Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014" do nghiên cứu sinh Trần Bá Tăng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thắng Lợi. Luận án được hoàn thành và bảo vệ năm 2020 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mã số đào tạo 9 22 90 15.

+---------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN HỌC THUẬT CƠ BẢN CỦA CÔNG TRÌNH                                            |
+-----------------------------------+---------------------------------------------------+
| Tên đề tài                        | Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn         |
|                                   | và phát huy giá trị di sản văn hóa (1998 - 2014)  |
+-----------------------------------+---------------------------------------------------+
| Tác giả (Nghiên cứu sinh)         | Trần Bá Tăng                                      |
+-----------------------------------+---------------------------------------------------+
| Người hướng dẫn khoa học          | Nguyễn Thắng Lợi                                  |
+-----------------------------------+---------------------------------------------------+
| Chuyên ngành đào tạo              | Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Mã số: 9 22 90 15)|
+-----------------------------------+---------------------------------------------------+
| Cơ sở đào tạo                     | Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh           |
+-----------------------------------+---------------------------------------------------+
| Năm hoàn thành                    | 2020                                              |
+-----------------------------------+---------------------------------------------------+
| Kết cấu văn bản                   | Mở đầu, 4 chương (9 tiết), Kết luận,              |
|                                   | Danh mục công trình, Tài liệu tham khảo, Phụ lục  |
+-----------------------------------+---------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Di sản văn hóa (DSVH) là tài sản của tiền nhân để lại, minh chứng cho lịch sử dựng nước, giữ nước và là nguồn lực tinh thần lẫn vật chất cho sự phát triển của xã hội. Trong các văn kiện chính thức, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc và là cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc. Hà Nội giữ vị trí trung tâm hội tụ và lan tỏa văn hóa của cả nước với hệ thống DSVH vật thể và phi vật thể đa dạng. Từ khi triển khai Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH tại Thủ đô đã đạt được nhiều thành tựu, song cũng nảy sinh các bất cập: nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở chưa đầy đủ; công tác quản lý còn tình trạng lấn chiếm đất đai, xâm hại cảnh quan, làm biến dạng di tích và biến tướng lễ hội truyền thống.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù đã có nhiều công trình tiếp cận di sản văn hóa Hà Nội dưới góc độ văn hóa học, dân tộc học, bảo tồn bảo tàng hoặc du lịch, song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách độc lập, có hệ thống về toàn bộ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa giai đoạn 1998 - 2014 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014, từ đó đúc kết các kinh nghiệm chủ yếu nhằm vận dụng trong giai đoạn hiện nay.

Văn bản luận án xác định cụ thể 4 nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số như sau:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
  2. Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014.
  3. Trình bày có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014, qua hai giai đoạn 1998 - 2008 và 2008 - 2014.
  4. Nhận xét và đúc kết kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1998 đến năm 2014. Mốc năm 1998 đánh dấu thời điểm ban hành Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Chương trình hành động của Thành ủy Hà Nội; mốc năm 2008 là thời điểm Quốc hội quyết định mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội; mốc năm 2014 là thời điểm các cấp bộ Đảng trên phạm vi cả nước tiến hành tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII.
  • Phạm vi không gian: Không gian hành chính Thành phố Hà Nội qua hai giai đoạn: giai đoạn 1998 - 2008 (địa giới hành chính trước khi mở rộng, diện tích 920,97 km²) và giai đoạn 2008 - 2014 (địa giới sau khi hợp nhất tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các yếu tố tác động, chủ trương và quá trình chỉ đạo thực tiễn của Thành ủy Hà Nội trên cả hai phương diện: di sản văn hóa vật thể (di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ, danh lam thắng cảnh) và di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, làng nghề truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian, tập quán tín ngưỡng), cùng các nhận xét ưu điểm, hạn chế và bài học kinh nghiệm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành điểm luận và phân loại khối lượng lớn các tài liệu nghiên cứu đã công bố theo 3 nhóm chuyên đề chính:

1. Nhóm nghiên cứu chung về văn hóa, di sản văn hóa và công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản dân tộc

Nhóm này gồm các công trình nghiên cứu cơ bản về lý luận văn hóa và đường lối của Đảng:

