ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT TRONG CA KHÚC TIẾNG VIỆT DÀNH CHO THIẾU NHI

Chuyên khảo phân tích Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng việt dành cho thiếu nhi, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2020

219
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Những nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt

1.3. Những nghiên cứu về ngôn ngữ trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi

1.4. Cơ sở ngôn ngữ học

1.5. Cơ sở âm nhạc và tâm lí - giáo dục học

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ CÁCH GỌI SỰ VẬT QUA CÁC TỪ NGỮ TRONG CA KHÚC TIẾNG VIỆT DÀNH CHO THIẾU NHI

2.1. Đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi

2.2. Khái quát về kết quả thống kê - phân loại

2.3. Đặc điểm cấu tạo của các từ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi

2.4. Đặc điểm cấu tạo của các ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi

2.5. Đặc điểm của cách gọi sự vật qua các từ ngữ trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi

2.6. Khái quát về kết quả khảo sát

2.7. Miêu tả cách gọi sự vật qua từ ngữ trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT TRONG CA KHÚC TIẾNG VIỆT DÀNH CHO THIẾU NHI

3.1. Khái quát về các nhóm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi

3.2. Từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi

3.3. Từ ngữ chỉ “người”

3.4. Từ ngữ chỉ động vật và bộ phận cơ thể động vật

3.5. Từ ngữ chỉ thực vật và bộ phận thực vật

3.6. Từ ngữ chỉ đồ vật và các chi tiết của đồ vật

3.7. Từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng

3.8. Các biểu tượng thường gặp

3.9. Biểu tượng trên cơ sở các từ ngữ chỉ động vật

3.10. Biểu tượng trên cơ sở các từ ngữ chỉ thực vật

3.11. Biểu tượng trên cơ sở các từ ngữ chỉ đồ vật

3.12. Biểu tượng trên cơ sở các từ ngữ chỉ hiện tượng thiên nhiên

3.13. Biểu tượng trên cơ sở các từ ngữ chỉ người

4. CHƯƠNG 4: VAI TRÒ GIÁO DỤC CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT TRONG CA KHÚC TIẾNG VIỆT DÀNH CHO THIẾU NHI

4.1. Khái quát về vai trò của ca khúc trong giáo dục tri thức đời sống và nhân cách

4.2. Vai trò của ca khúc trong giáo dục tri thức đời sống và nhân cách cho thiếu nhi Việt Nam

4.3. Sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật đối với việc hình thành, phát triển kĩ năng tiếng Việt của thiếu nhi

4.4. Sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc đối với việc nâng cao nhận thức về thế giới của thiếu nhi

4.5. Các từ ngữ chỉ sự vật góp phần giáo dục nhân cách và định hướng các giá trị thẩm mĩ cho thiếu nhi

4.6. Sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật đối với việc giải trí của thiếu nhi

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Án Đặc Điểm Từ Ngữ Chỉ Sự Vật 55 ký tự

Luận án tập trung vào từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi tiếng Việt, một lĩnh vực nghiên cứu còn nhiều tiềm năng. Nghiên cứu này không chỉ quan trọng về mặt ngôn ngữ học mà còn có ý nghĩa lớn trong việc hiểu cách trẻ em tiếp nhận thế giới xung quanh thông qua âm nhạc. Âm nhạc, đặc biệt là ca khúc thiếu nhi, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tri thức, nhân cách và thẩm mỹ cho trẻ. Các ca khúc không chỉ mang tính giải trí mà còn là phương tiện giáo dục hiệu quả, đặc biệt ở bậc tiểu học và trung học cơ sở. Ca từ trong các tác phẩm này có sức hấp dẫn riêng, và việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật là một hướng đi đầy ý nghĩa. Luận án 'Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi' được chọn làm đề tài nghiên cứu nhằm khai thác sâu hơn về ngôn ngữ trong ca khúc thiếu nhi.

