Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Tình hình nghiên cứu về lợi ích kinh tế Lợi ích kinh tế là vấn đề quan trọng trong sản xuất và đời sống xã hội, nên từ lâu có nhiều tác giả nước ngoài, trong nước quan tâm nghiên cứu dưới các góc độ khoa học triết học, kinh tế chính trị, xã hội học, tâm lý học… 1. Các công trình nghiên cứu về lợi ích kinh tế ở nước ngoài + Nhóm vấn đề thứ nhất: Quan niệm và bản chất của LIKT.Mác – Angghen, động lực sâu xa nhất thúc đẩy con người hành động đó chính là LI, thật vậy, mọi hoạt động của con người luôn có động cơ nhất định.
Động cơ thúc đẩy con người hành động, hành động mạnh hay yếu tuỳ thuộc vào nhận thức và thực hiện LI của họ. Thông qua quá trình nghiên cứu cho thấy các tác giả đều thống nhất quan điểm: LI không phải là cái gì trừu tượng và có tính chủ quan, mà cơ sở của LI là nhu cầu (NC) khách quan của con người. LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan, nó xuất hiện trong những điều kiện tồn tại là mối quan hệ xã hội nhằm thực hiện nhu cầu kinh tế (NCKT) của các chủ thể kinh tế. Con người không thể tự lựa chọn, định đoạt được LIKT của mình.
LIKT là là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất trước hết là quan hệ sở hữu, vì thế LI của con người là tuỳ thuộc vào vai trò, vị trí của họ trong hệ thống quan hệ sản xuất. Những lý luận về LIKT nêu trên được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới đây: Trong tác phẩm "Vấn đề nhà ở", khi phân tích quan điểm của Proudhon về nguyên lý tối cao chi phối mọi nguyên lý khác là công lý, Ph.Ăngghen đã khẳng định LIKT là một phạm trù phản ánh quan hệ kinh tế. LIKT là hình thức biểu hiện trước hết, nên nó tác động đến các hình thức khác [4,749]. Điểm này hoàn toàn phù 7 hợp với quan điểm của C.Mác trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức: "Lợi ích là nguyên tắc điều tiết cơ bản mà các nguyên tắc khác tuân theo" [11, 481].
Như vậy, trong tất cả các LI, thì LIKT là lợi ích quan trọng nhất, LIKT được thực hiện sẽ tạo cơ sở để thực hiện các LI còn lại.Ăngghen viết: "Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình thức LI" [8,376] V.Lênin đã viết: Lợi ích của giai cấp này hay giai cấp khác được xác định một cách khách quan theo vai trò mà họ có trong hệ thống quan hệ sản xuất, theo những hoàn cảnh và điều kiện sống của họ.Chesnocov [15], là tác giả nghiên cứu LI và LIKT theo xu hướng coi LIKT gắn bó mật thiết với NCKT song LIKT không phải là NCKT. Tác giả xem xét LIKT với tư cách là một phạm trù khách quan và cho rằng: "Lợi ích là mối quan hệ khách quan của xã hội, hay của một con người riêng lẻ đối với điều kiện sống của xã hội và các NC hiện có của mình, là mối quan hệ kích thích, tác động đến tập thể hay cá nhân mỗi người nhằm bảo đảm điều kiện thuận lợi cho đời sống và sự phát triển của cá nhân hay tập thể, đấu tranh với những điều kiện cản trở sự tồn tại và phát triển của họ" [15, 127]. Nguồn gốc ra đời của LIKT chính là từ quá trình giải quyết mối quan hệ giữa NC của con người với điều kiện sống. Thông qua việc giải quyết mối quan hệ này, con người có được phương thức để tồn tại, hướng tới sự phát triển cho cá nhân và xã hội.
Quan điểm này của tác giả khá đồng nhất với một số tác giả hiện nay khi khẳng định: LIKT là một phạm trù khách quan, nó sinh ra từ NCKT, là phương thức để thỏa mãn những NC đó. Công trình có ý nghĩa lý luận quan trọng trong đề tài luận án.Lavrinenko [78], trong công trình nghiên cứu, tác giả phân tích quá trình hình thành quan hệ LI trong xã hội xuất phát từ mối quan hệ giữa LI và NC. Công trình nghiên cứu cho thấy, LI và NC luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó với nhau, quan hệ LI chỉ xuất hiện khi có quan hệ NC. Đặc biệt tác giả nhấn mạnh, NC phản ánh mối quan hệ tất yếu của xã hội và LI phản ánh mối quan hệ xã hội khi thực hiện NC.
Quan điểm này của tác giả khá đồng nhất với quan điểm của D.Chesnocov, khẳng định LIKT là một quan hệ và có nguồn gốc từ NC. Chính NC đã vạch ra "sự khởi đầu" cho LIKT và hình thành nội dung của nó. Ông 8 khẳng định: "Lợi ích là mối quan hệ khách quan của sự tự khẳng định xã hội của chủ thể" [78, 16]. Tính khách quan của LIKT thể hiện ở chỗ nó xuất hiện bên ngoài chủ thể và hoàn toàn không phụ thuộc và sự nhận thức của con người.