  • Phạm Minh Hạc (1996) với Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại.
  • Cục Bảo tồn Bảo tàng và Bảo tàng Hồ Chí Minh (1996) với Kỷ yếu hội thảo khoa học thực tiễn kỷ niệm 50 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bảo tồn di sản văn hóa dân tộc (23/11/1945 - 23/11/1995) tập hợp tham luận của Lưu Trần Tiêu, Đặng Văn Bài, Đỗ Văn Trụ.
  • Hoàng Vinh (1997) với Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc, giới thiệu thêm kinh nghiệm bảo tồn của Nhật Bản.
  • Nguyễn Quang Điển và cộng sự (1999) với Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
  • Nguyễn Khoa Điềm và cộng sự (2001) với Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
  • Lưu Trần Tiêu và Nguyễn Quốc Hùng (2005) trong Một con đường tiếp cận di sản văn hóa.
  • Nguyễn Văn Huyên và cộng sự (2006) trong cuốn Văn hóa mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội.
  • Bộ Văn hóa Thông tin (2006) trong tuyển tập Một con đường tiếp cận di sản văn hóa với bài viết của Phan Huy Lê, Vũ Quốc Hiền, Lê Thành Vinh, Đặng Văn Bài.
  • Vũ Ngọc Khánh (2007) với Văn hóa lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam.
  • Nguyễn Đình Thanh và cộng sự (2008) với Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển.
  • Phạm Duy Đức và cộng sự qua hai công trình năm 2009 (Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020 những vấn đề phương pháp luận) và năm 2010 (Thành tựu trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam 25 năm đổi mới (1986-2010)).
  • Phạm Thanh Hà (2011) với Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
  • Nguyễn Thị Hương và cộng sự (2011) với Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Nguyễn Danh Tiên (2012) với chuyên khảo Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới.
  • Trương Quốc Bình (2014) với Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam.
  • Bùi Bạch Đằng (2014) với luận án tiến sĩ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát huy bản sắc văn hóa dân tộc từ năm 1998 đến năm 2014.
  • Các bài viết trên Tạp chí Cộng sản và Tạp chí Triết học của các tác giả Nguyễn Văn Huyên (1999), Nguyễn Văn Huy (2003), Ngô Đức Thịnh (2007), Chu Thái Thành (2007), Nguyễn Chí Bền (2007).

2. Nhóm nghiên cứu về di sản văn hóa tại các địa phương trên cả nước

Các công trình khảo sát kinh nghiệm và thực trạng tại các vùng miền:

  • Đặng Văn Bài và cộng sự (2002) về di sản phi vật thể tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Hồ Bá Thâm và cộng sự (2004) với Nam Bộ đất và người.
  • Các ấn phẩm của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế xuất bản năm 2003 (Huế di sản và cuộc sống) và năm 2013 (Công cuộc bảo tồn di sản thế giới ở Thừa Thiên Huế).
  • Phạm Hữu Mý, Nguyễn Văn Đường và cộng sự (2007) trong Di tích lịch sử - văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Nguyễn Hữu Thái (2012) về di sản văn hóa phi vật thể của người Thái.
  • Phan Thanh Hải (2012) với bài viết trên Tạp chí Huế xưa và nay về 30 năm bảo tồn di sản Huế.
  • Hồ Sơn Diệp, Nguyễn Văn Hiệp và cộng sự (2014) nghiên cứu về Đình chùa lăng miếu - Di sản văn hóa vật thể của người Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Các luận án tiến sĩ chuyên ngành: Trần Thị Hồng Minh (2014, Triết học, nghiên cứu tại Thừa Thiên Huế); Đào Ngọc Anh (2016, nghiên cứu di sản người H'Mông tại Sa Pa); Trần Thị Kim Ninh (2018, Lịch sử, nghiên cứu Đảng bộ TP.HCM lãnh đạo công tác bảo tồn, phát huy DSVH từ 1998 đến 2014); Hoàng Văn Vân (2018, Lịch sử, nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn di tích lịch sử cách mạng từ 1996 đến 2015).