1.1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu từ ngữ trong ca khúc

Nghiên cứu từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi giúp hiểu rõ hơn về cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong một loại hình văn bản đặc biệt. Nó cũng giúp chúng ta hiểu cách các sự vật được gọi tên và miêu tả trong ca khúc thiếu nhi, từ đó gợi ý những hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Theo tài liệu gốc, 'Một phần của sự hấp dẫn trong các CK là ở ca từ của các tác phẩm. Vì vậy, việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong các CK tiếng Việt dành cho TN là một hướng nghiên cứu mang nhiều ý nghĩa, không chỉ từ phương diện nghệ thuật âm nhạc, tâm lí học, mà đặc biệt hữu ích đối với Ngôn ngữ học trong những nghiên cứu liên ngành với Giáo dục học'. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ về mặt cấu trúc mà còn về ảnh hưởng của nó đối với người nghe, đặc biệt là trẻ em.

1.2. Tại sao nghiên cứu này lại quan trọng

Việc nghiên cứu từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi chưa được khai thác một cách chuyên sâu. Đa phần các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào các khía cạnh khác của ca khúc hoặc ngôn ngữ học nói chung. Nghiên cứu này sẽ đóng góp vào việc lấp đầy khoảng trống tri thức này, mang lại cái nhìn toàn diện hơn về cách ngôn ngữ được sử dụng để tạo nên những tác phẩm âm nhạc phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi. Như tài liệu đã nêu, 'Tuy vậy, việc tìm hiểu chuyên biệt về các từ ngữ chỉ sự vật trong các CK tiếng Việt dành cho TN vẫn chưa có. Nghiên cứu các từ ngữ này có thể giúp hiểu rõ hơn về ca từ trong một loại văn bản nghệ thuật, về cách gọi các sự vật trong văn bản, có thể gợi ý hướng để hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và nghệ thuật sử dụng ngôn từ.'

II. Thách Thức Phân Tích Ngữ Nghĩa Ca Khúc Thiếu Nhi 58 ký tự

Nghiên cứu từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi tiếng Việt đối diện với nhiều thách thức. Thứ nhất, việc xác định phạm vi nghiên cứu đòi hỏi sự cẩn trọng để chọn lọc những ca khúc tiêu biểu, phản ánh đúng đặc điểm ngôn ngữ của thể loại này. Thứ hai, việc phân tích ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ sự vật đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về ngữ cảnh văn hóa và tâm lý trẻ thơ. Thứ ba, cần có phương pháp tiếp cận liên ngành, kết hợp kiến thức ngôn ngữ học, âm nhạc học, giáo dục học và tâm lý học để có cái nhìn toàn diện. Một trong những khó khăn chính là sự đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ, từ cách diễn đạt đơn giản, trực tiếp đến những hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng. Luận án này cần vượt qua những thách thức để đưa ra những kết luận có giá trị.

2.1. Xác định phạm vi và đối tượng nghiên cứu phù hợp

Việc lựa chọn ca khúc thiếu nhi để phân tích đòi hỏi phải xác định rõ tiêu chí lựa chọn. Cần chọn những ca khúc có tính đại diện cao, phản ánh đúng phong cách ngôn ngữ và chủ đề thường gặp trong thể loại này. Đồng thời, cần xem xét đến yếu tố thời gian, lựa chọn các ca khúc từ nhiều giai đoạn khác nhau để có cái nhìn tổng quan về sự phát triển của từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi tiếng Việt. Theo tài liệu gốc, phạm vi khảo sát bao gồm 'Tổng tập bài hát TN Việt Nam bao gồm: Giai điệu thần tiên (các tập 1,2,3,4, Hội Âm nhạc Hà Nội, Nxb GD Việt Nam, 2013; 50 bài hát nhi đồng được yêu thích, Nxb Âm nhạc; Trẻ thơ hát, Cù Minh Nhật tuyển soạn, Nxb Âm nhạc)… Tổng cộng là 736 bài.' Điều này cho thấy sự đầu tư kỹ lưỡng trong việc thu thập dữ liệu.

2.2. Giải mã ngữ nghĩa trong ngữ cảnh văn hóa và tâm lý

Việc phân tích ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi không chỉ dừng lại ở việc giải thích nghĩa đen của từ ngữ mà còn phải xem xét đến ý nghĩa biểu tượng và cảm xúc mà chúng mang lại. Điều này đòi hỏi sự am hiểu về văn hóa Việt Nam và tâm lý trẻ thơ. Ví dụ, một hình ảnh con trâu có thể không chỉ đơn thuần là một con vật mà còn là biểu tượng của sự cần cù, chịu khó. Việc giải mã những ý nghĩa này giúp hiểu sâu hơn về cách ca khúc thiếu nhi tác động đến nhận thức và cảm xúc của trẻ.

