Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Tú, hoàn thành năm 2018 tại Học viện Khoa học xã hội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Duy Đức, mang tiêu đề: "Những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ".

Về tính cấp thiết, đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi hình thành văn hóa, văn minh của người Việt và là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống, trong đó tín ngưỡng dân gian giữ vai trò cấu thành đời sống tinh thần. Loại hình này ra đời và tồn tại trên nền tảng của phương thức sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, chịu sự quy định của tồn tại xã hội và phản ánh nhận thức của người lao động về tự nhiên, con người và xã hội. Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc nghiên cứu các quy luật vận động của tín ngưỡng dân gian nhằm khẳng định giá trị tích cực và nhận diện các mặt tiêu cực là yêu cầu thực tiễn đặt ra cho công tác hoạch định chính sách. Về khoảng trống nghiên cứu, tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ đã được nhiều ngành khoa học khảo sát như văn hóa học, tôn giáo học, chính trị học và tâm lý học; tuy nhiên, hướng tiếp cận dưới góc độ triết học nhằm phân tích bản chất, các quy luật vận động và làm rõ các yếu tố triết học ẩn chứa bên trong loại hình này nhìn chung còn ít và mới dừng lại ở kết quả bước đầu.

Mục đích nghiên cứu của công trình là trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận về tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, luận án đi sâu luận giải một số yếu tố triết học, từ đó rút ra các giá trị và hạn chế của những yếu tố triết học đó. Để thực hiện mục đích này, tác giả xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Luận án tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
  2. Luận án làm rõ một số vấn đề lý luận về tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ về cơ sở hình thành, đặc điểm, phân loại tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ và xác định cơ sở lý thuyết nghiên cứu của luận án.
  3. Luận án làm rõ nội dung của một số yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ thông qua các quan niệm về tự nhiên, về con người, về xã hội.
  4. Luận án làm rõ giá trị và hạn chế của các yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là một số yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên hai phương diện:

  • Phạm vi không gian: Địa bàn đồng bằng Bắc Bộ gồm 11 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh), trải dài trong tọa độ địa lý từ 19°53'B đến 21°34'B và từ 105°17'Đ đến 107°07'Đ.
  • Phạm vi nội dung và khách thể khảo sát: Luận án giới hạn việc khảo sát các yếu tố triết học trên ba phương diện quan niệm (về tự nhiên, về con người, về xã hội) thông qua ba loại hình tín ngưỡng dân gian tiêu biểu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ là: tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng thờ Thành hoàng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được phân chia theo hai mảng nội dung chính:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về lý luận chung và các loại hình tín ngưỡng dân gian:

  • Về khái niệm tín ngưỡng dân gian: Tác giả điểm lại công trình của Nguyễn Minh San (1998) với cách tiếp cận thuật ngữ "tín ngưỡng dân dã"; công trình của Nguyễn Đăng Duy (1998, 2001) cho rằng ở Việt Nam chỉ có tín ngưỡng chứ không có tôn giáo sơ khai và không phân chia thành tín ngưỡng dân gian hay bác học; nghiên cứu của Lê Như Hoa (chủ biên, 2001) tiếp cận tín ngưỡng dân gian từ khái niệm tâm cách nguyên thủy (primitive mentality) và thuyết hồn linh của Edward Burnett Tylor; nghiên cứu của Nguyễn Đức Lữ (chủ biên, 2005) định vị tín ngưỡng dân gian là một bộ phận của văn hóa dân gian do nhân dân lao động sáng tạo ra từ kinh nghiệm cảm tính. Cùng với đó là các bài báo khoa học của Nguyễn Quốc Phẩm (1998), Hồng Nhuệ (2003), Nguyễn Tri Nguyên (2004), Hồ Bá Thâm (2005), Đặng Nghiêm Vạn (2007), Đỗ Thị Minh Thúy (2010), Nguyễn Thọ Khang (2013).
  • Về các yếu tố ảnh hưởng và ba loại hình tín ngưỡng cơ bản: Lê Như Hoa (2001) và Ngô Đức Thịnh (2001, 2004) phân tích vai trò của môi trường địa lý và nông nghiệp trồng lúa nước; Nguyễn Hùng Hậu (2002) lý giải thông qua phương thức sản xuất châu Á; Phan Kế Bính (1915) trong Việt Nam phong tục, Toan Ánh (1967) trong Nếp cũ - Tín ngưỡng Việt Nam khảo sát quy chuẩn phụng thờ; Nguyễn Duy Hinh (2004) nghiên cứu sự phân hóa giữa mô hình Thành hoàng Đường - Minh và Thành hoàng làng; Đinh Gia Khánh (1995), Vũ Ngọc Khánh (2002), Nguyễn Thị Thọ (2017) bàn về nguồn gốc mẫu hệ và vai trò người phụ nữ trong đạo Mẫu; các tư liệu cổ như Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên và Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp phản ánh quá trình thiết chế hóa tín ngưỡng từ thời Lý - Trần. Về giao lưu tư tưởng, Đinh Khắc Thuân (2014), Nguyễn Minh Tường (2013) và Doãn Hữu Minh (2017) ghi nhận ảnh hưởng của Tam giáo (Nho - Phật - Đạo) đối với các thực hành nghi lễ làng xã.