3. Nhóm nghiên cứu trực tiếp về di sản văn hóa Thành phố Hà Nội

  • Trần Quốc Vượng, Nguyễn Vinh Phúc, Lê Văn Lan và cộng sự (1994) trong Tìm hiểu di sản văn hóa dân gian Hà Nội.
  • Lưu Minh Trị và cộng sự (2002) với Tìm trong di sản văn hóa Việt Nam - Thăng Long Hà Nội và tác phẩm năm 2010 Hà Nội - Danh thắng và di tích.
  • Thích Bảo Nghiêm (2003) với Hà Nội danh lam cổ tự.
  • Trương Văn Quảng (2003) với luận án tiến sĩ kiến trúc về quy hoạch bảo tồn di sản đô thị áp dụng cho Hà Nội.
  • Trần Quốc Vượng và Vũ Tuân Sán (2004) với Hà Nội nghìn xưa; các công trình chuyên khảo của Trần Quốc Vượng vào năm 2006 (Thăng Long - Hà Nội tìm tòi và suy ngẫm) và năm 2010 (Văn hóa Hà Nội tìm tòi và suy ngẫm).
  • Công trình tập thể do nhiều tác giả thực hiện năm 2005 về Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử - văn hóa Đường Lâm.
  • Phan Hồng Giang và cộng sự (2005) trong Văn hóa phi vật thể ở Hà Nội.
  • Các công trình chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội năm 2010: Nguyễn Chí Bền và cộng sự về di sản vật thể Thăng Long - Hà Nội; Lê Hồng Lý về Tìm hiểu lễ hội ở Hà Nội; Võ Quang Trọng và cộng sự về di sản phi vật thể; Ngô Đức Thọ khảo cứu Văn bia Tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long; Phạm Quang Long, Bùi Việt Thắng và cộng sự tuyển chọn văn hóa ẩm thực; Nguyễn Tá Nhí, Nguyễn Văn Thịnh và cộng sự dịch chú Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội (gồm 62 văn bản hương ước, tục lệ).
  • Vũ Khiêu và cộng sự (2011) với bộ sách Văn hiến Thăng Long.
  • Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội (2014) giới thiệu về khu di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long.
  • Các luận án tiến sĩ chuyên khảo: Nguyễn Thị Bích Thủy (2015) nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề Triều Khúc và Thiết Úng; Phan Thị Duyên (2018) nghiên cứu sinh hoạt ca trù ở Hà Nội.
  • Các bài viết nghiên cứu của Nguyễn Văn Hùng (1996), Phạm Lan Oanh (2003), Trần Thị Hồng Yến và Thạch Thiết Hà (2007), Phan Đăng Nhật (2007), Nguyễn Danh Tiên (2014).

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Qua việc tổng hợp tư liệu, tác giả khẳng định các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận thuần túy dưới góc độ chuyên ngành văn hóa học, lịch sử văn hóa, quản lý di sản, kiến trúc đô thị hoặc du lịch. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống về vai trò và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ Thành phố Hà Nội giai đoạn 1998 - 2014. Đề tài của nghiên cứu sinh Trần Bá Tăng được đặt vào vị trí giải quyết khoảng trống lịch sử này, làm rõ các bước phát triển tư duy chính trị và năng lực lãnh đạo thực tiễn của Đảng bộ Thủ đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và các khái niệm công cụ

  • Cơ sở lý luận nền tảng: Luận án dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội.
  • Khái niệm Di sản văn hóa: Được xác định theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, là sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Tác giả nhấn mạnh mối quan hệ giữa vật thể và phi vật thể là gắn bó hữu cơ và tương đối (ví dụ: công trình kiến trúc ngôi đình là vật thể, nhưng kỹ thuật tạo tác, nghệ thuật chạm khắc và tập quán sinh hoạt tín ngưỡng tại đình là phi vật thể).
  • Khái niệm Bảo tồn: Dẫn theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, bảo tồn là "giữ lại không để cho mất đi"; duy trì trạng thái vốn có của di sản, hãm lại sự xuống cấp, không đồng nhất với việc cải tạo hay biến đổi làm mất tính nguyên gốc.
  • Khái niệm Phát huy: Là làm cho giá trị của di sản lan tỏa, phục vụ giáo dục truyền thống, bồi đắp tư tưởng và khai thác phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội (thông qua du lịch và dịch vụ văn hóa) một cách hợp lý.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính, sử dụng phương pháp luận lịch sử Đảng kết hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Được sử dụng để tái hiện trung thực, khách quan quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội ban hành chủ trương và chỉ đạo tổ chức thực hiện các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa theo đúng tiến trình thời gian từ năm 1998 đến năm 2014.
  • Phương pháp logic: Được vận dụng để nghiên cứu tiến trình lịch sử nhằm rút ra bản chất các bước chuyển biến nhận thức, tư duy lãnh đạo của Đảng bộ; phân tích mối quan hệ nhân quả, vạch rõ ưu điểm, khuyết điểm và khái quát thành các bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê tư liệu: Sử dụng để hệ thống hóa các chỉ thị, nghị quyết của Thành ủy, tổng hợp các bảng thống kê về số lượng di tích, số liệu kinh tế - xã hội, các mốc xếp hạng di sản để làm căn cứ luận chứng.
  • Phương pháp so sánh: So sánh chủ trương và biện pháp quản lý di sản giữa hai giai đoạn (1998 - 2008 và 2008 - 2014); so sánh hoạt động của Hà Nội với các địa phương khác trong cả nước.