III. Cách Phân Loại Từ Ngữ Chỉ Sự Vật Hiệu Quả 60 ký tự

Luận án này đề xuất một phương pháp phân loại từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi dựa trên các tiêu chí như: cấu tạo từ (từ đơn, từ ghép, từ láy), loại sự vật (người, động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng tự nhiên), và chức năng ngữ nghĩa (miêu tả, biểu cảm, tượng trưng). Việc phân loại này giúp hệ thống hóa dữ liệu, tạo cơ sở cho việc phân tích sâu hơn về đặc điểm của từ ngữ chỉ sự vật. Bên cạnh đó, phương pháp này còn giúp so sánh và đối chiếu cách sử dụng từ ngữ trong các ca khúc thiếu nhi khác nhau, từ đó rút ra những kết luận mang tính tổng quát.

3.1. Phân loại theo cấu tạo từ Từ đơn từ ghép và từ láy

Phân loại từ ngữ chỉ sự vật theo cấu tạo từ giúp chúng ta hiểu về sự phong phú và đa dạng của từ vựng trong ca khúc thiếu nhi. Các từ đơn thường mang nghĩa gốc, biểu thị những sự vật cơ bản. Các từ ghép và từ láy lại mang sắc thái biểu cảm và miêu tả chi tiết hơn. Ví dụ, từ 'hoa' là từ đơn, trong khi 'hoa sen' là từ ghép và 'long lanh' là từ láy. Theo luận án, cần 'Miêu tả đặc điểm của các từ ngữ (chỉ sự vật) về đặc điểm cấu tạo, cách gọi sự vật và đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ sự vật, trong các CK dành cho TN.'

3.2. Phân loại theo loại sự vật Người động vật thực vật ...

Phân loại từ ngữ chỉ sự vật theo loại sự vật giúp chúng ta xác định những chủ đề và đối tượng nào thường được đề cập đến trong ca khúc thiếu nhi. Ví dụ, các bài hát về động vật có thể tập trung vào việc miêu tả hình dáng, tiếng kêu hoặc thói quen của chúng. Các bài hát về thực vật có thể nhấn mạnh vẻ đẹp, hương thơm hoặc vai trò của chúng trong tự nhiên. Như vậy, phương pháp này sẽ giúp luận án 'Khảo sát, thống kê, phân loại,… các từ ngữ chỉ sự vật trong CK dành cho TN.'

IV. Ứng Dụng Giáo Dục Tri Thức Qua Ca Khúc 55 ký tự

Việc sử dụng từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc giáo dục tri thức đời sống, nhân cách và thẩm mỹ cho trẻ. Các ca khúc giúp trẻ nhận biết và gọi tên các sự vật xung quanh, từ đó mở rộng vốn từ vựng và phát triển khả năng ngôn ngữ. Đồng thời, các ca khúc còn giúp trẻ hiểu về mối quan hệ giữa các sự vật, về giá trị đạo đức và vẻ đẹp của cuộc sống. Việc nghiên cứu này giúp nhấn mạnh vai trò của âm nhạc trong giáo dục.

4.1. Mở rộng vốn từ vựng và phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Ca khúc thiếu nhi là nguồn cung cấp từ ngữ chỉ sự vật phong phú và đa dạng cho trẻ. Thông qua việc nghe và hát các ca khúc, trẻ em tiếp xúc với nhiều từ mới, cách diễn đạt khác nhau, từ đó mở rộng vốn từ vựng và phát triển khả năng ngôn ngữ. Theo tài liệu gốc, 'Sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật đối với việc hình thành, phát triển kĩ năng tiếng Việt của thiếu nhi' là một trong những vai trò quan trọng của ca khúc.

4.2. Giáo dục nhân cách và thẩm mỹ cho thiếu nhi

Ca khúc thiếu nhi không chỉ cung cấp thông tin về các sự vật mà còn truyền tải những giá trị đạo đức và thẩm mỹ. Các ca khúc có thể dạy trẻ về tình yêu thương gia đình, bạn bè, lòng biết ơn, sự trung thực và tinh thần lạc quan. Đồng thời, các ca khúc còn giúp trẻ cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống và con người. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng 'Các từ ngữ chỉ sự vật góp phần giáo dục nhân cách và định hướng các giá trị thẩm mĩ cho thiếu nhi.'

V. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Ngôn Ngữ Tương Lai 58 ký tự

Nghiên cứu về đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi tiếng Việt không chỉ có ý nghĩa trong việc hiểu rõ hơn về ngôn ngữ nghệ thuật mà còn mở ra những hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực ngôn ngữ học, giáo dục học và âm nhạc học. Các nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc so sánh từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi của Việt Nam với các quốc gia khác, hoặc nghiên cứu về sự thay đổi của ngôn ngữ trong ca khúc thiếu nhi theo thời gian.

5.1. So sánh ngôn ngữ ca khúc thiếu nhi Việt Nam và quốc tế

Nghiên cứu so sánh từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi của Việt Nam với các quốc gia khác có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự khác biệt văn hóa và cách tư duy của trẻ em ở các quốc gia khác nhau. Đồng thời, nghiên cứu này còn giúp chúng ta học hỏi những kinh nghiệm tốt trong việc sử dụng ngôn ngữ để sáng tác ca khúc thiếu nhi hấp dẫn và bổ ích.

5.2. Nghiên cứu sự thay đổi của ngôn ngữ theo thời gian

Nghiên cứu sự thay đổi của từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi theo thời gian có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự phát triển của ngôn ngữ và xã hội Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu này còn giúp chúng ta đánh giá được những tác động của các yếu tố văn hóa, xã hội đến ngôn ngữ trong ca khúc thiếu nhi.

12/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt Xuất phát từ việc vận dụng lí thuyết hệ thống - cấu trúc của F. Saussure, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay hướng sự quan tâm của mình sang hướng nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống các đơn vị ngôn ngữ gắn với một đối tượng cụ thể.

Theo đó, những nghiên cứu thuộc hướng đi này một mặt sẽ làm sáng tỏ cấu trúc nội tại và các mối quan hệ của các đơn vị ngôn ngữ trên phạm vi ngữ liệu cụ thể; mặt khác sẽ là minh chứng để khẳng định hệ thống lí luận ngôn ngữ. Các từ ngữ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt cũng được tìm hiểu trên nhiều bình diện. Tìm hiểu các từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Qua quá trình thu thập tư liệu liên quan đến từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt, luận án nhận thấy có hai hướng tìm hiểu cơ bản: thứ nhất, nghiên cứu về một trường hoặc một nhóm từ ngữ tiếng Việt để chỉ ra đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của các từ ngữ; thứ hai, nghiên cứu đối sánh giữa một nhóm từ tiếng Việt với nhóm từ tương đương thuộc các ngôn ngữ khác để chỉ ra sự khác biệt về đặc trưng văn hoá dân tộc và tư duy ẩn đằng sau lớp ngôn từ đó.

Hướng nghiên cứu thứ nhất, nghiên cứu về một trường từ hoặc một nhóm từ ngữ tiếng Việt được tiến hành theo nhiều lớp từ ngữ dựa vào đặc trưng của các tiểu nhóm từ ngữ. Nói cách khác, hướng nghiên cứu này gồm các nghiên cứu về các tiểu trường khác nhau như: nghiên cứu về từ ngữ chỉ người, từ ngữ chỉ động vật, từ ngữ chỉ thực vật, từ ngữ chỉ đồ vật,… Để tiến hành tìm hiểu, các nhà nghiên cứu đã dựa trên ngữ liệu là khảo sát trong kho từ vựng tiếng Việt và thông qua các tác phẩm văn chương. - Nghiên cứu về từ ngữ chỉ người là nội dung nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu như: tác giả Phạm Tất Thắng [102] đã tiến hành 6 nghiên cứu đặc điểm của lớp từ tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt. Dựa vào một số khái niệm cơ bản của danh xưng học và vấn đề nghiên cứu danh xưng ở Việt Nam, tác giả đã chỉ ra: tên chính danh người Việt được cấu tạo dưới hình thức một tổ hợp định danh; thành tố và danh tố là những tổ hợp được dùng để định danh tên người.