Thứ hai, các công trình tiếp cận yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian: Số lượng nghiên cứu tiếp cận trực tiếp từ góc độ triết học rất hạn chế, tiêu biểu có hai luận án tiến sĩ:

  • Công trình của Trần Đăng Sinh (2002) về "Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ", đi sâu phân tích quan niệm về vũ trụ (không gian tâm linh đa chiều, thời gian chu kỳ lễ tiết) và nhân sinh quan (đạo hiếu, sự bất tử của linh hồn) trong quan hệ làng - nước.
  • Công trình của Nguyễn Hữu Thụ (2013) về "Khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ", tập trung giải mã mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên (mô hình Mẹ - con, sự phụ thuộc và tôn kính Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thủy, Mẫu Thượng Ngàn) cùng quan niệm căn số và khát vọng giải phóng con người.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ rõ: Đa phần các công trình trước đây xem xét tín ngưỡng dân gian dưới lăng kính văn hóa dân gian hoặc xã hội học, chưa khái quát thành quy luật bản chất dưới góc độ triết học. Một số ít công trình triết học đã thực hiện chỉ dừng lại ở từng loại hình tín ngưỡng riêng lẻ (chỉ nghiên cứu thờ cúng Tổ tiên hoặc chỉ nghiên cứu thờ Mẫu). Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đồng bộ các yếu tố triết học về tự nhiên, con người và xã hội xuyên suốt trong hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử theo hệ thống lý luận Mác - Lênin, kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo:

  • Khung phân tích cốt lõi là mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, coi tín ngưỡng dân gian là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội nông nghiệp trồng lúa nước.
  • Luận án sử dụng quan điểm của Friedrich Engels về bản chất phản ánh hư ảo của các lực lượng bên ngoài vào đầu óc con người trong các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo.
  • Vận dụng lý thuyết về phương thức sản xuất châu Á của chủ nghĩa Mác, đặc biệt là các luận điểm về chế độ sở hữu tập thể ruộng đất và cơ cấu công xã nông thôn độc lập (làng xã) để lý giải căn nguyên của các biểu hiện ý thức hệ.
  • Luận án xác lập định nghĩa công cụ: Tín ngưỡng dân gian được hiểu là một bộ phận của ý thức xã hội, tồn tại dưới dạng văn hóa tinh thần, do nhân dân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất nông nghiệp, xây dựng trên cơ sở niềm tin vào cái thiêng, phản ánh đời sống tinh thần dưới dạng tri thức kinh nghiệm, cảm tính về thế giới và con người, gắn với thiết chế làng xã truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án là phương pháp định tính trong nghiên cứu triết học xã hội và lịch sử tư tưởng, bao gồm:

  • Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập, phân loại, đánh giá các tư liệu thư tịch lịch sử, các ấn phẩm nghiên cứu chuyên ngành trong và ngoài nước để làm cơ sở kế thừa lý luận.
  • Phương pháp logic và lịch sử kết hợp với so sánh: Làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển của các hình thức tín ngưỡng, phân loại và rút ra những nét đặc thù của đời sống tâm linh cư dân châu thổ sông Hồng.
  • Phương pháp viện dẫn và chứng minh: Sử dụng các thực hành nghi lễ, thần tích, phong tục thờ cúng có thật để kiểm chứng và lập luận cho các biểu hiện của tư duy triết học.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp kết hợp đối chiếu: Mổ xẻ các khía cạnh biểu hiện của quan niệm về tự nhiên, con người, xã hội, từ đó đúc kết các mặt giá trị tích cực và hạn chế tiêu cực.