Nguồn tư liệu

Văn bản luận án sử dụng 4 nguồn tư liệu chủ yếu:

  1. Các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  2. Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan đến văn hóa và di sản văn hóa.
  3. Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hà Nội; các chỉ thị, nghị quyết, đề án, kết luận của Thành ủy và các quyết định quản lý của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội.
  4. Báo cáo định kỳ, báo cáo chuyên đề, kỷ yếu hội thảo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội (nay là Sở Văn hóa và Thể thao), các viện nghiên cứu và các công trình chuyên khảo của các học giả đi trước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này gồm 3 tiểu mục chính (1.1, 1.2 và 1.3), tập trung thực hiện các nội dung:

  • Xác lập khung lý thuyết và nội hàm các khái niệm: di sản văn hóa, di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
  • Khảo sát có hệ thống ba nhóm tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài.
  • Đánh giá tổng quát những kết quả đạt được của các học giả đi trước, chỉ ra tính chất thuần túy chuyên ngành (văn hóa học, bảo tàng học, dân tộc học) của các công trình này. Từ đó khẳng định tính độc lập và phân định rõ 4 nội dung trọng tâm mà luận án trực tiếp đi sâu giải quyết.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa (1998 - 2008)

Chương 2 phản ánh giai đoạn 10 năm đầu thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII trong phạm vi địa giới Hà Nội cũ:

  • Các yếu tố tác động: Phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Thủ đô. Trước năm 2008, Hà Nội có diện tích tự nhiên là 920,97 km², gồm 9 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt xấp xỉ 10%/năm.
Giai đoạn điều chỉnh Căn cứ pháp lý Quy mô diện tích Cơ cấu hành chính
Trước 1954 Sau Giải phóng Thủ đô (10/10/1954) 152,2 km² Dân số 530 nghìn người
Năm 1961 Quốc hội khóa II điều chỉnh 586,2 km² 4 khu nội thành, 4 huyện ngoại thành
Năm 1978 Quốc hội khóa VI điều chỉnh 2.123 km² 4 khu nội thành, 12 huyện thị ngoại thành
Năm 1991 Quốc hội khóa VIII điều chỉnh 921,8 km² 4 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành
Giai đoạn 1998 - 2008 Địa giới trước mở rộng năm 2008 920,97 km² 9 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành
  • Thực trạng di sản trước 1998: Hà Nội lưu giữ gần 2.000 di sản văn hóa vật thể (với các di tích tiêu biểu như Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, Cổ Loa, Đền Ngọc Sơn - Hồ Hoàn Kiếm, Đình Chèm, Gò Đống Đa, Cụm di tích Đền Hai Bà Trưng - chùa Viên Minh - đình Đồng Nhân) và hơn 1.000 di sản văn hóa phi vật thể. Luận án chỉ rõ thực trạng trước năm 1998: di tích bị tàn phá qua hai cuộc chiến tranh; thời kỳ cải cách ruộng đất và hợp tác xã nông nghiệp nảy sinh nhận thức sai lầm "bài phong", biến đình chùa thành kho thóc, tháo dỡ vật liệu xây trường học, lấn chiếm không gian di tích (như tại chùa Chân Tiên, chùa Hưng Ký, chùa Hộ Quốc).
  • Chủ trương và chỉ đạo thực tiễn (1998 - 2008): Thành ủy Hà Nội ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; tập trung quy hoạch bảo tồn Phố Cổ Hà Nội, khai quật khảo cổ học khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại số 18 Hoàng Diệu (từ năm 2002); ban hành các văn bản chấn chỉnh việc tổ chức lễ hội và lập hồ sơ xếp hạng di tích quốc gia.