Theo tác giả, LIKT là một phạm trù khách quan, tính chất này không chỉ xuất phát từ nhận thức của con người, mà nó còn được khẳng định thông qua địa vị của họ trong xã hội, như: nhà tư bản nhận lợi nhuận, công nhân làm thêm nhận tiền công. Như vậy, LIKT là một phạm trù khách quan và mang tính chất giai cấp rõ rệt.man-kin [12], với những lý luận sắc bén, ông trình bày những quan điểm về LIKT một cách khoa học. Trong đó, ông đã đưa ra khái niệm LIKT: LIKT của một chủ thể nhất định là sự tác động lẫn nhau giữa các NCKT của chủ thể đó. Nghiên cứu LIKT nhưng xuất phát từ NC nào? Theo Ca.man-kin đó là NCKT, một dạng của NC vật chất đáp ứng cho sự tồn tại và phát triển của con người: "Nhu cầu về của cải vật chất, tức nhu cầu về vật chất thường được đồng nhất với NCKT.
Nhưng nó không phải là khái niệm giống nhau. Nhu cầu kinh tế không phải là nhu cầu hiện vật, mà là khía cạnh kinh tế của nhu cầu" [12, 9], từ đó tác giả khẳng định, NCKT là khái niệm ban đầu để định nghĩa LIKT. Quan niệm này đã và đang nhận được sự thống nhất trong công trình nghiên cứu của các nhà khoa học. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả còn đi sâu phân tích các LIKT và quá trình tái sản xuất lực lượng sản xuất; nghiên cứu tính khách quan của các LIKT.
Một số tác giả đã đề cập đến hình thức biểu hiện cụ thể của LIKT, như: Theo từ điển Business dictionary [111], LIKT là một phạm trù được định lượng bằng một khoản tiền như doanh thu, thu nhập,. Theo từ điển Investerwords, LIKT được biểu đạt bằng số tiền tạo ra thông qua một hoạt động của chủ thể như kinh doanh, thực hiện một chiến lược hay một hoạt động tài chính. Như vậy, LIKT được xem là một khoản tiền nhất định mà chủ thể thu được thông qua hoạt động của mình. 9 Tác giả Glen Weisbrod và David Simmonds [96], lại hiểu một cách khái quát hơn khi đánh giá LIKT dưới hình thức thiên về phúc lợi, nhóm tác giả này cho rằng: LIKT bao gồm cả những khoản tiền có được và cả những giá trị thu được nhưng không phải bằng tiền, (It can include both money benefits and non-money benefits), đây là cách hiểu rộng hơn so với các khái niệm trước.
Theo nhóm tác giả, hiểu LIKT dưới hình thức một khoản tiền thu được, đó chính là xem xét những tác động kinh tế đối với một khu vực nhất định. Ngược lại, hiểu LIKT bao gồm cả những phúc lợi đạt được sẽ có thể đánh giá cho toàn bộ nền kinh tế. + Nhóm vấn đề thứ hai, nghiên cứu về vai trò của LIKT C.Ăngghen nói về vai trò động lực của LIKT. Nghiên cứu lịch sử từ xuất phát điểm lấy con người làm yếu tố trung tâm, C.Mác và Ăngghen đã khẳng định: "Lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người theo đuổi mục đích của bản thân mình" [6,141].
Như vậy, nghiên cứu lịch sử chính là nghiên cứu bản thân con người, tìm động lực cho tiến trình phát triển của lịch sử đó cũng chính là động lực hoạt động của con người.Mác - Ăngghen, động lực sâu xa nhất thúc đẩy con người hành động đó chính là LI. Từ đó, trong hệ thống những tác phẩm, C.Mác và Ăngghen đã phân tích một cách khoa học phạm trù LI và LIKT. Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức", C.Ăngghen đã trình bày quan niệm về lịch sử nhân loại, tiền đề cơ bản cho sự phát triển của lịch sử chính là: con người, hoạt động con người và những điều kiện vật chất. Theo ông, con người muốn sáng tạo ra lịch sử trước hết phải sống, tồn tại, hoạt động mang tính chất lịch sử đầu tiên của con người chính là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt bảo đảm NC sống, cụ thể: ".
hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn nhu cầu, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất và đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay cũng như hàng nghìn năm về trước người ta thực hiện hàng ngày, hàng giờ để nhằm duy trì con người. Như vậy, NC có vai trò quan trọng, NC và LI trở thành động lực chủ yếu cho hoạt động của con người, tất cả những gì con người giành lấy đều gắn liền với LI của chính họ. Vai trò động lực này được C.Ăngghen chỉ rõ trong những cuộc đấu tranh giai cấp: "Cuộc 10 đấu tranh giai cấp giữa giai cấp chiếm hữu ruộng đất và giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, vấn đề là ở những LIKT, để thỏa mãn những LIKT thì quyền lực chính trị được sử dụng làm phương tiện đơn thuần" [9, 410]. Trong những tác phẩm của mình, C.Ăngghen còn nhấn mạnh: "xét đến cùng mọi cuộc cách mạng đều được tiến hành vì để giải phóng về LIKT" [11, 749].
Lợi ích kinh tế là một trong những vấn đề sống còn của sản xuất và đời sống. Chính những LIKT đã gắn bó con người với cộng đồng của mình và tạo ra những kích thích, những thôi thúc và khát vọng, sự say mê trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế. LIKT được nhận thức và được thực hiện thì nó trở thành động lực kinh tế thúc đẩy con người hành động.