Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 9229015) với đề tài "Các đảng bộ trường Công an nhân dân ở Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác xây dựng Đảng từ năm 2003 đến năm 2020" do nghiên cứu sinh Đỗ Hoàng Tuấn thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Mạch Quang Thắng và TS Nguyễn Đình Thống (Hà Nội, 2024).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định lực lượng Công an nhân dân (CAND) là lực lượng vũ trang cách mạng nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Công tác xây dựng Đảng trong CAND giữ vị trí trọng yếu, quyết định việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Các trường CAND giữ vai trò kép: vừa là cơ sở đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân, vừa là đơn vị dự bị chiến đấu trực thuộc Bộ Công an. Tại Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), ba cơ sở đào tạo CAND gồm Trường Đại học An ninh nhân dân (ANND), Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (CSND) và Trường Cao đẳng CSND II đảm nhiệm phạm vi tuyển sinh từ Quảng Nam, Đà Nẵng trở vào Nam, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ Đảng bộ Công an Trung ương. Mặc dù đã có những công trình đề cập đến công tác đào tạo và xây dựng lực lượng, song dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập, có hệ thống về quá trình các đảng bộ trường CAND ở TPHCM lãnh đạo công tác xây dựng Đảng từ khi trở thành các cơ sở đào tạo độc lập cho đến khi hoàn thành kiện toàn mô hình tổ chức.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phục dựng quá trình các đảng bộ trường CAND ở TPHCM lãnh đạo công tác xây dựng Đảng từ năm 2003 đến năm 2020, từ đó đúc rút một số kinh nghiệm góp phần tăng cường công tác xây dựng Đảng tại các trường CAND trong giai đoạn tiếp theo.

Văn bản xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
  2. Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình các đảng bộ trường CAND ở TPHCM lãnh đạo công tác xây dựng Đảng; phục dựng quá trình lãnh đạo công tác xây dựng Đảng từ năm 2003 đến năm 2020 qua hai giai đoạn phân kỳ (2003 - 2011 và 2011 - 2020).
  3. Nhận xét kết quả, chỉ rõ những ưu điểm và hạn chế trong quá trình lãnh đạo công tác xây dựng Đảng của các đảng bộ trường CAND ở TPHCM.
  4. Đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo góp phần tăng cường công tác xây dựng Đảng tại các trường CAND trong giai đoạn tiếp theo.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình các đảng bộ trường CAND ở TPHCM lãnh đạo công tác xây dựng Đảng từ năm 2003 đến năm 2020.
  • Phạm vi nội dung: Quá trình hoạch định chủ trương và hoạt động chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương trên các mặt xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
  • Phạm vi không gian: 03 trường CAND có trụ sở chính tại TPHCM theo Quyết định số 2211/QĐ-BCA ngày 30/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an: Trường Đại học ANND (mã số T04), Trường Đại học CSND (mã số T05) và Trường Cao đẳng CSND II (mã số T10).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2003 (khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 152/2003/QĐ-TTg ngày 28/7/2003 thành lập Trường Đại học CSND và Quyết định số 154/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 thành lập Trường Đại học ANND, xác lập tư cách tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo trường đại học độc lập) đến năm 2020 (khi Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương ban hành Quyết định số 670-QĐ/ĐUCA ngày 24/02/2020 và Quyết định số 794-QĐ/ĐUCA ngày 24/4/2020 kiện toàn tổ chức, chính thức thành lập đảng bộ cấp trên cơ sở tại các trường CAND ở TPHCM). Tiến trình được phân kỳ thành 2 giai đoạn: 2003 - 2011 và 2011 - 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Chương 1 của luận án phân loại các tài liệu đã công bố thành 3 nhóm hướng nghiên cứu chính:

Hướng thứ nhất: Các công trình về lịch sử công tác xây dựng Đảng. Về chính trị, tư tưởng, đạo đức, có sách của Đặng Xuân Kỳ, Mạch Quang Thắng, Nguyễn Văn Hòa (2005) về nguyên tắc tập trung dân chủ và phương thức lãnh đạo; Mạch Quang Thắng (2007, 2020) về vai trò của nhân dân, vấn đề dân chủ và tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng Đảng; Nguyễn Trung Thanh, Ngô Huy Tiếp, Dương Trung Ý (2018) về phương thức cầm quyền; Lê Khả Phiêu (2019) về đạo đức trong Đảng; đề tài cấp Bộ của Lê Thị Thu Hồng (2021) về nêu gương; đề tài của Vũ Thị Kiều Phương (2021) về công tác tư tưởng. Các công trình nước ngoài có luận án tiến sĩ của Xue Jianming (2003) tại Trung Quốc về giáo dục đạo đức người cộng sản, Bun Ma Kế Kê Son (2003) tại Lào về đạo đức cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, Lý Lương Đồng (2020) tại Trung Quốc về hoàn thiện phương thức lãnh đạo. Về tổ chức và cán bộ, có sách của Lưu Văn Sùng (2011); Nguyễn Văn Giang và Phạm Tất Thắng (2012) về ứng dụng lý thuyết tổ chức; Nguyễn Đăng Thành, Vũ Hoàng Công, Nguyễn An Ninh (2017) về đổi mới bộ máy; đề tài của Nguyễn Minh Tuấn (2017) về thuật ngữ xây dựng Đảng; luận án tiến sĩ của Đỗ Văn Nghĩa (2020) về Tỉnh ủy Thái Bình xây dựng đội ngũ đảng viên; Nguyễn Thế Thái (2021) về Tỉnh ủy Nghệ An xây dựng tổ chức cơ sở đảng cấp xã; luận án của Bun Lư Sổm Sắc Đi (2004) và Bun-Xợt Tham-Ma-Vông (2004) tại Lào về cán bộ cấp tỉnh và cấp huyện.

Hướng thứ hai: Các công trình về Đảng lãnh đạo CAND và xây dựng Đảng trong CAND. Về bảo vệ an ninh trật tự, có sách của Nguyễn Bình Ban (2007) về an ninh chính trị và cơ chế Đảng lãnh đạo; luận án tiến sĩ của Lê Thị Hiền Lương (2014) về bảo vệ an ninh quốc gia tại TPHCM (1975 - 2008); các sách của Tô Lâm (2016, 2017, 2022, 2024) về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với CAND, công tác cán bộ CAND, xây dựng lực lượng CAND và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với CAND. Về công tác xây dựng Đảng trong lực lượng, có sách của Đinh Ngọc Hoa (2015); luận án tiến sĩ của Lê Văn Hạnh (2017) về cán bộ chuyên trách công tác Đảng trong Công an cấp tỉnh; sách Lịch sử Đảng bộ Công an Trung ương (1945 - 2015) (2019); sách Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng trong CAND của Đảng ủy Công an Trung ương (2020); các bài viết của Trần Bá Thiều, Đặng Văn Hiếu, Trần Đại Quang, Nguyễn Thị Thúy Thanh.