Chương 3: Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa (2008 - 2014)

Chương 3 trình bày sự chuyển biến trong lãnh đạo sau khi địa giới hành chính Thủ đô được mở rộng:

  • Yếu tố tác động mới: Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội mở rộng địa giới hành chính Hà Nội hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh và 4 xã của Lương Sơn (Hòa Bình). Không gian văn hóa Thủ đô mở rộng, dung nạp thêm vùng văn hóa Xứ Đoài đồ sộ, đưa số lượng di tích tăng vọt (hơn 5.000 di tích lịch sử - văn hóa). Cùng thời điểm này là sự kiện chuẩn bị và kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (2010).
  • Chủ trương lãnh đạo: Ban hành các chương trình công tác toàn khóa của Thành ủy (Chương trình số 04-CTr/TU), Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 22/10/2010 của Thành ủy Hà Nội về công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội.
  • Chỉ đạo thực tiễn:
    • Chỉ đạo lập hồ sơ và bảo tồn các di sản được quốc tế vinh danh: UNESCO ghi danh Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long là Di sản văn hóa thế giới (năm 2010); Hội Gióng tại đền Phù Đổng và đền Sóc là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (năm 2010); 82 bia Tiến sĩ triều Lê - Mạc tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám là Di sản tư liệu thế giới (năm 2010 - 2011); bảo tồn nghệ thuật Ca trù (ghi danh năm 2009).
    • Thực hiện đề án tổng kiểm kê di sản văn hóa toàn diện trên quy mô toàn thành phố sau hợp nhất; chỉ đạo gắn bảo tồn di sản với các tour tuyến phát triển du lịch bền vững.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương này đánh giá quá trình lãnh đạo và đúc rút bài học lịch sử:

  • Nhận xét ưu điểm: Đảng bộ Hà Nội đã kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Trung ương; ban hành các chủ trương, chương trình hành động phù hợp thực tế; bộ máy quản lý di sản từng bước được kiện toàn từ thành phố đến cơ sở; huy động được nguồn lực đầu tư của ngân sách và nguồn lực xã hội hóa; giữ gìn được các di sản tiêu biểu, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Một số cấp ủy cơ sở chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của di sản; công tác quản lý còn buông lỏng để xảy ra hiện tượng tu bổ sai nguyên tắc làm biến dạng di tích, xâm lấn đất đai; thương mại hóa lễ hội; nguồn kinh phí chưa tương xứng với quy mô di tích sau mở rộng; công tác đào tạo cán bộ chuyên môn còn thiếu hụt.
  • Những kinh nghiệm chủ yếu: Luận án đúc kết 4 bài học kinh nghiệm:
    1. Thường xuyên nâng cao nhận thức, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng và hiệu lực quản lý của chính quyền các cấp đối với di sản văn hóa.
    2. Giải quyết hài hòa, đúng đắn mối quan hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội và quá trình đô thị hóa nhanh chóng.
    3. Tôn trọng và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, đẩy mạnh xã hội hóa đi đôi với tăng cường quản lý nhà nước theo quy định pháp luật.
    4. Chú trọng xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, nghiên cứu di sản có bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm 2014.
  • Góp phần hệ thống hóa toàn bộ các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết và đề án của Đảng bộ Thành phố Hà Nội liên quan đến lĩnh vực di sản văn hóa.
  • Bổ sung nguồn cứ liệu lịch sử khách quan, làm rõ sự phát triển tư duy văn hóa của Đảng bộ Thủ đô trong quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị

  • Cung cấp bức tranh toàn diện về những thành tựu đạt được cũng như các tồn tại, yếu kém trong công tác quản lý và bảo vệ di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội qua hai giai đoạn chia cắt bởi sự kiện mở rộng địa giới hành chính năm 2008.
  • Các bài học kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ Hà Nội có giá trị vận dụng trực tiếp cho các cấp ủy Đảng, cơ quan quản lý văn hóa của Thủ đô và các địa phương khác trong việc hoạch định chính sách văn hóa hiện nay.
  • Luận án đóng vai trò là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương và phục vụ giảng dạy các chuyên đề lịch sử văn hóa, quản lý văn hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế trong phạm vi văn bản: Luận án giới hạn khung thời gian nghiên cứu từ năm 1998 đến năm 2014, do đó chưa phản ánh các diễn biến mới của công tác bảo tồn di sản sau năm 2014 (giai đoạn thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam). Ngoài ra, do tính chất chuyên ngành Lịch sử Đảng, luận án chỉ tập trung vào phương thức lãnh đạo chính trị và quản lý điều hành, không đi sâu phân tích kỹ thuật bảo tồn vật lý hay các giải pháp kiến trúc, công nghệ số hóa di sản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội đối với công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa giai đoạn từ năm 2014 đến nay.
    2. Nghiên cứu chuyên đề về phát huy giá trị di sản gắn liền với mục tiêu xây dựng "Thành phố sáng tạo" của Hà Nội sau khi gia nhập Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO.
    3. Khảo sát sâu sự chuyển hóa nguồn lực di sản thành sản phẩm kinh tế - du lịch trong khuôn khổ phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội trong việc đánh giá hiệu quả chỉ đạo và điều chỉnh các văn bản quản lý di tích, lễ hội trên địa bàn.
  • Cán bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền cơ sở: Là tài liệu tham khảo trong việc xử lý các tình huống thực tế liên quan đến tranh chấp đất đai di tích, giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu xây dựng hạ tầng cơ sở và yêu cầu bảo vệ nguyên trạng di sản.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên: Phục vụ công tác giảng dạy và học tập các chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam, Quản lý văn hóa tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các trường đại học khối khoa học xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án lại lựa chọn mốc thời gian từ năm 1998 đến năm 2014?