Nguồn dữ liệu và tư liệu nghiên cứu:

  • Tài liệu thư tịch Hán Nôm và thần tích làng xã: Trích dẫn từ các văn bản cổ như Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam Chích Quái.
  • Dữ liệu khảo cổ học: Căn cứ vào các phát hiện bào tử phấn hoa tại hang Ma, các di chỉ khảo cổ học đá mới tại Gò Trũng (Thanh Hóa), Hạ Long (Quảng Ninh) liên quan đến kỹ thuật chế tác đá, chì lưới và xương cá.
  • Dữ liệu địa lý, sinh thái và kinh tế: Thống kê địa lý 11 tỉnh thành vùng đồng bằng sông Hồng; số liệu nhiệt độ, lượng mưa; hệ thống các làng nghề truyền thống (chạm bạc Đồng Xâm, dệt chiếu Hưng Hà, gốm sứ Bát Tràng, đúc đồng Nam Định).
  • Dữ liệu nghiên cứu liên ngành: Kế thừa hệ thống các công trình nghiên cứu đã xuất bản về lịch sử Việt Nam, văn hóa học, tôn giáo học và triết học.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm 4 chương, 12 tiết. Nội dung chi tiết các chương được tác giả triển khai như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các tài liệu nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài theo hai cụm vấn đề: lý luận chung về tín ngưỡng dân gian và các yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Về lý luận chung, tác giả phân định các luồng quan điểm đối với thuật ngữ tín ngưỡng dân gian, từ cách xem đây là "tín ngưỡng dân dã" (Nguyễn Minh San) đến quan niệm về "hình thái tôn giáo sơ khai" trên cơ sở thuyết hồn linh (Lê Như Hoa), hay cách nhìn nhận tín ngưỡng dân gian như một thành tố văn hóa gắn với tri thức kinh nghiệm cảm tính (Nguyễn Đức Lữ). Chương 1 cũng điểm lại các nghiên cứu về ba nhân tố chi phối sự ra đời của tín ngưỡng: điều kiện địa lý - tự nhiên, kinh tế - xã hội (nền kinh tế lúa nước, kết cấu làng xã, phương thức sản xuất Á châu) và sự giao lưu tiếp biến văn hóa với Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo. Về đối tượng thờ tự, chương này tổng quan tình hình nghiên cứu về ba trụ cột: thờ cúng Tổ tiên (bản chất hiếu đạo, sự che chở của người chết), thờ Mẫu (chuyển biến từ Nữ thần sang Thánh Mẫu, hệ thống thần linh Tứ phủ), và thờ Thành hoàng (nguồn gốc từ Trung Quốc được Việt hóa gắn liền với thần làng, phúc thần và tà thần).

Về các yếu tố triết học, tác giả điểm lại các phát hiện của Trần Đăng Sinh và Nguyễn Hữu Thụ: quan niệm vũ trụ mang tính nhị nguyên âm - dương, không gian tâm linh "tám phương trời, mười phương đất", thời gian gắn với chu kỳ mùa vụ và quan niệm lành dữ; quan niệm thể xác - linh hồn, số mệnh con người do thần linh quy định (Nam Tào, Bắc Đẩu, căn số); tư tưởng tôn vinh người phụ nữ và truyền thống cố kết cộng đồng. Từ việc chỉ ra các giới hạn của nghiên cứu đi trước, tác giả xác lập bốn nhiệm vụ cốt lõi mà luận án tập trung giải quyết.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ

Chương 2 luận giải các tiền đề lý luận và các nhân tố quy định sự hình thành của tín ngưỡng dân gian vùng châu thổ sông Hồng.