Hướng thứ ba: Các nghiên cứu về hoạt động lãnh đạo, đào tạo và lịch sử các học viện, trường CAND. Về giáo dục và đào tạo, có luận án của Trần Thị Thanh Huyền (2017) về giáo dục đạo đức; Nguyễn Thị Hiền (2018) về kỹ năng sống; Bùi Trường Giang (2019) về ý thức chính trị; Nguyễn Thị Thế (2020) về văn hóa ứng xử; Nguyễn Thị Huệ (2022) về định hướng giá trị đạo đức; các bài viết của Nguyễn Tấn Dũng, Tạ Lê Nguyệt Quế, Tống Quốc Bình. Về xây dựng lực lượng nhà trường, có luận án của Trần Thu Hương (2015) về thích ứng dạy học của giảng viên trẻ; Nguyễn Thị Thu Trang (2017) về Đảng bộ Công an Trung ương lãnh đạo xây dựng đội ngũ giảng viên (2001 - 2010); Nguyễn Thị Thu Trang (2019) về phong cách làm việc Hồ Chí Minh. Các công trình lịch sử đơn vị gồm lịch sử và biên niên của Học viện ANND, Học viện CSND, Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy, Trường Đại học ANND, Trường Đại học CSND (1976 - 2006, 1976 - 2016, Biên niên sự kiện Đảng bộ 1976 - 2016, Biên niên 2010 - 2020), Trường Trung cấp CSND II (1977 - 2012). Công trình nước ngoài liên quan có nghiên cứu của B. Lord (2004), Michael Josephson (2009), Hủm Phăm Phỉu Khêm Phon (2016), Souksavanh Silavong (2019), Duangvichit Damanivong (2020).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Tổng quan tài liệu chỉ ra rằng các công trình đã công bố chủ yếu phân tích thực trạng đào tạo chuyên môn, giáo dục học viên hoặc lịch sử biên niên chung của từng đơn vị, chưa đi sâu làm rõ quá trình lãnh đạo và hoạt động xây dựng bản thân chủ thể lãnh đạo là các đảng bộ trường. Đồng thời, các đề tài trước đây tập trung phần lớn vào các học viện, trường CAND tại khu vực phía Bắc. Chưa có một công trình nào dưới dạng luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu độc lập, có hệ thống về quá trình các đảng bộ trường CAND ở TPHCM lãnh đạo công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn 2003 - 2020. Luận án đặt vị trí nghiên cứu vào việc lấp đầy khoảng trống lịch sử này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đảng cộng sản, xây dựng đảng cộng sản cầm quyền, và công tác xây dựng Đảng trong lực lượng vũ trang nhân dân.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp luận chuyên ngành kết hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử: Là phương pháp chủ đạo được sử dụng tại Chương 2 và Chương 3 để phục dựng quá trình các đảng bộ trường CAND ở TPHCM đề ra chủ trương và chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác xây dựng Đảng qua hai giai đoạn phân kỳ (2003 - 2011 và 2011 - 2020) theo đúng trình tự thời gian, gắn liền với các điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
  • Phương pháp logic: Được sử dụng xuyên suốt toàn bộ công trình, là phương pháp cơ bản của Chương 4, các phần tiểu kết và kết luận nhằm chỉ ra bản chất, quy luật, khuynh hướng vận động của hệ thống tổ chức đảng từ cấp cơ sở đến cấp trên cơ sở, từ đó rút ra các nhận xét khách quan và bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh: Được sử dụng để lượng hóa các dữ liệu về tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ, kết quả đào tạo, số lượng đảng viên và tỷ lệ kết nạp đảng viên mới; so sánh quy mô và cơ cấu tổ chức của các đảng bộ trường CAND ở TPHCM với các đơn vị khác trong Đảng bộ Công an Trung ương qua từng thời kỳ; làm căn cứ lập các bảng biểu và phụ lục.
  • Phương pháp khảo sát thực tế và phương pháp chuyên gia: Được sử dụng để thu thập thông tin thực tế từ các đơn vị đào tạo, tiếp thu ý kiến đánh giá của các nhà khoa học, cán bộ quản lý và lãnh đạo cấp ủy qua các thời kỳ, phục vụ việc đánh giá ưu điểm, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm.

Nguồn tư liệu nghiên cứu:

  • Tư liệu sơ cấp: Các văn kiện, nghị quyết đại hội đảng bộ, nghị quyết hội nghị ban chấp hành, nghị quyết chuyên đề, chương trình công tác năm học, báo cáo tổng kết công tác Đảng, hồ sơ kiểm tra, giám sát được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ và Thư viện của 3 trường: Trường Đại học ANND, Trường Đại học CSND và Trường Cao đẳng CSND II.
  • Tư liệu thứ cấp: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam; các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; văn kiện và nghị quyết của Đảng bộ Công an Trung ương; các quyết định, thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an; các sách chuyên khảo, kỷ yếu khoa học, đề tài và luận án đã xuất bản có liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 3 nhóm vấn đề chính (lịch sử công tác xây dựng Đảng; Đảng lãnh đạo CAND và xây dựng Đảng trong CAND; hoạt động lãnh đạo của các đảng bộ, lịch sử các học viện, trường CAND). Trên cơ sở chỉ rõ những kết quả nghiên cứu đã đạt được và những khoảng trống khoa học còn tồn tại, Chương 1 xác định 3 nội dung trọng tâm mà luận án đi sâu giải quyết:

  1. Tổng hợp, phân tích các yếu tố tác động đến công tác xây dựng Đảng tại các trường CAND ở TPHCM (nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, cơ chế song trùng lãnh đạo, quy định về tổ chức cơ sở đảng trong CAND, đặc thù địa bàn phía Nam).
  2. Phục dựng quá trình các đảng bộ trường CAND ở TPHCM lãnh đạo công tác xây dựng Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ qua hai giai đoạn 2003 - 2011 (tổ chức cơ sở đảng) và 2011 - 2020 (thí điểm và kiện toàn đảng bộ cấp trên cơ sở).
  3. Đánh giá kết quả lãnh đạo (ưu điểm, hạn chế) và đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo thực tiễn.

