Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương này giới thiệu khái quát vấn đề nghiên cứu; xác định mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa và nhũng đóng góp mới của nghiên cúu. Chương 2: Cơ sở khoa học và mô hình nghiên cửu Chương này tổng kết các lý thuyết và các nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh và các 8 yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp; các đặc điểm của cửa hàng tiện ích tại TP. HCM và đề xuất mô hình các yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của cửa hàng tiện ích tại TP. Chưong 3: Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày qui trình thực hiện nghiên cứu, mà nội dung trọng tâm là quá trình thực hiện các phương pháp nghiên cún định tính và nghiên cứu định lượng, bao gồm: tổ chức thảo luận nhóm tập trung; xây dựng thang đo; thiết kế mẫu nghiên cứu; thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương này trình bày quá trình và kết quả phân tích dữ liệu nghiên cứu bao gồm kết quả đánh giá sơ bộ thang đo, phân tích hồi qui mô hình lý thuyết, các giả thuyết nghiên cứu và thảo luận kết quả của nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và một số hàmỹ quản trị-. Chương này tóm tắt các kết quả chính đã được thông quá trình của nghiên cứu; các hàm ý của nghiên cứu, cùng những hạn chế của nghiên cứu và định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. CO SỎ KHOA HỌC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.
Cạnh tranh và lọi thế cạnh tranh 2. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là van đề cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Sự cạnh tranh cũng xác định tính phù hợp các hoạt động của doanh nghiệp để đạt đến kết mục đích cuối cùng. Theo các quan niệm truyền thống, xuất hiện từ giữa thế kỷ 17 cho đến những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 gắn liền với các trường phái cạnh tranh cổ điển của các nhà kinh tế học Adam Smith, David Ricacrdo, Jolin Stuaart Mill, c.
Mark; trường phái cạnh tranh tân cổ điển của w. Walras; trường phái cạnh tranh dựa vào lý luận tổ chức ngành E Chamberlin và J. Tuy nhiên, dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, nhiều hình thức biểu đạt của những quan niệm này có những sự khác nhau nhất định. Tiếp cận dưới góc độ mục địch của cạnh tranh, giáo trình Kinh tế học chính trị Mác - Lê nin của hội đồng trung ương (2002), một khái niệm phản ánh được cạnh tranh với quan điểm truyền thống “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh với nhau nhằm dành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất - kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, đảm bảo sự tồn tại và phát triển chủ thể tham gia cạnh tranh'’. Tuy nhiên với quan điểm hiện đại các nhà nghiên cứu, phân tích đúc kết từ thực tiễn cạnh tranh và dự báo điều chỉnh cạnh tranh trong điều kiện mới đã có những nhìn nhận khác đi rất nhiều so với các quan điểm truyền thống trước đây.31) “Cạnh tranh là vấn đề cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Sự cạnh tranh cũng xác định tính phù hợp của các hoạt động của doanh nghiệp để đạt đến kết quả sau cùng, chẳng hạn như cải tiến, liên kết văn hóa hoặc sự thực thi đúng đắn. Chiến lược cạnh tranh là sự tìm kiếm vị thế cạnh tranh thuận lợi trong ngành - đấu trường chính của các cuộc cạnh tranh.
Chiến lược 10 cạnh tranh nhằm mục đích tạo lập một vị thế thuận lợi và bền vững trước những sức ép quyết định sự cạnh tranh trong ngành”. Như theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004, tr.l 17, 296, 297) “Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ”. Trên cơ sở đó ông cho rằng ‘Trên thị trường, nếu doanh nghiệp muốn phát triển bền vững, thì không phải cứ khư khư nghĩ đến cạnh tranh mà còn phải nghĩ đến việc liên kết”, trong đó ‘Cạnh tranh là để mang đến cho thị trường và khách hàng giá trị gia tăng cao hơn các doanh nghiệp khác và liên kết với các doanh nghiệp khác là để cùng nhau có được giá trị gia tăng cao hơn so với giá trị gia tăng doanh nghiệp đạt được nếu doanh nghiệp hoạt động riêng lẻ. Nghĩa là trên nguyên tắc “Win - Win” (hai bên cùng thắng) và “thương trường là chiến trường” không phải bao giờ cũng phù hợp trong điều kiện kinh doanh hiện nay”.Chain Kim và Renee Mauborgne (2007)‘Cạnh tranh không phải là đối đầu, tiêu diệt lẫn nhau để kết cục dẫn đen một “đại dương xanh” mà là tìm đến những khoảng trống thị trường không có cạnh tranh hoặc là cạnh tranh không cần thiết vì luật chơi chưa được thiết lập gọi là những “đại dương xanh”.