Về khái niệm, luận án khẳng định tín ngưỡng dân gian là hình thái ý thức xã hội phản ánh hoạt động sản xuất vật chất của cư dân nông nghiệp, gắn bó mật thiết với văn hóa làng xã và niềm tin vào lực lượng siêu nhiên vô hình. Về điều kiện tự nhiên, vùng đất này có mạng lưới sông ngòi dày đặc ở hạ lưu sông Hồng, nhiệt độ trung bình năm từ 22,5°C đến 23,5°C, lượng mưa từ 1400mm đến 2000mm, tồn tại các ô trũng tự nhiên (Hà Nam Ninh, Hải Hưng, Nho Quan). Thiên nhiên vừa ưu đãi nguồn sinh kế vừa thường xuyên gây ra thiên tai, bão lũ; do trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, người dân không thể kiểm soát hoàn toàn tự nhiên nên đã nhân hóa, thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên thành các vị thần (mây, mưa, sấm, chớp, thần sông, thần biển).

Về điều kiện kinh tế - xã hội, phương thức sản xuất mang dấu ấn châu Á với chế độ sở hữu tập thể ruộng đất và sự khép kín của công xã nông thôn. Làng là một đơn vị kinh tế - xã hội - quân sự hoàn chỉnh. Bên cạnh nông nghiệp lúa nước, các làng nghề thủ công phát triển tạo tiền đề cho hoạt động trao đổi nội vùng nhưng kinh tế tự cấp tự túc vẫn đóng vai trò chủ đạo. Nhu cầu trị thủy và chống giặc ngoại xâm (với 15 cuộc chiến tranh giữ nước trong lịch sử, trong đó có 12 cuộc giành thắng lợi) đòi hỏi sự cố kết cộng đồng bền chặt, dẫn tới sự suy tôn các thủ lĩnh, tướng lĩnh quân sự (vua Hùng, Trần Quốc Tuấn, Lê Khôi/Hoàng Mười) thành các vị thần bảo trợ. Về giao lưu văn hóa, sự tiếp biến với Nho giáo (nâng cao đạo hiếu gia tộc), Phật giáo (thuyết luân hồi, nghiệp báo) và Đạo giáo (ma thuật, hệ thống thần tiên phù chú) đã làm phong phú thêm hệ thống nghi lễ của tín ngưỡng bản địa.

Bảng tổng hợp các nhân tố quy định và đặc điểm ba loại hình tín ngưỡng cơ bản được tác giả phân tích trong chương:

Loại hình tín ngưỡng Nguồn gốc và cơ sở hình thành Đối tượng phụng thờ chính Biểu hiện không gian và thiết chế
Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên Niềm tin vào sự bất tử của linh hồn, thuyết hồn linh (animism), ảnh hưởng của đạo hiếu Nho giáo. Tổ tiên trong gia đình, dòng họ; Tổ tiên chung của quốc gia (vua Hùng). Bàn thờ gia tiên tại gia đình, nhà thờ họ, Đền Hùng (phạm vi cả nước).
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tàn dư chế độ mẫu hệ, vai trò của người phụ nữ trong kinh tế nông nghiệp, sùng bái tự nhiên. Nữ thần, Mẫu thần, Tam tòa/Tứ phủ Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Địa, Thủy, Thượng Ngàn). Đền, phủ, điện, miếu thờ Mẫu gắn với nghi lễ hầu đồng, hát văn.
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng Tiếp biến từ mô hình Trung Quốc, được Việt hóa gắn chặt với thiết chế Làng - Nước. Nhiên thần (sông, núi), Nhân thần (người có công lập ấp, đánh giặc), Phúc thần, Tà thần. Đình làng, miếu làng; có sắc phong của triều đình phong kiến.

