Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Chương 2: Một số vấn đề lý luận về tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ Chương 3: Quan niệm về tự nhiên, về con người, về xã hội trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ Chương 4: Giá trị và hạn chế của các quan niệm về tự nhiên, về con người, về xã hội trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến một số vấn đề lý luận chung về tín ngƣỡng dân gian của ngƣời Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ 1. Những công trình tiêu biểu bàn về khái niệm tín ngưỡng dân gian Cho đến nay, khái niệm tín ngưỡng dân gian vẫn còn đang được các nhà nghiên cứu tranh luận. Mặc dù vậy, thuật ngữ này đã được dùng phổ biến trong các công trình khoa học, các buổi hội thảo khoa học, các sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân, cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Dù nghiên cứu ở góc độ nào chăng nữa, thì đa số các tác giả vẫn thừa nhận tín ngưỡng dân gian là một loại hình sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có nguồn gốc ra đời từ chính hoạt động lao động, sáng tạo của người nông dân, ăn sâu bén rễ từ ngàn đời nay, và nó phản ánh khát vọng, ước vọng của con người về một cuộc sống mới tốt đẹp. Bàn về vấn đề này, có thể đề cập đến một số công trình sau: Trong công trình, “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam” [79], Nguyễn Minh San không sử dụng thuật ngữ tín ngưỡng dân gian mà sử dụng thuật ngữ tín ngưỡng dân dã. Nhưng, thực chất, hai thuật ngữ này là giống nhau khi đều dùng để chỉ những loại hình tín ngưỡng như: Tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người [79, tr. Và như vậy, có thể hiểu, tín ngưỡng dân dã, chỉ là cách gọi khác của tín ngưỡng dân gian, ra đời do chính hoạt động sáng tạo trong lao động của người nông dân và phản ánh ước mơ của họ.
Trong cuốn “Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” [16], khi bàn về khái niệm tín ngưỡng dân gian Nguyễn Đăng Duy cho rằng “… ở Việt 8 Nam từ xa xưa cho tới nay không hề có cái gọi là tôn giáo mà chỉ có các hình thái tín ngưỡng: tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thần và tín ngưỡng thờ Mẫu” [16, tr.24] và không thể gọi các loại hình tín ngưỡng này là “tín ngưỡng dân gian” được; bởi “…vì không hề có cái gọi là tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng bác học, tín ngưỡng quý tộc mà chỉ có tín ngưỡng nói chung của cộng đồng người” [16, tr. Theo chúng tôi, khi đã nói tới cái gọi là “dân gian” nghĩa là nói tới tính phổ biến trong quần chúng nhân dân, ra đời từ hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân, gắn liền với sinh hoạt vật chất của người dân, mang tính dung dị, gần gũi mà sâu sắc. Điều này cũng giống như văn học dân gian vậy, câu chữ dễ hiểu, cách hành văn mộc mạc, dân dã, gần gũi mà vẫn mang được tính triết lý nhân sinh sâu đậm. Do đó, trong tín ngưỡng có cái gọi là tín ngưỡng dân gian.
Cùng với quan điểm nêu trên, trong công trình “Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam” [34] do Lê Như oa (chủ biên) thừa nhận có cái gọi là tín ngưỡng dân gian. Theo tác giả công trình, tín ngưỡng dân gian có thể hiểu “là hình thái tôn giáo sơ khai, chúng được hình thành trên cơ sở những tâm cách nguyên thủy (primitive mentality) để nhận thức hiện thực và tác động đến hiện thực bằng các kĩ xảo (các biện pháp ma thuật) của thuyết hồn linh” [34, tr. Có thể thấy rằng, khi đã nói đến tính dân gian thì không thể gọi tín ngưỡng dân gian là tôn giáo sơ khai được. Vì khi nói tới tôn giáo là nói tới những lễ nghi, giáo lý, giáo luật, giáo hội, kể cả tôn giáo sơ khai, nguyên thủy thì chúng đều có tất cả các yếu tố cấu thành đó.
Còn tín ngưỡng dân gian, chỉ đơn giản là một loại hình tín ngưỡng ra đời và tồn tại cùng với hoạt động thực tiễn của con người. Nó được nảy sinh dựa trên sự phản ánh của ý thức trong quá trình lao động sản xuất, phản ánh sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng và cả sự sợ hãi trước sức mạnh của những lực lượng siêu nhiên, vô hình. Nó ăn sâu, 9 bén rễ trong lòng người dân, nó có tính chất lây lan tự phát và không có tính ràng buộc chặt chẽ như tôn giáo. Bên cạnh đó, trên cơ sở “thuyết hồn linh” của Tylor, tác giả công trình đã chỉ ra “thuyết hồn linh cơ sở của hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Việt” [34, tr.