Từ đó, tác giả phân loại và miêu tả đặc điểm cấu tạo của 5 kiểu tên gọi có độ dài ứng với từ 2 đến 6 thành tố và ứng với 5 kiểu tên gọi đó có 13 khuôn cấu trúc khác nhau. Với tư cách là đơn vị định danh tên người Việt, chính danh được là đơn vị có nghĩa. Ý nghĩa của tên người thường mang tính chất biểu trưng hay giá trị biểu trưng. Tìm hiểu chính danh trong quá trình hoạt động, tác giả nhận xét: chính danh người Việt được sử dụng một cách linh hoạt hơn so với các hiện tượng ngôn ngữ khác cùng loại.

Tác giả Nguyễn Đức Tồn [114], [115], [117] đã hướng sự quan tâm của mình về đối tượng này ở các nội dung như: đặc điểm danh học và ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ “sự kết thúc cuộc đời của con người” hay tên gọi bộ phận cơ thể trong tiếng Việt với việc biểu trưng tâm lí - tình cảm,… Bên cạnh việc chỉ ra các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa tác giả còn làm rõ đặc trưng văn hoá tư duy của người Việt. Tác giả Phạm Thị Hoà [61] nghiên cứu về hiện tượng nhiều nghĩa trong trường từ vựng chỉ người, tập trung vào các động từ nhiều nghĩa có nghĩa nói năng. Tác giả đã xác định các nghĩa khác nhau của từ và phân tích tìm ra hiện tượng nhiều nghĩa của động từ nói năng. Đối với các động từ nhiều nghĩa thì cơ chế chuyển nghĩa chủ yếu là hoán dụ, chẳng hạn: nói, bảo, báo, kể,…; đối với động từ vật lí khi chuyển sang nghĩa nói năng, đặc trưng chung là cơ chế ẩn dụ.

Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền [57] nghiên cứu về trường từ vựng chỉ con người Tây Nguyên trong sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc. Thông qua các lớp từ ngữ chỉ người khảo sát, tác giả lần lượt lí giải những đặc điểm ý nghĩa gắn với đặc trưng văn hoá tư duy của con người Tây Nguyên. Chọn tư 7 liệu là tục ngữ Việt, tác giả Đỗ Thị Kim Liên [78] tìm hiểu về những từ ngữ thể hiện quan niệm về nữ giới. Thông qua các kết quả nghiên cứu, hình tượng người phụ nữ Việt Nam hiện lên sinh động và chân thực qua những từ ngữ này.

- Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật, thực vật là một trong những nội dung được quan tâm đặc biệt. Minh chứng cho điều này là có rất nhiều các công trình nghiên cứu ra đời. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật có thể kể đến các tác giả như: Nguyễn Bích Hà [49], Hoàng Trọng Canh [9] [10], Nguyễn Văn Nở [91], Đỗ Thị Hoà [60], Trịnh Thị Cẩm Lan [71], Triều Nguyên [89], Nguyễn Thị Bạch Dương [30]. Tác giả Hoàng Trọng Canh khi khảo sát lớp từ ngữ chỉ nghề biển đã đưa ra một số tiêu chí để nhận diện các lớp từ chỉ nghề biển, trong đó có các từ chỉ loài vật sống ở biển.

Từ kết quả khảo sát, phân loại và phân tích 1911 từ nghề biển Thanh - Nghệ - Tĩnh, tác giả chỉ ra đặc điểm cấu tạo của lớp từ này trong phương ngữ và thông qua đó khẳng định thế giới thực tại trong con mắt của người Nghệ Tĩnh (qua chính tên gọi và cách gọi tên). Tác giả Nguyễn Văn Nở [91]ư trong công trình “Biểu trưng trong tục ngữ người Việt” đã tìm ra cơ chế tạo nghĩa biểu trưng và chỉ ra phần lớn hình ảnh động vật được dùng với nghĩa biểu trưng. Cơ chế để tạo nên nghĩa biểu trưng này là dựa vào mối quan hệ liên tưởng tương đồng về đặc điểm hay thuộc tính của chúng. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật trong truyện đồng thoại, tác giả Nguyễn Thị Bạch Dương [30] dựa trên 812 truyện đồng thoại Việt Nam và tiến hành thống kê, phân loại, xác lập và mô tả đặc điểm của các tiểu trường thuộc trường từ vựng động vật.