Chương 3: Quan niệm về tự nhiên, về con người, về xã hội trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ

Chương 3 là chương nội dung trung tâm của luận án, bóc tách các yếu tố triết học thông qua ba chiều kích quan niệm:

Thứ nhất, quan niệm về tự nhiên: Người Việt nhận thức tự nhiên không phải là những khái niệm trừu tượng, tư biện mà là không gian sinh tồn trực tiếp gắn với phương thức sản xuất lúa nước. Luận án phân tích:

  • Quan niệm về không gian: Không gian tâm linh đa chiều, đan xen giữa cõi sống và cõi chết, giữa tám phương trời và mười phương đất, mang tính chất đối đãi nhị nguyên (trời - đất, âm - dương, cao - thấp, nắng - mưa). Không gian thờ tự được phân định cụ thể theo các tầng bậc linh thiêng.
  • Quan niệm về thời gian: Thời gian trong tâm linh mang tính chu kỳ gắn liền với thời vụ gieo trồng và thu hoạch lúa nước; thể hiện qua việc chọn ngày giờ tốt - xấu và chu kỳ thực hiện nghi lễ thờ cúng (ngày sóc, ngày vọng, lễ tiết định kỳ trong năm).
  • Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên: Thể hiện qua mô hình "Mẹ - con" trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Tự nhiên được cụ thể hóa thành các hiện tượng sinh thành: Mẫu Thượng Thiên (quản lý vùng trời), Mẫu Địa (quản lý đất đai), Mẫu Thủy (quản lý nguồn nước, yếu tố âm tạo sinh sôi), Mẫu Thượng Ngàn (quản lý rừng núi). Con người coi tự nhiên vừa là đấng chở che, nuôi dưỡng, vừa là đối tượng cần phải tôn kính, phụng thờ và tạ ơn.

Thứ hai, quan niệm về con người: Luận án chỉ ra cấu trúc nhị nguyên trong nhận thức về con người:

  • Thể xác và linh hồn: Người Việt quan niệm con người cấu thành từ hai phần. Khi chết đi, phần xác tan biến về với đất ("thịt nát xương tan"), còn phần hồn thoát ra tiếp tục tồn tại ở một cõi giới khác và vẫn có mối liên hệ mật thiết với con cháu đang sống.
  • Vấn đề số phận: Chịu ảnh hưởng của tư tưởng duy tâm, người dân tin rằng tuổi thọ, sự sống, cái chết hay sự đầu thai đều do các thế lực siêu nhiên (thần Nam Tào, Bắc Đẩu) định đoạt; trong tín ngưỡng thờ Mẫu, thân phận con người bị chi phối bởi "căn số" đã sắp đặt từ trước.
  • Nhân sinh quan: Đề cao đạo hiếu, bổn phận phụng dưỡng cha mẹ và tri ân các thế hệ đi trước; coi sự hiếu thảo là thước đo nhân cách con người trong cộng đồng làng xã.

Thứ ba, quan niệm về xã hội:

  • Tư tưởng về vai trò của người phụ nữ: Tín ngưỡng thờ Mẫu phản ánh sự tôn vinh vai trò của người phụ nữ, người mẹ trong việc duy trì nòi giống, lao động sản xuất và tổ chức đời sống gia đình; đồng thời biểu đạt khát vọng giải phóng người phụ nữ khỏi những áp chế, bất công của trật tự phụ quyền phong kiến.
  • Tinh thần yêu nước và cố kết cộng đồng: Thể hiện đậm nét trong việc thờ phụng Thành hoàng làng và Tổ tiên quốc gia. Các anh hùng có công đánh giặc cứu nước, bảo vệ lãnh thổ được cộng đồng tôn vinh thành thần bảo trợ (Thành hoàng), củng cố mối liên kết Nhà - Làng - Nước và tạo dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chương 4: Giá trị và hạn chế của các quan niệm về tự nhiên, về con người, về xã hội trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ

Chương 4 đánh giá toàn diện tính hai mặt của các yếu tố triết học trong đời sống xã hội:

Về mặt giá trị:

  • Về tự nhiên: Giáo dục thái độ sống hòa hợp, gắn bó với thiên nhiên; hình thành ý thức quý trọng đất đai, nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái nông nghiệp.
  • Về con người: Bồi dưỡng đạo lý "uống nước nhớ nguồn", củng cố tình cảm gia đình, giáo dục chữ hiếu; tạo điểm tựa tinh thần, xoa dịu những lo âu, bế tắc của con người trước những biến cố đời sống.
  • Về xã hội: Góp phần củng cố thiết chế làng xã, tăng cường sự gắn kết dòng họ và cộng đồng dân cư; bảo lưu các giá trị đạo đức truyền thống; nuôi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc và khẳng định vị thế của người phụ nữ trong xã hội.