Chương 2: Các đảng bộ trường Công an nhân dân ở Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác xây dựng Đảng từ năm 2003 đến năm 2011

Nội dung chương làm rõ hai nhóm vấn đề lớn:

1. Yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo:

  • Nguyên tắc và cơ chế: Đảng lãnh đạo CAND tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt là nguyên tắc nền tảng (xác lập từ Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05/5/1950, Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 21/2/1980 và các kỳ Điều lệ Đảng). Cơ chế tổ chức đảng trong CAND là cơ chế "song trùng lãnh đạo" ở địa phương, nhưng đối với các trường CAND trực thuộc Bộ không có chính quyền tương ứng thì tổ chức đảng được thiết lập theo hệ thống dọc. Quan hệ giữa cấp ủy và thủ trưởng đơn vị là quan hệ lãnh đạo và phục tùng.
  • Đặc điểm của các trường: Cả 3 trường đều đóng quân tại TPHCM, chịu trách nhiệm đào tạo cho địa bàn từ Quảng Nam, Đà Nẵng trở vào Nam. Quy mô mỗi trường từ 20 đến 30 đơn vị cấp phòng/khoa trực thuộc, biên chế ấn định từ 500 đến 800 cán bộ, giảng viên, lưu lượng đào tạo khoảng 5.000 học viên/trường/năm học. Các trường không tổ chức hội đồng trường.
  • Đặc điểm đảng bộ: Các đảng bộ trường có quy mô lớn, chiếm 13,1% số đầu mối tổ chức cơ sở đảng và 10% tổng số đảng viên toàn Đảng bộ Công an Trung ương. Điểm đặc thù lịch sử là trong giai đoạn sáp nhập hành chính làm phân hiệu của các học viện phía Bắc (1989 - 2003), các tổ chức đảng này không sáp nhập vào đảng bộ phía Bắc, giữ nguyên tư cách tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Đảng ủy Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND (hoặc Đảng ủy Công an Trung ương), có con dấu riêng và thẩm quyền kết nạp, khai trừ đảng viên từ năm 1994.
  • Kinh nghiệm từ các đảng bộ tiền thân: Lấy xây dựng Đảng làm trung tâm, chi phối hoạt động chuyên môn; xây dựng đảng bộ đủ trí tuệ và bản lĩnh chính trị; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình (văn bản dẫn chứng bài học kỷ luật cán bộ năm 1983 - 1985 và việc củng cố nội bộ, giải quyết đơn thư mất đoàn kết năm 2001 - 2002 tại tiền thân Trường Đại học CSND dẫn đến việc Bộ Công an phải điều động cán bộ từ đơn vị khác về thay thế).
Tiêu chí Trường Đại học An ninh nhân dân (T04) Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (T05) Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II (T10)
Tiền thân lịch sử Trường An ninh Trung ương Cục miền Nam (thành lập 10/1963) Trường Hạ sĩ quan CSND II (thành lập 24/4/1976 theo QĐ 13/NV-QĐ) Phân hiệu Cảnh sát Quản lý trại giam (thành lập 11/3/1977 theo QĐ 1032/QĐ-BNV)
Giai đoạn sáp nhập (1989 - 2003) Cơ sở phía Nam / Phân hiệu của Học viện ANND Cơ sở phía Nam / Phân hiệu của Học viện CSND Chuyển đổi qua Trường Trung học CSND II (1986), Trường Trung cấp CSND II (2006)
Quyết định thành lập độc lập Quyết định số 154/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 của Thủ tướng Quyết định số 152/2003/QĐ-TTg ngày 28/7/2003 của Thủ tướng Quyết định số 5658/QĐ-BGDĐT ngày 20/12/2012 của Bộ GD&ĐT
Văn bản quy định chức năng hiện hành Quyết định số 2061/QĐ-BCA ngày 24/3/2020 của Bộ trưởng BCA Quyết định số 2059/QĐ-BCA ngày 24/3/2020 của Bộ trưởng BCA Quyết định số 3198/QĐ-BCA ngày 22/4/2020 của Bộ trưởng BCA

2. Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện: Sau khi có quyết định thành lập năm 2003, Bộ Công an ban hành Quyết định số 24 và 25 ngày 05/11/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ của Trường Đại học ANND và Trường Đại học CSND đào tạo đại học, bồi dưỡng chỉ huy cho công an phía Nam. Cấp ủy các trường đã cụ thể hóa đường lối của Đại hội III Đảng bộ Công an Trung ương (2001 - 2005) qua các nghị quyết đại hội:

  • Chủ trương chính trị, tư tưởng: Đại hội Đảng bộ Phân hiệu Học viện ANND (nhiệm kỳ 2003 - 2005) đề ra phương châm "Đảng bộ có mạnh thì Trường mới mạnh"; Đại hội nhiệm kỳ 2005 - 2010 khẳng định vai trò "hạt nhân chính trị lãnh đạo trực tiếp, toàn diện". Đảng bộ Trường Đại học CSND nhiệm kỳ 2005 - 2010 xác định mục tiêu xây dựng đảng bộ đủ trí tuệ, năng lực lãnh đạo toàn diện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Chủ trương về tổ chức và cán bộ: Đề cao tự đào tạo, phát triển nội lực. Hai trường đại học ưu tiên tuyển dụng giữ lại trường từ nguồn đảng viên là sinh viên tốt nghiệp xuất sắc; trong khi Trường Trung cấp CSND II tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp các trường đại học trong và ngoài ngành.
  • Chủ trương phát triển đảng viên: Xác định phát triển đảng là nhiệm vụ thường xuyên nhằm bổ sung sinh lực cho Đảng. Trước khuyết điểm công tác phát triển đảng có thời điểm là khâu yếu nhất (như năm học 2004 - 2005 tại Đại học ANND), Đảng ủy đã chỉ đạo tách các chi bộ ghép trong sinh viên thành lập chi bộ theo khóa/lớp, chú trọng bồi dưỡng tạo nguồn đảng viên là học viên dân tộc thiểu số.

Chương 3: Các đảng bộ trường Công an nhân dân ở Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác xây dựng Đảng từ năm 2011 đến năm 2020

Chương 3 tái hiện bước chuyển quan trọng khi các đảng bộ trường thực hiện chủ trương thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở:

  • Yếu tố tác động: Thực hiện chủ trương của Trung ương, ngày 13/4/2011, Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương ban hành Quyết định số 24-QĐ/ĐUCA(X13) và Quyết định số 25-QĐ/ĐUCA(X13) giao quyền cấp trên cơ sở cho Đảng ủy Trường Đại học ANND và Đảng ủy Trường Đại học CSND (Trường Cao đẳng CSND II được giao quyền sau đó 2 năm, vào năm 2013). Bối cảnh giai đoạn này gắn liền với các nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cùng sự thay đổi lớn về tổ chức bộ máy Bộ Công an năm 2018 (giải thể cấp tổng cục, chuyển các đảng bộ trường về trực thuộc trực tiếp Đảng ủy Công an Trung ương).
  • Chủ trương và chỉ đạo thực hiện: Các đảng bộ trường lãnh đạo triển khai mô hình tổ chức đảng cấp trên cơ sở thí điểm, thành lập các đảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở trực thuộc tương ứng với các khoa, phòng, bộ môn và đơn vị quản lý học viên. Quá trình chỉ đạo tập trung vào việc kiện toàn bộ máy tham mưu chính trị (năm 2015 thành lập Phòng Công tác Đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng; năm 2020 kiện toàn thành Phòng Chính trị); nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy; chuẩn hóa công tác cán bộ giảng viên; siết chặt công tác kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ cương kỷ luật. Giai đoạn thí điểm kết thúc thắng lợi khi Đảng ủy Công an Trung ương ban hành Quyết định số 670-QĐ/ĐUCA ngày 24/02/2020 và Quyết định số 794-QĐ/ĐUCA ngày 24/4/2020 chính thức thành lập đảng bộ cấp trên cơ sở tại các trường CAND ở TPHCM.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết thực tiễn lịch sử và rút ra các bài học mang tính quy luật:

  • Nhận xét về ưu điểm: Các đảng bộ trường đã giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; phát huy vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo và chi viện chiến đấu cho địa bàn phía Nam; xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên có bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn cao; hoàn thiện và khẳng định hiệu quả thực tế của mô hình đảng bộ cấp trên cơ sở trong các cơ sở giáo dục CAND.
  • Nhận xét về hạn chế: Công tác lãnh đạo có thời điểm chưa đồng đều giữa các mặt; công tác giáo dục chính trị tư tưởng có lúc chưa theo kịp diễn biến tâm lý học viên; công tác phát triển đảng viên từng bộc lộ giai đoạn thiếu bền vững do duy trì mô hình chi bộ sinh viên ghép; công tác kiểm tra, giám sát ở một số chi bộ trực thuộc còn mang tính hình thức.
  • Một số kinh nghiệm lịch sử:
    1. Kiên định giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo CAND tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; thực hiện nghiêm mối quan hệ giữa cấp ủy và thủ trưởng đơn vị là lãnh đạo và phục tùng.
    2. Lấy xây dựng Đảng làm gốc, làm trung tâm chi phối các hoạt động chuyên môn đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản lý học viên.
    3. Coi trọng công tác cán bộ và phát triển đảng viên, kết hợp giữa tự đào tạo nội lực tại chỗ với tuyển chọn từ thực tiễn; gắn phát triển đảng viên với quản lý chi bộ sinh viên theo lớp học.
    4. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm giữ vững đoàn kết nội bộ và kỷ cương của lực lượng vũ trang.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:

  • Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác xây dựng Đảng trong lực lượng CAND Việt Nam; hệ thống hóa các đặc trưng, nguyên tắc và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp đặc thù trong lực lượng vũ trang.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án phục dựng một cách chân thực, có hệ thống tiến trình lịch sử các đảng bộ trường CAND ở TPHCM lãnh đạo công tác xây dựng Đảng từ năm 2003 đến năm 2020; làm rõ bước chuyển đổi mang tính lịch sử từ tổ chức cơ sở đảng, qua giai đoạn thí điểm giao quyền, đến khi trở thành đảng bộ cấp trên cơ sở chính thức.
  • Luận cứ tham mưu và ứng dụng: Luận án cung cấp các luận cứ khoa học có giá trị tham khảo phục vụ cấp ủy các cấp, Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an trong việc hoạch định chính sách, đề ra các chủ trương, biện pháp kiện toàn tổ chức đảng và nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong các trường CAND trong tình hình mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án: Văn bản luận án nêu rõ giới hạn nghiên cứu xuất phát từ phạm vi đối tượng và tính chất chuyên ngành Lịch sử Đảng: Luận án chỉ giới hạn khảo cứu quá trình lãnh đạo của cấp ủy tại 03 trường CAND đóng quân tại TPHCM (T04, T05, T10), không đi sâu vào khảo sát hệ thống 08 học viện, trường CAND đóng quân tại miền Bắc. Đồng thời, phạm vi nội dung tập trung vào công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, không đi sâu vào chi tiết kỹ thuật các chương trình đào tạo nghiệp vụ chuyên ngành an ninh, cảnh sát. Mốc thời gian kết thúc ở năm 2020 khi các trường vừa kiện toàn mô hình đảng bộ cấp trên cơ sở chính thức.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu quá trình lãnh đạo công tác xây dựng Đảng của các trường CAND ở TPHCM trong giai đoạn từ sau năm 2020 đến nay, đánh giá hiệu quả vận hành của mô hình đảng bộ cấp trên cơ sở chính thức theo các quy định mới của Đảng ủy Công an Trung ương.
  • Thực hiện các công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa mô hình tổ chức, phương thức lãnh đạo của các đảng bộ trường CAND phía Nam với các học viện, trường CAND phía Bắc.
  • Đi sâu nghiên cứu các chuyên đề độc lập như: Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng trong các cơ sở giáo dục CAND; hoặc Nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên trong khối học viên CAND đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng tiến lên hiện đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo và tham mưu: Đảng ủy Công an Trung ương, các cơ quan chức năng của Bộ Công an (Cục Tổ chức cán bộ, Cục Đào tạo, Cục Công tác đảng và công tác chính trị) và cấp ủy các trường CAND trong việc tham mưu xây dựng quy chế làm việc, phân cấp thẩm quyền tổ chức đảng và sắp xếp, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy.
  • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam tại các học viện, trường CAND và các cơ sở đào tạo lý luận chính trị trong cả nước.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Tiến trình lịch sử giai đoạn 2011 - 2020 với các bước chuẩn bị, chỉ đạo thực hiện thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng ủy cơ sở; kinh nghiệm xử lý mối quan hệ lãnh đạo - phục tùng giữa cấp ủy và ban giám hiệu nhà trường; các giải pháp xử lý tình huống mất đoàn kết nội bộ và tổ chức chi bộ sinh viên.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án lựa chọn khung thời gian nghiên cứu từ năm 2003 đến năm 2020? Năm 2003 là thời điểm Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 152/2003/QĐ-TTg và Quyết định số 154/2003/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học CSND và Trường Đại học ANND độc lập, đánh dấu việc các đảng bộ trường trở thành tổ chức đảng lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học độc lập. Năm 2020 là thời điểm Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương ban hành các Quyết định số 670-QĐ/ĐUCA và 794-QĐ/ĐUCA chính thức thành lập đảng bộ cấp trên cơ sở tại các trường, kết thúc trọn vẹn 9 năm triển khai thí điểm (bắt đầu từ năm 2011).