Mốc 1998 là năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ban hành Nghị quyết Trung ương 5 về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", đồng thời Thành ủy Hà Nội ban hành chương trình hành động thực hiện. Mốc 2014 là thời điểm các cấp bộ Đảng từ Trung ương đến địa phương tiến hành tổng kết toàn diện 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, đánh dấu sự kết thúc của một giai đoạn lãnh đạo văn hóa cụ thể.

2. Sự kiện năm 2008 tác động như thế nào đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Nội về di sản?

Năm 2008 là năm Quốc hội ban hành Nghị quyết số 15/2008/QH12 hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh và 4 xã của huyện Lương Sơn (Hòa Bình) vào Thành phố Hà Nội. Sự kiện này làm quy mô diện tích của Thủ đô tăng lên hơn 3.300 km², số lượng di tích tăng từ gần 2.000 lên hơn 5.000 di tích, tích hợp thêm vùng văn hóa Xứ Đoài cổ kính, đặt ra cho Đảng bộ Hà Nội những thách thức hoàn toàn mới về cơ cấu bộ máy, nguồn kinh phí và phương thức quản lý.

3. Những hạn chế nào trong công tác bảo tồn di sản trước năm 1998 được luận án chỉ ra?

Luận án ghi nhận trước năm 1998, do hậu quả của chiến tranh và nhận thức sai lệch trong thời kỳ cải cách ruộng đất, phong trào hợp tác xã nông nghiệp (tư tưởng "bài phong"), nhiều đình, đền, chùa bị dỡ lấy vật liệu xây công trình công cộng hoặc biến thành kho chứa thóc; văn bia, gia phả bị hủy hoại; nhiều di tích bị người dân lấn chiếm đất đai làm nơi ở trái phép (tiêu biểu như các chùa Chân Tiên, Hưng Ký, Hộ Quốc).

4. Luận án phân tích mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản như thế nào?

Theo phân tích của tác giả, bảo tồn và phát huy là hai mặt thống nhất, có mối quan hệ biện chứng tương hỗ. Bảo tồn giữ lại yếu tố gốc và kéo dài tuổi thọ của di sản, tạo tiền đề để phát huy; ngược lại, phát huy giá trị (thông qua giáo dục truyền thống và khai thác du lịch) là phương thức bảo tồn hiệu quả nhất, đưa di sản sống trong đời sống cộng đồng và tạo nguồn lực tài chính tái đầu tư cho bảo tồn.

5. Những danh hiệu di sản quốc tế tiêu biểu nào của Hà Nội được phản ánh trong luận án?

Trong giai đoạn nghiên cứu (nhất là quanh mốc Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội 2010), luận án phản ánh các di sản của Hà Nội được quốc tế ghi danh gồm: Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long (Di sản văn hóa thế giới), Hội Gióng tại đền Phù Đổng và đền Sóc (Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại), 82 Bia đá Tiến sĩ triều Lê - Mạc tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Di sản tư liệu thế giới) và nghệ thuật Ca trù (Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Bá Tăng là một công trình nghiên cứu lịch sử Đảng nghiêm túc, đã phục dựng có hệ thống và khoa học quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014. Trên cơ sở làm rõ các yếu tố tác động, văn bản đã phân tích sâu sắc các giai đoạn chỉ đạo thực tiễn trước và sau mốc mở rộng địa giới hành chính năm 2008. Các ưu điểm, hạn chế và bốn bài học kinh nghiệm được đúc kết từ luận án không chỉ làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về vai trò lãnh đạo văn hóa của Đảng bộ Thủ đô mà còn mang giá trị tham khảo thực tiễn thiết thực cho công tác quản lý di sản hiện nay.