Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG (2010 - 2015) 1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng 1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng * Chủ trương của Đảng về thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng Chính sách ưu đãi NCCVCM là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm ổn định và phát triển kinh tế, xã hội. Nên ngay từ khi thành lập nước vấn đề về NCCVCM đã luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo với những kết quả ngày một tốt hơn.
Trong đó việc thống nhất về quan điểm, chủ trương trong lãnh đạo từ trung ương đến cơ sở là một trong những khấu quan trong có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện tốt chính sách ưu đãi NCCVCM trên phạm vi cả nước và trong từng địa phương. Phương hướng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, trên cơ sở những những kết quả đã đạt được về thực hiện chính sách đối với NCCVCM. Tiếp nối tinh thần yêu nước, phát huy đạo lý và truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam “uống nước nhớ nguồn; ăn quả nhớ người trồng cây”, “đền ơn đáp nghĩa”, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định: “Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công. Giải quyết dứt điểm các tồn đọng về chính sách người có công, đặc biệt là người tham gia hoạt động bí mật, lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong các thời kỳ cách mạng và kháng chiến.
15 Phương hướng trên thể hiện trách nhiệm và tình cảm của Đảng đối với NCCVCM, đồng thời là cơ sở để các cấp, các ngành phát huy sức mạnh tổng hợp, chăm lo ngày càng tốt hơn đời sống NCCVCM, phát huy năng lực của các đối tượng chính sách trong hoàn cảnh mới, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Quan điểm Hội nghị Trung ương 5 khóa XI, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 01/6/2012 về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, với quan điểm cụ thể. Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người có công… là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Chính sách ưu đãi người có công phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng huy động, cân đối nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; ưu tiên người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.2] Nhà nước bảo đảm thực hiện chính sách ưu đãi người có công và giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia.
Đồng thời tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh. Tăng cường hợp tác quốc tế để có thêm nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Mục tiêu tổng quát Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công, phấn đấu đến năm 2015 cơ bản bảo đảm gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn. Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo 16 dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân.
Nhiệm vụ Một là, tập trung triển khai thực hiện tốt Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Tiếp tục hoàn thiện chính sách đối với người có công, chú trọng giải quyết những trường hợp còn tồn đọng.3] Hai là, nâng mức chuẩn trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công phù hợp với lộ trình điều chỉnh mức lương tối thiểu. Đến hết năm 2013, hỗ trợ giải quyết cơ bản về nhà ở đối với hộ người có công đang có khó khăn về nhà ở.3] Ba là, có chính sách ưu đãi, hỗ trợ phù hợp đối với người có công và thân nhân về phát triển sản xuất, việc làm, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là y tế, giáo dục, đào tạo.3] Bốn là, đẩy mạnh việc tu bổ nghĩa trang, tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa.3] Năm là, có biện pháp khắc phục có hiệu quả tiêu cực trong quá trình thực hiện chính sách người có công.3] Về giải pháp Để hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra, cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp và phát huy sức mạnh của cả hệ thồng chính trị, trong đó tập trung các giải pháp mà Hội nghị Trung ương 5 khóa XI đã chỉ ra cụ thể. “Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của các cấp ủy đảng, chính quyền, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội trong việc thực hiện các chương trình, chính sách đối với người có công” [4, tr.
Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong chỉ đạo và thực hiện. Báo cáo kết quả công tác hằng năm của cấp ủy và chính 17 quyền các cấp ở địa phương phải có nội dung về thực hiện chính sách người có công và an sinh xã hội. “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, đoàn thể và người dân, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về chính sách ưu đãi người có công và chính sách an sinh xã hội tại mỗi địa phương để người dân có thể truy cập dễ dàng”. Tiếp tục phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn, đẩy mạnh các phong trào đền ơn đáp nghĩa, tương thân tương ái, chăm sóc, giúp đỡ người có công, người nghèo.
“Đổi mới quản lý nhà nước đối với lĩnh vực ưu đãi người có công. Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách bảo đảm tính hệ thống và đồng bộ, đơn giản và hiệu quả; vừa hỗ trợ, vừa khuyến khích nỗ lực vươn lên của các đối tượng thụ hưởng, khắc phục sự ỷ lại vào Nhà nước. Thống nhất đầu mối quản lý các chương trình, chính sách theo hướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương chỉ quản lý mục tiêu, hỗ trợ nguồn lực, hướng dẫn thực hiện, tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện, phố biến điển hình; địa phương chịu trách nhiệm quản lý nguồn lực, tổ chức thực hiện. Nâng cao năng lực thực thi chính sách của cấp cơ sở.
Hợp lý hóa, hiện đại hóa công tác quản lý, phương thức chi trả; xây dựng cơ sở dữ liệu hộ gia đình, mã số cá nhân và bộ chỉ số an sinh xã hội để quản lý, giám sát, đánh giá việc thực hiện chính sách an sinh xã hội trong từng thời kỳ. Hằng năm có báo cáo quốc gia về an sinh xã hội, trong đó làm rõ kết quả thực hiện chính sách xã hội ở các huyện nghèo, vùng núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. “Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách an sinh xã hội. 18 Nhà nước bảo đảm đủ nguồn lực để thực hiện chính sách người có công, đồng thời quan tâm bố trí ngân sách và đẩy mạnh xã hội hóa huy động nguồn lực cho việc thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Đổi mới việc phân bổ nguồn lực đáp ứng yêu cầu thực hiện mục tiêu của các chính sách an sinh xã hội. Phân cấp mạnh cho các địa phương và đề cao trách nhiệm của địa phương trong việc quản lý, sử dụng, lồng ghép các nguồn lực để thực hiện. Hoàn thiện các quy định về việc quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức và cá nhân, bảo đảm minh bạch, hiệu quả. * Chính sách của Nhà nước về thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Thực hiện các chính sách NCCVCM đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong đó Nhà nước giữa vai trò chủ đạo.
Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, ngày 16/12/2012 UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh 04/2012/PL-UBTVQH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, thay thế cho Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 35/2007/PL - UBTVQH11 do một số điểm của Pháp lệnh này hiện đã không còn phù hợp với tình hình hiện nay. Khắc phục những hạn chế đó, Pháp lệnh 04/2012/PL - UBTVQH13 chú trọng mở rộng đối tượng được xác nhận là liệt sĩ, thương binh, bệnh binh; đồng thời giới hạn cụ thể khoảng thời gian xác nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Ngày 09/04/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, gồm 7 chương 80 điều thay thế cho Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và Nghị định số 89/2008/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về hướng 19 dẫn thi hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định số người được hưởng chính sách ưu đãi được mở rộng, đúng đối tượng, đúng chính sách, các nội dung ưu đãi được luật pháp quy định, trở thành một hệ thống chính sách xã hội có tác dụng động viên, khích lệ tinh thần vì nước quên thân, vì dân phục vụ của người có công.
Cùng với việc ban hành Pháp lệnh số 04/2013/PL-UBTVQH13 về sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công. Ngày 20/10/2012 UBTVQH ban hành Pháp lệnh số 05/2012/PL-UBTVQH13 về sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.