việc sáp nhập một vài trong số này. Các tư tưởng tự do như mậu dịch tự do đóng một vai trò quan trọng trong việc thống nhất nước Đức, tiền đề là sự thành lập Đồng minh thuế quan Zollverein. Và các cuộc chiến tranh Áo-Phổ (1864) và chiến tranh Pháp - Phổ (1870) quyết định sự thống nhất hoàn toàn.
Các đế quốc khác, như Đế quốc Áo-Hung và Đế quốc Ottoman tan rã sau Thế chiến thứ nhất, còn Đế quốc Nga thì trở thành Liên bang Xô Viết vào năm 1922. Một số quốc gia nhỏ tồn tại đến ngày nay: Liechtenstein, Andorra, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Monaco, Cộng hòa San Marino. Vatican không được liệt vào danh sách, mặc dù trước đây từng có một nước Giáo hoàng. Lãnh thổ và tình trạng chủ quyền hiện có là nhờ vào Hiệp ước Lateran ký với Ý (vào năm 1929) đã xuất hiện khoảng một nghìn năm.
Bước tiến tiếp theo là thành lập các nhà nước hùng mạnh hay các liên minh nhà nước trong khuôn khổ các nền văn minh thế hệ thứ nhất (Sumerơ, Ai Cập cổ, Ấn Độ cổ, Trung Quốc cổ, v.), chúng thường xuyên thay đổi biên giới của mình, tương tác và gây chiến với nhau, v. Sau đó đã xuất hiện một thiết chế nhà nước mới - các đế chế thế giới: Đế chế Alexander Makedonya, Đế chế La Mã, Đế chế Vidantia - các đế chế đã chinh phục một phần các nền văn minh khác; Xu hướng hợp nhất quyền lực chính trị và quyền lực tôn giáo đã diễn ra ở thời Trung cổ. Các tôn giáo thế giới và đại diện của chúng - các giáo hội, giới tăng lữ đã cố gắng khống chế bộ máy nhà nước, sử dụng tiềm lực và khả năng của nó. Bắt đầu từ thế kỷ XVI đã xuất hiện các đế chế thế giới thế hệ thứ hai - đầu tiên là Đế chế Tây Ban Nha, sau đó là Đế chế Anh.
Phần lớn thế kỷ XX (sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất) đã trở thành giai đoạn hưng thịnh và suy vong ngắn ngủi của các đế chế thế giới kiểu mới, có cơ sở là sự thống nhất về lợi ích tư tưởng và chính trị, chứ không phải là về lợi ích tôn giáo. Trong suốt thế kỷ XX, các đế chế thế giới, cả thế hệ thứ hai, lẫn thế hệ thứ ba, đều đã đi vào quá khứ. Hàng loạt nhà nước liên bang đã tan rã. Số lượng nhà nước độc lập đã tăng lên nhiều lần.
Các nhà nước - dân tộc hành động trên diễn đàn quốc tế như là chủ thể chính của luật quốc tế. Xu hướng cơ bản trên diễn đàn địa chính trị trong suốt thế kỷ XX là sự phi liên kết làm xuất hiện những nhà nước bình quyền. Tuy nhiên, một xu hướng đối lập đang xuất hiện ở thế kỷ XXI: sự phát triển đơn cực hay đa cực của thế giới? Hiện nay, Mỹ đang có kỳ vọng đóng vai trò là chủ nhân của thế giới đơn cực, J.Bzedinsky cho rằng sư tập trung quyền lực vào tay một quốc gia là không điển hình cho nền chính trị thế giới. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên, điều này thuộc về một tương lai rất xa vời, còn hiện thời ông vẫn phải công nhận và kêu gọi Mỹ trở thành thủ lĩnh vô điều kiện và là người kiến tạo một trật tự thế giới mới: "Mục đích chính trị của Mỹ phải tuyệt đối cấu thành từ hai bộ phận: cần phải củng cố địa vị thống trị của mình, ít nhất là trong thời hạn tồn tại của một thế hệ, nhưng tốt hơn là ở một thời hạn kéo dài hơn, và cần phải tạo ra một cơ cấu địa chính trị có khả năng làm giảm bớt những chấn động và sự căng thẳng không tránh khỏi, do những chuyển biến chính trị - xã hội gây ra, đồng thời cũng hình thành hạt nhân địa chính trị cùng nhau chịu trách nhiệm về việc cai quản thế giới mà không có chiến tranh"[5; 254].