2. Các đảng bộ trường CAND ở TPHCM có đặc điểm tổ chức như thế nào trong giai đoạn sáp nhập hành chính (1989 - 2003)? Trong giai đoạn 1989 - 2003, về mặt hành chính, các trường là Cơ sở phía Nam hoặc Phân hiệu của các học viện phía Bắc, nhưng về tổ chức đảng lại không sáp nhập vào đảng bộ học viện phía Bắc. Các đảng bộ này trực thuộc Đảng ủy Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND (hoặc Đảng ủy Công an Trung ương), có con dấu riêng, tương đương về phân cấp và thẩm quyền với các đảng bộ trường phía Bắc, đồng thời đã được giao quyền kết nạp và khai trừ đảng viên từ năm 1994.

3. Ba cơ sở đào tạo CAND tại TPHCM thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án có nguồn gốc lịch sử như thế nào? Trường Đại học ANND có tiền thân từ Trường An ninh Trung ương Cục miền Nam thành lập tháng 10/1963; Trường Đại học CSND có tiền thân từ Trường Hạ sĩ quan CSND II thành lập ngày 24/4/1976; Trường Cao đẳng CSND II có tiền thân từ Phân hiệu Cảnh sát Quản lý trại giam thành lập ngày 11/3/1977.

4. Vị thế và quy mô của các đảng bộ trường CAND ở TPHCM trong Đảng bộ Công an Trung ương được thống kê ra sao? Theo số liệu trong văn bản luận án, các đảng bộ trường CAND ở TPHCM là những tổ chức đảng có quy mô lớn, chiếm 13,1% về số lượng đầu mối tổ chức cơ sở đảng và chiếm 10% tổng số lượng đảng viên của toàn Đảng bộ Công an Trung ương.

5. Mốc năm 2011 có ý nghĩa bước ngoặt như thế nào đối với các đảng bộ trường trong luận án? Ngày 13/4/2011, Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương ban hành Quyết định số 24-QĐ/ĐUCA(X13) và Quyết định số 25-QĐ/ĐUCA(X13) giao quyền cấp trên cơ sở cho Đảng ủy Trường Đại học ANND và Đảng ủy Trường Đại học CSND. Quyết định này mở đầu cho giai đoạn thực hiện chủ trương thí điểm xây dựng mô hình tổ chức đảng cấp trên cơ sở trong đảng bộ cơ sở tại các trường CAND phía Nam.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Hoàng Tuấn là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tái hiện một cách hệ thống và trung thực quá trình lãnh đạo công tác xây dựng Đảng của các đảng bộ trường CAND tại TPHCM trong suốt giai đoạn 2003 - 2020. Luận án làm rõ các yếu tố chi phối, phân tích sâu sắc các quyết sách của cấp ủy qua hai giai đoạn chuyển biến mô hình tổ chức, từ tổ chức cơ sở đảng đến cấp trên cơ sở thí điểm và chính thức. Những nhận xét khách quan về ưu điểm, hạn chế cùng hệ thống các bài học kinh nghiệm được đúc rút có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác xây dựng Đảng trong toàn lực lượng Công an nhân dân hiện nay. Công trình cung cấp cơ sở tư liệu chuẩn xác, phục vụ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị, lịch sử Đảng trong các nhà trường công an nói riêng và hệ thống giáo dục quốc dân nói chung.