Từ việc phân tích những đặc điểm cơ bản của trường từ vựng ĐV, tác giả đã chỉ ra những giá trị nổi bật của trường từ vựng trong truyện đồng thoại về các phương diện phát triển ngôn ngữ, nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ đối với trẻ em. 8 - Nghiên cứu về từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt có thể kể đến các tác giả như: Cao Thị Thu [110], Bùi Minh Toán [111], [112], Đặng Thị Hảo Tâm [99],. Tác giả Cao Thị Thu [110] dựa vào “Từ điển tiếng Việt” đã tiến hành khảo sát 657 tên gọi thực vật phổ biến, phân tích các đặc điểm định danh và đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ này. Nghiên cứu nhóm từ ngữ chỉ thực vật trong tác phẩm văn học, tác giả Bùi Minh Toán [112] đã khảo sát 58 từ thuộc trường từ vựng chỉ cỏ cây trong truyện Kiều và phân loại thành 3 tiểu trường: tiểu trường tên gọi khái quát của cỏ cây, tiểu trường tên gọi cụ thể các loài cỏ cây và tiểu trường tên gọi các bộ phận của cỏ cây.

Dựa trên kết quả phân tích, nhận định, tác giả nhận thấy các từ thuộc ba tiểu trường trên đã tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ sâu sắc và qua đó “có thể nhận thấy một đặc điểm trong cách tri nhận và cảm thụ của người Việt Nam thông qua cỏ cây để thể hiện con người, hay nhìn nhận con người như cỏ cây, là cỏ cây. Điều này có sự thống nhất với tín hiệu cỏ cây ở nhiều lĩnh vực khác trong kho tàng văn hóa dân tộc”. Cũng dựa trên tư liệu là tác phẩm văn học, tác giả Đặng Thị Hảo Tâm [99] đã vận dụng lí thuyết trường nghĩa để nhận diện, miêu tả các tiểu trường thực vật trong thơ Nôm đường luật. Với việc xác lập các tiêu chí phân loại trường nghĩa như đặc điểm sinh học của thực vật (đặc điểm tự nhiên) và đặc điểm tâm lí - văn hóa, tác giả đã phân loại và xác lập được 5 tiểu trường thuộc trường từ vựng ngữ nghĩa thực vật , đồng thời nhận diện các hiện tượng chuyển nghĩa trong từng tiểu loại.

- Nghiên cứu các từ ngữ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội cũng là nội dung thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như: Nguyễn Văn An [3], Nguyễn Phương Anh [6], Hoàng Trọng Canh [9], Lê Thị Hà [50], Chu Thị Hảo [54], Trần Thị Mai [82], Trịnh Sâm [97], Đặng Thị Hảo Tâm [99], Hồ Xuân Tuyên [123], Đinh Thị Trang [124],. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ nghề gốm ở Thổ Hà, tác giả Nguyễn Văn An [3] đã tiến hành thống kê, phân loại và phân tích đặc điểm định danh và đặc 9 điểm ngữ nghĩa của từ ngữ được dùng trong nghề gốm ở đây. Từ đó, tác giả đã chỉ ra một số nét đặc trưng văn hoá – ngôn ngữ của người dân vùng Kinh Bắc. Tác giả Hoàng Trọng Canh [9] lại hướng tới việc phân tích đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ công cụ phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất của người Nghệ - Tĩnh.

Tác giả Đặng Thị Hảo Tâm [99] khi tìm hiểu về trường từ vựng - ngữ nghĩa món ăn trên cơ sở thống kê, phân loại đã chỉ ra các đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa của tên gọi các món ăn,. từ đó rút ra nhận định về ý niệm con người. Hướng nghiên cứu thứ hai, nghiên cứu đối sánh giữa một nhóm từ tiếng Việt với nhóm từ tương đương thuộc các ngôn ngữ khác để chỉ ra sự khác biệt đặc trưng văn hoá dân tộc và tư duy ẩn đằng sau lớp ngôn từ đó. Có thể kể đến các tác giả thuộc hướng nghiên cứu này như: Chănphômavông [14], Nguyễn Thuý Khanh [69], Phan Văn Quế [95], Nguyễn Thanh Tùng [122], Nguyễn Thế Truyền [125], Nguyễn Ngọc Vũ [129], … Tác giả Nguyễn Thuý Khanh [69] đã tiến hành khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống nhóm từ chỉ tên gọi động vật trong tiếng Việt so sánh với nhóm từ chỉ tên gọi động vật trong tiếng Nga để tìm ra nét đặc trưng văn hóa tư duy của mỗi dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