Về mặt hạn chế:

  • Tính chất duy tâm trong quan niệm về tự nhiên: Do không giải thích được bản chất các quy luật tự nhiên bằng khoa học, người dân rơi vào trạng thái sợ hãi, thần thánh hóa giới tự nhiên thái quá; là mầm mống phát sinh các hiện tượng mê tín dị đoan, cầu cúng tốn kém.
  • Tính chất duy tâm trong quan niệm về con người: Quan niệm linh hồn bất tử và tư tưởng số mệnh tiền định, "căn số" dễ dẫn con người đến thái độ thụ động, cam chịu, ỷ lại vào sự ban ơn của thần thánh, kìm hãm ý chí phấn đấu và năng lực sáng tạo tự thân của cá nhân.
  • Tính chất duy tâm trong quan niệm về xã hội: Một số quy ước thờ cúng bị lợi dụng trở thành các hủ tục lễ nghi rườm rà, lãng phí tiền của; tư tưởng cục bộ địa phương phát sinh từ việc tôn sùng thần làng làm suy yếu tính cởi mở của xã hội; sự bất bình đẳng giới đôi khi vẫn bị che đậy dưới những hình thức tâm linh biến tướng.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học được tác giả tự xác định bao gồm:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cơ sở hình thành, đặc điểm và phân loại tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ dưới lăng kính của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  2. Làm rõ nội dung một số yếu tố triết học căn bản trong tín ngưỡng dân gian của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ thông qua ba bình diện quan niệm: quan niệm về tự nhiên, quan niệm về con người và quan niệm về xã hội trên cơ sở khảo sát ba loại hình tín ngưỡng tiêu biểu (thờ cúng Tổ tiên, thờ Mẫu, thờ Thành hoàng).
  3. Đánh giá khách quan, khoa học những giá trị tích cực và những hạn chế tiêu cực của các quan niệm triết học này đối với đời sống tinh thần của nhân dân vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.

Về ý nghĩa thực tiễn và kiến nghị:

  • Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời từng bước loại bỏ những hủ tục, mê tín dị đoan còn tồn tại trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian hiện nay.
  • Công trình đóng góp luận cứ khoa học hỗ trợ Đảng và Nhà nước trong quá trình hoàn thiện và thực thi các chính sách quản lý văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo tại địa bàn đồng bằng Bắc Bộ.
  • Luận án đóng vai trò tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy các chuyên đề về triết học Việt Nam, văn hóa học, tôn giáo học tại các trường đại học và học viện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án giới hạn phạm vi khảo sát vào ba loại hình tín ngưỡng tiêu biểu là thờ cúng Tổ tiên, thờ Mẫu và thờ Thành hoàng, do đó chưa bao quát hết toàn bộ các dạng thức tín ngưỡng phong phú khác của vùng (như tín ngưỡng phồn thực nguyên thủy, tín ngưỡng thờ các ông tổ nghề thủ công nghiệp hay các thực hành ma thuật dân gian).
  • Công trình chủ yếu tiếp cận theo phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp và lý luận triết học, chưa thực hiện các đợt điều tra xã hội học định lượng diện rộng để thống kê cụ thể mức độ biến đổi hành vi tâm linh của các nhóm dân cư trong giai đoạn đương đại.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khảo cứu các yếu tố triết học sang các loại hình tín ngưỡng dân gian đặc thù khác của cư dân châu thổ Bắc Bộ như tín ngưỡng thờ tổ nghề tại các làng nghề truyền thống.
  • Nghiên cứu sự vận động và biến đổi của các yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian dưới tác động của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và giao lưu văn hóa quốc tế trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Hữu ích cho các chuyên ngành Triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học và Lịch sử tư tưởng Việt Nam; cung cấp khung phân tích triết học về tín ngưỡng dân gian mà không bị đồng nhất với văn hóa dân gian thuần túy.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Giúp các cơ quan quản lý tôn giáo, văn hóa tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng nhận diện chính xác mặt giá trị cần bảo tồn và mặt hạn chế duy tâm cần khắc phục trong quản lý lễ hội và di tích làng xã.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Toàn bộ Chương 3 (hệ thống hóa các quan niệm về tự nhiên, con người, xã hội) và Chương 4 (luận giải hai mặt giá trị và hạn chế dưới góc nhìn duy vật biện chứng), cùng phần tổng thuật thư mục công phu ở Chương 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể của luận án là gì? Đối tượng nghiên cứu là một số yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trên địa bàn 11 tỉnh thành vùng đồng bằng sông Hồng, tập trung vào ba quan niệm (tự nhiên, con người, xã hội) thông qua ba loại hình tín ngưỡng tiêu biểu: tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng thờ Thành hoàng.