Tóm lại, những phân tích trên cho thấy trong điều kiện mới của môi trường cạnh tranh, mặc dù không hoàn toàn phủ nhận quan niệm cạnh tranh truyền thống, nhưng tư duy cạnh tranh mang đậm dấu an “đối đầu và hủy diệt” cần phải được điều chỉnh từ bản chât, phương thức đến cơ chế điều tiết cạnh tranh. Đó là chuyển từ cạnh tranh đối đầu sang cạnh tranh gắn với liên kết, hợp tác và ở phương diện quốc gia là chuyển từ cạnh tranh dựa vào lợi thế so sánh sang cạnh tranh dựa vào quy chế mậu dịch giữa các quốc gia với nhau, giữa các quốc gia với các khu vực mậu dịch, giữa các doanh nghiệp với các chính phù. Trên cơ sở đó, kết hợp giữa quan niệm truyền thống với hiện đại. Theo tác giả, những phân tích trên cho thấy cạnh tranh trong môi trường kinh tế hiện đại không hoàn toàn là sự đối đầu “một mất một còn” giữa các doanh nghiệp mà còn tồn tại sự liên kết, hợp tác hướng đến cạnh tranh để cùng tồn tại, cùng phát triển.
Khái niệm về lọi thế cạnh tranh Theo Michael E.33)“về cơ bản, lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho người mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí của doanh nghiệp đã phải bỏ ra. Giá trị là mức mà người mua sẵn lòng thanh toán, và một giá trị cao hơn xuất hiện khi doanh nghiệp chào bán các tiện ích tương đương nhưng với mức giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh; hoặc cung cấp các tiện ích độc đáo và người mua vẫn hài lòng với mức giá cao hơn bình thường”. Nền tảng cơ bản để hoạt động của doanh nghiệp đạt được mức trên trung bình trong dài hạn là lợi thế cạnh tranh bền vững.Cho dù doanh nghiệp có vô số điểm mạnh và điểm yếu trước các đối thủ khác, tựu chung lại có 2 loại lợi thế cạnh tranh mà các doanh nghiệp có thể sở hữu: Chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Điều quan trọng của bất cứ thế mạnh hay nhược điểm nào của doanh nghiệp cuối cùng vẫn là việc ảnh hưởng từ những ưu/khuyết điểm đó đến chi phí và sự khác biệt hóa có liên quan.
Lợi thế về chi phí và khác biệt hóa, đến lượt chúng lại xuất phát từ cấu trúc ngành, thể hiện khả năng của doanh nghiệp chống chọi với 5 tác lực tốt hơn các đổi thủ cạnh tranh. Hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản này kết hợp với phạm vi hoạt động của một doanh nghiệp đang theo duổi sẽ cho phép tạo ra 3 chiến lược cạnh tranh tổng quát để đạt hiệu quả hoạt động trên trung bình trong ngành: đó là chiến lược chi phí tối ưu, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung. Chiến lược tập trung lại có 2 biến thể: tập trung vào chi phí và tập trung vào khác biệt hóa”. Cũng theo Michael E.44) ‘Lợi thế cạnh tranh là tâm điểm của mọi chiến lược và để đạt được điều này thì doanh nghiệp phải lựa chọn - có nghĩa là nếu doanh nghiệp muốn giành được lợi thể cạnh tranh, họ phải xác định đó là loại lợi thế cạnh tranh nào và trong phạm vi nào.
Công thức áp dụng cho tất cả thường chỉ thấy ở những chiến lược tầm thường và đem lại hiệu quả hoạt động dưới trung bình, lý do vì điều này có nghĩa là doanh nghiệp không hề có lợi thế cạnh tranh”. 12 LỢI THẾ CẠNH TRANH Chi phí thấp Khác biệt hóa PHẠM VI Mục 1. Chi phí tồi ưu 2. Khác biệt hóa CẠNH tiêu rộng TRANH Mục tiêu 3A.
Tập trung vào 3B. Tập trung vào hẹp chi phí khác biệt hóa Hình 2.1 Các lọi thế cạnh tranh và chiến lược cạnh tranh của Porter (Nguồn: Michael E. Trang 44) Như vậy, có thể hiểu lợi thế cạnh tranh là điều kiện để doanh nghiệp thu được lợi nhuận trên mức trung bình của ngành và điều này chỉ xảy ra khi cùng một chi phí, doanh nghiệp tạo ra cho người mua một giá trị vượt trội so với các đối thủ. Vì khi đó, khách hàng sẽ chọn sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và nhờ đó doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành.
Chiến lược cạnh tranh và mục đích của nó là tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp. Vì thế, theo Michael E. 46): “Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là phải xây dựng và duy trì được lợi thế cạnh tranh bền vững. Nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị vượt trội mà không có đối thủ nào có thể cung cấp được”.
Các yếu tố quyết định lọi thế cạnh tranh của doanh nghiệp 2. Theo lý thuyết hành vi tiêu dùng của Philip Kotler Tiếp cận từ phía khách hàng, theo Philip Kotler (2001, tr. 47, 48), khách hàng sẽ mua của những doanh nghiệp nào mà họ có thể nhận được giá trị dành cho họ là cao nhất (giá tri dành cho khách hàng). Vì thế, theo Philip Kotler nhiệm vụ tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đồng nghĩa với việc tạo ra một giá trị giành cho khách hàng vượt trội so với đối thủ.
Trong đó, giá trị dành cho khách hàng là chênh lệch giữa tổng giá trị của khách hàng và tổng chi phí của khách hàng (hình 2.