phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận tốt nghiệp đƣợc chia làm 03 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tƣ vào phát triển du lịch cấp huyện. Phân tích lợi thế của huyện Kim Bôi trong phát triển du lịch (giai đoạn 2016-2020) Chƣơng 3. Đề xuất phƣơng pháp thu hút vốn đầu tƣ phát triển du lịch huyện Kim Bôi (định hƣớng tới năm 2030) 4 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ VÀO PHÁT TRIỂN DU LỊCH CẤP HUYỆN 1.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thu hút vồn đầu tƣ vào phát triển du lịch ở cấp huyện.1 Tìm hiểu về phát triển du lịch 1.1 Khái niệm Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, cùng với sự phát triển của xã hội đặc biệt là sự phát triển của khoa học kỹ thuật và cơ cấu công nghiệp, số lƣợng du khách ngày càng nhiều và khái niệm đi du lịch càng ngày càng mang tính quần chúng hoá. Yêu cầu về chỗ ăn, ở, vui chơi, giải trí… cho du khách ngày càng trở nên cấp thiết. Khi đó du lịch không còn là hiện tƣợng nhân văn mà còn là hoạt động kinh tế. Trên góc độ này du lịch đƣợc hiểu:“Du lịch là toàn bộ những hoạt động và công việc đƣợc phối hợp với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách” Du lịch càng phát triển thì những hoạt động này càng phong phú và gắn bó với nhau hơn tạo nên một ngành “công nghiệp không khói”.
Cho đến nay hoạt động du lịch đƣợc hiểu không chỉ là hoạt động nhân văn; hoạt động kinh tế mà còn là một ngành công nghiệp. Ở Việt Nam, với mục đích tạo thuận lợi trong việc phát triển du lịch trong nƣớc và du lịch quốc tế, tăng cƣờng quản lý Nhà nƣớc về du lịch, tại khoản 1 điều 3 Luật du lịch Việt Nam 2017, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.”[1] Trên thực tế các khái niệm trên chỉ mới mô tả du lịch theo hiện tƣợng bên ngoài của nó. Để phản ánh mối quan hệ bản chất bên trong làm cơ sở cho việc nghiên cứu chúng ta có thể hiểu khái quát nhất về khái niệm của du lịch nhƣ 5 Luan van sau: “Du lịch là tổng thể những hiện tƣợng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cƣ địa phƣơng trong quá trình thu hút và lƣu giữ khách du lịch” 1. Đặc điểm của ngành du lịch - Tiêu dùng của ngành du lịch xảy ra cùng không gian và thời gian với nơi cung cấp sản phẩm du lịch.
- Du lịch là một ngành có tính thời vụ cao - Phát triển du lịch vừa mang mục tiêu kinh tề vừa mang mục tiêu xã hội. - Phát triển du lịch mang tính xã hội sâu sắc và nhiều thành phần kinh tế tham gia. - Hoạt động đầu tƣ phát triển ngành du lịch đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tƣ, lao động lớn, thời gian đầu tƣ kéo dài. Vai trò của du lịch với kinh tế - xã hội - Về kinh tế: Du lịch có tác động tích cực đến nền kinh tế thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch, góp phần làm sống động kinh tế ở nơi du lịch, từ đó kích thích tăng cƣờng huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào chu chuyển.Hoạt động du lịch có tác động tích cực đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác nhƣ sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp, công nghiệp gỗ, dệt, thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ…Ngoài ra du lịch phát triển còn tác động đến sự phát triển của y tế, văn hoá, thƣơng mại, ngân hàng, giao thông vận tải… góp phần tăng thu nhập quốc dân - Về xã hội: Du lịch phát triển tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội, tăng thu nhập cho ngƣời lao động và ngƣời dân địa phƣơng.
Khi có kế hoạch khai thác tiềm năng tài nguyên để phát triển du lịch, cần thiết phải có đầu tƣ về hệ thống cơ sở hạ tầng nhƣ giao thông, điện nƣớc…Nhờ việc phát triển du lịch sẽ góp phần cải thiện đời sống của ngƣời dân ở khu vực du lịch. - Ngoài ra, phát triển du lịch quốc tế còn là phƣơng tiện quảng bá thƣơng hiệu một cách hữu hiệu cho đất nƣớc làm du lịch và mở rộng củng cố mối quan 6 Luan van hệ kinh tế đầu tƣ quốc tế. Du lịch nội địa phát triển tạo điều kiện để tái sản xuất sức lao động cho nhân dân, góp phần tăng năng suất lao động - Cuối cùng, đối với bản thân khách du lịch: du lịch giúp con ngƣời nghỉ ngơi, giải trí thƣ giãn sau những thời gian lao động mệt nhọc. Không chỉ có vậy, du lịch còn giúp con ngƣời tìm hiểu thêm về các địa danh, các phong tục tập quán văn hoá bản địa.Du lịch giúp con ngƣời gần gũi với thiên nhiên hơn, biết quí trọng thiên nhiên, biết giữ gìn giá trị văn hoá.
