Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt Xuất phát từ việc vận dụng lí thuyết hệ thống - cấu trúc của F. Saussure, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay hướng sự quan tâm của mình sang hướng nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống các đơn vị ngôn ngữ gắn với một đối tượng cụ thể.
Theo đó, những nghiên cứu thuộc hướng đi này một mặt sẽ làm sáng tỏ cấu trúc nội tại và các mối quan hệ của các đơn vị ngôn ngữ trên phạm vi ngữ liệu cụ thể; mặt khác sẽ là minh chứng để khẳng định hệ thống lí luận ngôn ngữ. Các từ ngữ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt cũng được tìm hiểu trên nhiều bình diện. Tìm hiểu các từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Qua quá trình thu thập tư liệu liên quan đến từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt, luận án nhận thấy có hai hướng tìm hiểu cơ bản: thứ nhất, nghiên cứu về một trường hoặc một nhóm từ ngữ tiếng Việt để chỉ ra đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của các từ ngữ; thứ hai, nghiên cứu đối sánh giữa một nhóm từ tiếng Việt với nhóm từ tương đương thuộc các ngôn ngữ khác để chỉ ra sự khác biệt về đặc trưng văn hoá dân tộc và tư duy ẩn đằng sau lớp ngôn từ đó.
Hướng nghiên cứu thứ nhất, nghiên cứu về một trường từ hoặc một nhóm từ ngữ tiếng Việt được tiến hành theo nhiều lớp từ ngữ dựa vào đặc trưng của các tiểu nhóm từ ngữ. Nói cách khác, hướng nghiên cứu này gồm các nghiên cứu về các tiểu trường khác nhau như: nghiên cứu về từ ngữ chỉ người, từ ngữ chỉ động vật, từ ngữ chỉ thực vật, từ ngữ chỉ đồ vật,… Để tiến hành tìm hiểu, các nhà nghiên cứu đã dựa trên ngữ liệu là khảo sát trong kho từ vựng tiếng Việt và thông qua các tác phẩm văn chương. - Nghiên cứu về từ ngữ chỉ người là nội dung nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu như: tác giả Phạm Tất Thắng [102] đã tiến hành 6 nghiên cứu đặc điểm của lớp từ tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt. Dựa vào một số khái niệm cơ bản của danh xưng học và vấn đề nghiên cứu danh xưng ở Việt Nam, tác giả đã chỉ ra: tên chính danh người Việt được cấu tạo dưới hình thức một tổ hợp định danh; thành tố và danh tố là những tổ hợp được dùng để định danh tên người.
Từ đó, tác giả phân loại và miêu tả đặc điểm cấu tạo của 5 kiểu tên gọi có độ dài ứng với từ 2 đến 6 thành tố và ứng với 5 kiểu tên gọi đó có 13 khuôn cấu trúc khác nhau. Với tư cách là đơn vị định danh tên người Việt, chính danh được là đơn vị có nghĩa. Ý nghĩa của tên người thường mang tính chất biểu trưng hay giá trị biểu trưng. Tìm hiểu chính danh trong quá trình hoạt động, tác giả nhận xét: chính danh người Việt được sử dụng một cách linh hoạt hơn so với các hiện tượng ngôn ngữ khác cùng loại.
Tác giả Nguyễn Đức Tồn [114], [115], [117] đã hướng sự quan tâm của mình về đối tượng này ở các nội dung như: đặc điểm danh học và ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ “sự kết thúc cuộc đời của con người” hay tên gọi bộ phận cơ thể trong tiếng Việt với việc biểu trưng tâm lí - tình cảm,… Bên cạnh việc chỉ ra các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa tác giả còn làm rõ đặc trưng văn hoá tư duy của người Việt. Tác giả Phạm Thị Hoà [61] nghiên cứu về hiện tượng nhiều nghĩa trong trường từ vựng chỉ người, tập trung vào các động từ nhiều nghĩa có nghĩa nói năng. Tác giả đã xác định các nghĩa khác nhau của từ và phân tích tìm ra hiện tượng nhiều nghĩa của động từ nói năng. Đối với các động từ nhiều nghĩa thì cơ chế chuyển nghĩa chủ yếu là hoán dụ, chẳng hạn: nói, bảo, báo, kể,…; đối với động từ vật lí khi chuyển sang nghĩa nói năng, đặc trưng chung là cơ chế ẩn dụ.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền [57] nghiên cứu về trường từ vựng chỉ con người Tây Nguyên trong sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc. Thông qua các lớp từ ngữ chỉ người khảo sát, tác giả lần lượt lí giải những đặc điểm ý nghĩa gắn với đặc trưng văn hoá tư duy của con người Tây Nguyên. Chọn tư 7 liệu là tục ngữ Việt, tác giả Đỗ Thị Kim Liên [78] tìm hiểu về những từ ngữ thể hiện quan niệm về nữ giới. Thông qua các kết quả nghiên cứu, hình tượng người phụ nữ Việt Nam hiện lên sinh động và chân thực qua những từ ngữ này.
- Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật, thực vật là một trong những nội dung được quan tâm đặc biệt. Minh chứng cho điều này là có rất nhiều các công trình nghiên cứu ra đời. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật có thể kể đến các tác giả như: Nguyễn Bích Hà [49], Hoàng Trọng Canh [9] [10], Nguyễn Văn Nở [91], Đỗ Thị Hoà [60], Trịnh Thị Cẩm Lan [71], Triều Nguyên [89], Nguyễn Thị Bạch Dương [30]. Tác giả Hoàng Trọng Canh khi khảo sát lớp từ ngữ chỉ nghề biển đã đưa ra một số tiêu chí để nhận diện các lớp từ chỉ nghề biển, trong đó có các từ chỉ loài vật sống ở biển.
