phần mở đầu và kết luận, luận văn có ba chương chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và những nhân tố tác động tới sự biến đổi văn hóa ứng xử của sinh viên Việt Nam hiện nay Chương một tập trung trình bày những vấn đề lý luận chung đồng thời tìm hiểu những đặc trưng truyền thống trong văn hóa ứng xử của sinh viên Việt Nam. Theo đó, chương một sẽ đi vào phân tích những nhân tố tác động tới sự biến đổi văn hóa ứng xử của sinh viên Việt Nam hiện nay. Chƣơng 2: Những biểu hiện chính trong văn hóa ứng xử của sinh viên Việt Nam hiện nay trƣớc tác động của toàn cầu hóa 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương hai đi vào phân tích những biểu hiện chính trong văn hóa ứng xử của sinh viên Việt Nam hiện nay trước tác động của toàn cầu hóa ở những góc độ, khía cạnh, cụ thể như: trong môi trường học đường, trên mạng xã hội, nơi công cộng. Chƣơng 3: Đánh giá tác động của toàn cầu hóa đối với văn hóa ứng xử của sinh viên Việt Nam hiện nay Chương ba nêu ra những mặt tích cực và hạn chế của toàn cầu hóa đem lại đối với văn hóa ứng xử của sinh viên Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao văn hóa ứng xử của sinh viên Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm văn hóa, văn hóa ứng xử và sinh viên Việt Nam 1. Khái niệm văn hóa “văn hóa” là một trong các từ ngữ được dùng rộng rãi nhất không chỉ trong các môn khoa học tinh thần, trong hoạt động văn hóa và du lịch, mà còn cả trong đời thường của mọi người dân. Dưới góc độ nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa về văn hóa.
Khái niệm về văn hóa đã được hình thành và phát triển thông qua những nghiên cứu của các nhà khoa học. Với việc nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau thì năm 1952, A. Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a critical review of concept and definitions (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa). Thông qua cuốn sách trên hai tác giả đã sưu tầm và khái quát một cách có hệ thống các định nghĩa về văn hóa do các nhà nghiên cứu đưa ra.
Điều này khẳng định sự phức tạp về việc đưa ra một định nghĩa thống nhất về văn hóa nói chung. Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”1. Theo định nghĩa đã được đưa ra thì E.Tylor cho rằng văn hóa có thể đồng nhất với văn minh của con người và được nhìn nhận dưới góc độ bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế - xã hội, pháp luật, văn học…Như 1 E. Tylor, Văn hóa nguyên thủy, Huyền Giang dịch từ tiếng Nga, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, tr, 13 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vậy, văn hóa theo định nghĩa trên là những mảng liên kết mang tính hệ thống và dàn trải.
Tuy nhiên, đó là xét dưới góc độ của tộc người học nói chung. Song, về cơ bản thì văn hóa là một khái niệm trừu tượng và không thể định hình hoặc so sánh. Vì vậy dưới một góc độ nào đó khó có thể đưa ra định nghĩa toàn vẹn về khái niệm này. Kroeber và Kluckhohn lại đưa ra khái niệm là “Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo”2.
Tác giả cho rằng văn hóa là khái niệm không mang tính chất dàn trải mà khái quát lại trên cơ sở là những đặc trưng, yếu tố cơ bản nhằm xác định một khái niệm về văn hóa mang tính chất thống nhất. Cũng như trên đà phát triển của công tác nghiên cứu trên thế giới thì tại Việt Nam, văn hóa cũng được các nhà nghiên cứu, sưu tầm đưa ra định nghĩa rất khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”3.
Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quy luật xây dựng và phát triển văn hóa tồn tại ở tất cả các lĩnh vực của đời sống con người. Văn hóa hình thành từ những thứ đơn giản nhất ngay trong những sinh hoạt hằng ngày nói chung. Đối với Trần Ngọc Thêm, khái niệm “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có tính chất nội hàm hết sức khác nhau.
Kroeber và Kluckhohn, Culture, a critical review of concept and definitions, Vintage Books, A Division of Random House, New York, 1952, p.357 3 Hồ Chí Minh Toàn Tập, in lần 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr. 431 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”4. Như vậy với cách định nghĩa này, nội hàm của khái niệm văn hóa bao gồm: Thứ nhất, đó là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người và vì con người. Thứ hai, những giá trị mà con người sáng tạo ra đó phải mang tính nhân tính, nghĩa là nó phải mang tính người.
Điều đó có nghĩa là có những giá trị do con người sáng tạo ra nhưng nó không phải là giá trị văn hóa bởi nó không mang tính người, nó hủy hoại cuộc sống của con người do đó không được cộng đồng chấp nhận như: bom nguyên tử, các vũ khí giết người hay chủ nghĩa khủng bố; một vấn đề nổi cộm trong giai đoạn hiện nay. Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam (1999), Bộ GD-ĐT, NXB Văn hóa Thông tin, ghi nhận khái niệm văn hóa là (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc. (2) Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân. (3) Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa.
(4) Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. (5) Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai. Với những định nghĩa tiêu biểu như trên, thông qua hoạt động nghiên cứu tác giả tổng hợp và đưa ra một khái niệm tổng thể như sau; Văn hóa là sản phẩm của con người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ giữa con người và xã hội. Đồng thời, văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên 4 Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và có sự phát triển không ngừng trong các giai đoạn phát triển của xã hội loài người. Khái niệm văn hóa ứng xử và biến đổi văn hóa ứng xử Khái niệm văn hóa ứng xử Nhân loại coi trọng ứng xử như một tiêu chuẩn khẳng định kiến thức. Cách ứng xử là nền tảng văn hóa, là vẻ đẹp cao sang của tâm hồn, muốn có được đòi hỏi phải có sự uyên bác cùng với bản lĩnh và tài năng.
Muốn làm giàu, có thể chỉ vài năm, nhưng để có nếp sống hay cách ứng xử có văn hóa có thể phải trải qua nhiều năm tháng học hành và tiếp thu nghiêm chỉnh. Từ lâu vấn đề ứng xử trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên và con người với chính mình đã được nhiều khoa học nghiên cứu, nhất là tâm lý học, giáo dục học và xã hội học. Theo tác giả Trịnh Trúc Lâm “ứng xử trong xã hội được hiểu là cách hành động của các vai trò xã hội nào đó trước một chủ thể xã hội khác cũng có một vị trí xã hội. Như vậy, ứng xử là cách hành động của các vai trò xã hội với nhau, giữa các cá nhân với nhau và sau nữa là cách hành động của chủ thể đối với chính bản thân mình, với đồ vật, với môi trường tự nhiên”5.
Như vậy ứng xử theo quan điểm này, được đặt trong cả mối quan hệ xã hội và mối quan hệ với thế giới tự nhiên. Nhà tâm lý học, giáo dục học Ngô Công Hoàn cũng đưa ra khái niệm ứng xử khi bàn luận và các mối quan hệ người với người “ứng xử là phản ứng, hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giao tiếp do những rung cảm cá nhân kích thích nhằm lĩnh hội, truyền đạt những tri thức, vốn sống, kinh nghiệm của cá nhân, xã hội trong những tình huống nhất định”6. 5 Trịnh Trúc Lâm (2011), Ứng xử sư phạm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 6 Ngô Công Hoàn (1997), Giao tiếp và ứng xử sư phạm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Lê Thị Bừng, “ứng xử là từ ghép của hai từ ứng và xử. Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định.