2. Tác giả định nghĩa khái niệm tín ngưỡng dân gian dưới góc độ triết học như thế nào? Dưới góc độ triết học, tín ngưỡng dân gian được tác giả định nghĩa là một bộ phận của ý thức xã hội, tồn tại dưới dạng văn hóa tinh thần, do nhân dân sáng tạo ra trong quá trình lao động sản xuất nông nghiệp, được xây dựng trên cơ sở niềm tin vào "cái thiêng", phản ánh đời sống tinh thần phong phú dưới dạng tri thức kinh nghiệm cảm tính về thế giới và con người, được lưu truyền từ đời này sang đời khác và gắn liền với phong tục, tập quán trong cộng đồng làng xã truyền thống.

3. Quan niệm về tự nhiên trong tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ có những nội dung cơ bản nào? Quan niệm về tự nhiên bao gồm: nhận thức về không gian tâm linh mang tính đa diện, đa chiều (tám phương trời, mười phương đất, đối đãi âm - dương); nhận thức về thời gian gắn liền với chu kỳ thời vụ nông nghiệp và tập quán chọn ngày giờ tốt - xấu; mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được phản ánh qua mô hình "Mẹ - con" trong tín ngưỡng thờ Mẫu, nơi tự nhiên được thần thánh hóa thành các đấng sáng tạo và cai quản gồm Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thủy và Mẫu Thượng Ngàn.

4. Luận án chỉ ra những mặt hạn chế mang tính duy tâm nào trong tín ngưỡng dân gian của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ? Tác giả chỉ rõ ba mặt hạn chế duy tâm: (1) Duy tâm về tự nhiên dẫn đến sự sợ hãi, sùng bái thần thánh thái quá và phát sinh mê tín dị đoan; (2) Duy tâm về con người với niềm tin vào số phận tiền định và căn số, tạo ra tâm lý thụ động, ỷ lại, triệt tiêu động lực phấn đấu tự thân; (3) Duy tâm về xã hội làm nảy sinh các hủ tục thờ phụng tốn kém, củng cố tính cục bộ làng xã và duy trì sự bất bình đẳng giới dưới các hình thức biến tướng.

5. Những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào được sử dụng để hoàn thành luận án? Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với bốn phương pháp cụ thể: phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp; phương pháp logic và lịch sử kết hợp so sánh; phương pháp viện dẫn và chứng minh; phương pháp phân tích - tổng hợp kết hợp đối chiếu, so sánh.

Kết luận

Luận án "Những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ" của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Tú là công trình khoa học chuyên ngành Triết học phân tích một cách có hệ thống các quan niệm về tự nhiên, con người và xã hội ẩn chứa trong ba loại hình tín ngưỡng cơ bản: Tổ tiên, Mẫu và Thành hoàng. Thông qua việc vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án đã làm rõ cơ sở hình thành, bản chất ý thức xã hội cùng tính hai mặt giá trị - hạn chế của tín ngưỡng dân gian châu thổ sông Hồng. Công trình cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy triết học, văn hóa học, đồng thời đóng góp cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện chính sách văn hóa và tôn giáo hiện nay.