Tìm hiểu về vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch 1. Vốn đầu tư Khái niệm Vốn đầu tƣ là vốn đƣợc huy động để thực hiện dự án đầu tƣ bao gồm vốn pháp định và vốn vay. Theo khoản 23 điều 3 Luật Đầu Tƣ năm 2020 đã đƣợc Quốc Hội thông qua, Vốn đầu tƣ là tiền và tài sản khác theo quy định của pháp luật về dân sự và điều ƣớc quốc tế mà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thực hiện hoạt động đầu tƣ kinh doanh.[2] Tóm lại, vốn đầu tƣ đƣợc hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ nguồn lực đƣa vào hoạt động của nền kinh tế xã hội, bao gồm tài nguyên, đất đai, môi trƣờng, tri thức, công nghệ và kể cả những tài sản hiện hữu nhƣ máy móc thiết bị, nhà xƣởng. Và vốn đầu tƣ hiểu theo nghĩa hẹp thì chính là nguồn lực đƣợc thể hiện bằng tiền của các cá nhân, doanh nghiệp và quốc gia.
- Phân loại vốn đầu tƣ: + Vốn đầu tƣ trực tiếp: Do nhà đầu tƣ tự bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ. Hình thức: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà nƣớc hoặc 100% vốn của nhà nƣớc đầu tƣ nƣớc ngoài. Thành lập tổ chức kinh tế liên quan giữa các nhà đầu tƣ trong nƣớc và đầu tƣ nƣớc ngoài 7 Luan van Đầu tƣ theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT. -Đầu tƣ phát triển kinh doanh Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ Đầu tƣ việc thực hiện sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
Các hình thức đầu tƣ trực tiếp khác + Vốn đầu tƣ gián tiếp: Là hình thức đầu tƣ thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu và thông qua các định chế tài chính trung gian và khác mà nhà đầu tƣ không trực tiếp đầu tƣ tham gia quản lý HĐ đầu tƣ. Hình thức : Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh,doanh nghiệp liên doanh,doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài + Nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc: là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tƣ nhân, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm chính phủ đƣợc huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội. + Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nƣớc ngoài có thể huy động đƣợc vào quá trình đầu tƣ phát triển của nƣớc sở tại. Có thể xem xét nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lƣu chuyển vốn quốc tế.
Về thực chất các dòng lƣu chuyển vốn quốc tế là biểu hiện cụ thể của quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới. Theo tính chất của dòng luân chuyển vốn, có thể phân loại nguồn vốn nƣớc ngoài chính thức nhƣ sau: Nguồn viện trợ phát triển chính thức ( ODA ) Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ( FDI ) Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FPI ) Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thƣơng mại quốc tế Đặc điểm của nguồn vốn đầu tƣ 8 Luan van Vốn đầu tƣ là một thuật ngữ thƣờng đƣợc sử dụng phổ biến trong những nghiệp có vốn đầu tƣ từ nƣớc ngoài, nó sẽ có những đặc điểm nhƣ sau: Điểm quan trọng nhất của nguồn vốn đầu tƣ chính là đem lại khả năng tìm kiếm và thu về khoản lợi nhuận lớn cho các nhà đầu tƣ. Các doanh nghiệp đầu tƣ bắt buộc phải góp đủ số vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ của công ty nhận đầu tƣ để có thể thực hiện các quyền kiểm soát hoặc tham gia vào hoạt động kinh doanh của công ty nhận đầu tƣ. Đa số các nƣớc nhận đầu tƣ đều đã và đang tạo ra hành lang pháp lý nhằm thu hút vốn đầu tƣ, từ đó đã tạo ra động lực để thúc đẩy nền kinh tế, xã hội pháp triển một cách ổn định và đồng đều vì mục đích lâu dài.
Phần trăm góp vốn đầu tƣ của các doanh nghiệp sẽ tƣơng ứng với tỷ lệ các quyền và nghĩa vụ mà các bên đƣợc hƣởng, đồng thời là các rủi ro từ hoạt động đầu tƣ mà các bên sẽ phải gánh chịu. Khoản thu nhập mà các chủ đầu tƣ thu đƣợc từ hoạt động đầu tƣ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, tuy nhiên nó mới chỉ mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ chƣa phải lợi ích. Toàn bộ hoạt động đầu tƣ đƣợc diễn ra trên nguyên tắc tự nguyện nên các chủ đầu tƣ phải tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi từ hoạt động kinh doanh.