Từ kết quả khảo sát, phân loại và phân tích 1911 từ nghề biển Thanh - Nghệ - Tĩnh, tác giả chỉ ra đặc điểm cấu tạo của lớp từ này trong phương ngữ và thông qua đó khẳng định thế giới thực tại trong con mắt của người Nghệ Tĩnh (qua chính tên gọi và cách gọi tên). Tác giả Nguyễn Văn Nở [91]ư trong công trình “Biểu trưng trong tục ngữ người Việt” đã tìm ra cơ chế tạo nghĩa biểu trưng và chỉ ra phần lớn hình ảnh động vật được dùng với nghĩa biểu trưng. Cơ chế để tạo nên nghĩa biểu trưng này là dựa vào mối quan hệ liên tưởng tương đồng về đặc điểm hay thuộc tính của chúng. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật trong truyện đồng thoại, tác giả Nguyễn Thị Bạch Dương [30] dựa trên 812 truyện đồng thoại Việt Nam và tiến hành thống kê, phân loại, xác lập và mô tả đặc điểm của các tiểu trường thuộc trường từ vựng động vật.
Từ việc phân tích những đặc điểm cơ bản của trường từ vựng ĐV, tác giả đã chỉ ra những giá trị nổi bật của trường từ vựng trong truyện đồng thoại về các phương diện phát triển ngôn ngữ, nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ đối với trẻ em. 8 - Nghiên cứu về từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt có thể kể đến các tác giả như: Cao Thị Thu [110], Bùi Minh Toán [111], [112], Đặng Thị Hảo Tâm [99],. Tác giả Cao Thị Thu [110] dựa vào “Từ điển tiếng Việt” đã tiến hành khảo sát 657 tên gọi thực vật phổ biến, phân tích các đặc điểm định danh và đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ này. Nghiên cứu nhóm từ ngữ chỉ thực vật trong tác phẩm văn học, tác giả Bùi Minh Toán [112] đã khảo sát 58 từ thuộc trường từ vựng chỉ cỏ cây trong truyện Kiều và phân loại thành 3 tiểu trường: tiểu trường tên gọi khái quát của cỏ cây, tiểu trường tên gọi cụ thể các loài cỏ cây và tiểu trường tên gọi các bộ phận của cỏ cây.
Dựa trên kết quả phân tích, nhận định, tác giả nhận thấy các từ thuộc ba tiểu trường trên đã tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ sâu sắc và qua đó “có thể nhận thấy một đặc điểm trong cách tri nhận và cảm thụ của người Việt Nam thông qua cỏ cây để thể hiện con người, hay nhìn nhận con người như cỏ cây, là cỏ cây. Điều này có sự thống nhất với tín hiệu cỏ cây ở nhiều lĩnh vực khác trong kho tàng văn hóa dân tộc”. Cũng dựa trên tư liệu là tác phẩm văn học, tác giả Đặng Thị Hảo Tâm [99] đã vận dụng lí thuyết trường nghĩa để nhận diện, miêu tả các tiểu trường thực vật trong thơ Nôm đường luật. Với việc xác lập các tiêu chí phân loại trường nghĩa như đặc điểm sinh học của thực vật (đặc điểm tự nhiên) và đặc điểm tâm lí - văn hóa, tác giả đã phân loại và xác lập được 5 tiểu trường thuộc trường từ vựng ngữ nghĩa thực vật , đồng thời nhận diện các hiện tượng chuyển nghĩa trong từng tiểu loại.
- Nghiên cứu các từ ngữ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội cũng là nội dung thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như: Nguyễn Văn An [3], Nguyễn Phương Anh [6], Hoàng Trọng Canh [9], Lê Thị Hà [50], Chu Thị Hảo [54], Trần Thị Mai [82], Trịnh Sâm [97], Đặng Thị Hảo Tâm [99], Hồ Xuân Tuyên [123], Đinh Thị Trang [124],. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ nghề gốm ở Thổ Hà, tác giả Nguyễn Văn An [3] đã tiến hành thống kê, phân loại và phân tích đặc điểm định danh và đặc 9 điểm ngữ nghĩa của từ ngữ được dùng trong nghề gốm ở đây. Từ đó, tác giả đã chỉ ra một số nét đặc trưng văn hoá – ngôn ngữ của người dân vùng Kinh Bắc. Tác giả Hoàng Trọng Canh [9] lại hướng tới việc phân tích đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ công cụ phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất của người Nghệ - Tĩnh.
Tác giả Đặng Thị Hảo Tâm [99] khi tìm hiểu về trường từ vựng - ngữ nghĩa món ăn trên cơ sở thống kê, phân loại đã chỉ ra các đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa của tên gọi các món ăn,. từ đó rút ra nhận định về ý niệm con người. Hướng nghiên cứu thứ hai, nghiên cứu đối sánh giữa một nhóm từ tiếng Việt với nhóm từ tương đương thuộc các ngôn ngữ khác để chỉ ra sự khác biệt đặc trưng văn hoá dân tộc và tư duy ẩn đằng sau lớp ngôn từ đó. Có thể kể đến các tác giả thuộc hướng nghiên cứu này như: Chănphômavông [14], Nguyễn Thuý Khanh [69], Phan Văn Quế [95], Nguyễn Thanh Tùng [122], Nguyễn Thế Truyền [125], Nguyễn Ngọc Vũ [129], … Tác giả Nguyễn Thuý Khanh [69] đã tiến hành khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống nhóm từ chỉ tên gọi động vật trong tiếng Việt so sánh với nhóm từ chỉ tên gọi động vật trong tiếng Nga để tìm ra nét đặc trưng văn hóa tư duy của mỗi dân tộc.