Căn cứ trên thực tiễn và căn cứ vào cách lý giải của tác giả công trình cho thấy, ở nước ta, “bằng thuyết hồn linh, chúng ta có thể “giải mã” được vô số các hiện tượng Folklor của các tộc người khác nhau”. Luận điểm này cung cấp cho tác giả luận án có được cách nhìn sâu sắc hơn để có thêm cơ sở lý giải nguồn gốc cho việc hình thành tín ngưỡng dân gian của người Việt ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Xem xét dưới góc độ văn hóa học, trong cuốn “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam” [66] do Nguyễn Đức Lữ chủ biên, cho rằng, tín ngưỡng dân gian “là một nhân tố cấu thành văn hóa” [66, tr.8] và “cần được xem như là một yếu tố, một bộ phận của văn hóa dân gian” [66, tr. Các tác giả khẳng định, tín ngưỡng dân gian “cũng có thể xem là loại hình tín ngưỡng, tôn giáo do chính nhân dân - trước hết là nhân dân lao động - sáng tạo ra trên cơ sở những tri thức phản ánh sai lạc dưới dạng kinh nghiệm cảm tính từ cuộc sống thường nhật của bản thân mình” [66, tr.
Các tác giả chỉ rõ sự tương đồng giữa tôn giáo và tín ngưỡng dân gian, chẳng hạn, “nhiều tôn giáo và tín ngưỡng dân gian cũng dùng lửa, hương… làm vật xúc tác cho mối quan hệ giữa tin và đối tượng tin; cũng dùng trang phục phù hợp với đối tượng tin; cũng có sự kiêng kị giới tính trước ngày lễ, cũng tự xác định cho mình một tâm thế khác ngày thường, khi thực hiện hành vi cũng bộc lộ niềm tin trước đối tượng tin…” [66, tr. Thực tế cho thấy, mọi loại hình tín ngưỡng dân gian chưa hẳn đã là tôn giáo. Vì khi đã nói đến tôn giáo tức nói đến một tổ chức xã hội có giáo chủ, giáo lý, giáo luật hết sức chặt chẽ và có tổ chức nghiêm ngặt. Còn tín ngưỡng dân gian, dù được người dân lao động hay tầng lớp xã hội nào đó sáng tạo cũng chỉ là những sinh hoạt văn hóa tinh thần 10 của cộng đồng người có thể tin hoặc không, hoặc đã tin nhưng đã từ bỏ.
Tín ngưỡng dân gian phản ánh nhận thức về tự nhiên, con người và các mối quan hệ của con người với tự nhiên, xã hội một cách lệch lạc, cảm tính, được lý giải bằng những câu chuyện thần thoại, những điển tích, điển cố… mang tính chất là những dạng nhận thức sơ khai của con người về thế giới. Còn cách mà tác giả công trình dẫn ra, đó chỉ là những biểu hiện của niềm tin, mà niềm tin của cả hai loại hình này giống nhau là đều có niềm tin mãnh liệt vào đối tượng chưa bao giờ tận mắt nhìn thấy sự hiện hữu của nó. Còn sự khác biệt giữa tín ngưỡng dân gian và tôn giáo không phải ở niềm tin mà ở các khía cạnh khác. Ngoài những công trình nghiên cứu được trình bày ở trên được xuất bản dưới dạng sách, thì cũng có một số công trình về khái niệm tín ngưỡng dân gian dưới dạng các bài báo trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành của các tác giả như: Nguyễn Quốc Phẩm (1998) “Góp phần bàn về tín ngưỡng dân gian và mê tín dị đoan”, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, số 11; Nguyễn Đăng Duy (2000), “Cần đính chính lại cách gọi tín ngưỡng dân gian”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 1; Hồng Nhuệ (2003), “Tản mạn về tín ngưỡng dân gian”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 2; Nguyễn Tri Nguyên (2004) “Bản chất và đặc trưng của tín ngưỡng dân gian”, Tạp chí di sản và văn hóa, số 7; Hồ Bá Thâm (2005), “Tín ngưỡng dân gian – một lĩnh vực trong đời sống tâm linh”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 4; Đặng Nghiêm Vạn (2007), “Tôn giáo hay tín ngưỡng”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 1; Đỗ Thị Minh Thúy (2010), “Biến động của tín ngưỡng dân gian Thăng Long - Hà Nội và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 86(8); Nguyễn Thọ Khang (2013), “Đặc điểm và giá trị văn hóa của tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6… ầu hết, trong các công trình này, khi bàn về khái niệm tín ngưỡng dân gian đều nhất 11 trí cho rằng, đó là một loại hình tín ngưỡng ra đời trên cơ sở hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu.
Đồng thời, các tác giả cũng chỉ rõ, tín ngưỡng dân gian là một lĩnh vực tinh thần không thể thiếu trong đời sống của người dân. Nó ăn sâu, bén rễ trong tiềm thức của người dân và trở thành nét văn hóa riêng của người Việt. Qua khảo sát cho thấy, hầu hết các tác giả đều thừa nhận, ở Việt Nam có cái gọi là tín ngưỡng dân gian. Nó được hình thành trên cơ sở niềm tin, là bộ phận của tín ngưỡng, văn hóa.
Nó không phải là một thứ tôn giáo sơ khai. Tuy vậy, vẫn có những ý kiến cho rằng, tín ngưỡng dân gian là một tôn giáo sơ khai của người Việt, dựa trên quan niệm niềm tin vào một sức mạnh thiêng liêng nào đó. Như vậy, cho đến nay, thuật ngữ tín ngưỡng dân gian vẫn chưa ngã ngũ, vẫn còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu. Do vậy, qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian, là cơ sở khoa học cho tác giả luận án sử dụng để luận giải về khái niệm tín ngưỡng dân gian với tư cách là khái niệm công cụ để giải quyết các vấn đề có liên quan tới mục đích, nhiệm vụ của luận án.