Luận án tiến sĩ về lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Hà Nội (1998-2014)

Luận án tiến sĩ phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Hà Nội trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa giai đoạn 1998-2014.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

248
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Quan niệm về di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

1.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.3. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA (1998 - 2008)

2.1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

2.2. Đảng bộ thành phố Hà Nội chỉ đạo bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

3. CHƯƠNG 3: ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA (2008 - 2014)

3.1. Những yếu tố mới tác động và chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

3.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

4. CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

4.1. Nhận xét quá trình Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa (1998 – 2014)

4.2. Những kinh nghiệm chủ yếu

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về di sản văn hóa và bảo tồn

Di sản văn hóa là tài sản quý giá của nhân loại, phản ánh lịch sử và bản sắc văn hóa của một dân tộc. Di sản văn hóa bao gồm cả di sản vật thểdi sản phi vật thể, mỗi loại đều có giá trị riêng và cần được bảo tồn. Việc bảo tồn di sản không chỉ là giữ gìn mà còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân và tổ chức trong xã hội. Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam, di sản văn hóa được định nghĩa là những sản phẩm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền qua các thế hệ. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh hiện đại. Bảo tồn không chỉ đơn thuần là giữ nguyên hiện trạng mà còn cần có sự điều chỉnh để phù hợp với sự phát triển của xã hội. Việc phát huy giá trị di sản là một phần không thể thiếu trong quá trình bảo tồn, giúp cho di sản không chỉ tồn tại mà còn sống động trong đời sống văn hóa hiện tại.

1.1. Khái niệm và vai trò của di sản văn hóa

Di sản văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần mà con người tạo ra trong quá trình lịch sử. Giá trị di sản không chỉ nằm ở bản thân các hiện vật mà còn ở những câu chuyện, truyền thuyết và phong tục tập quán liên quan. Bảo tồn văn hóa là một phần quan trọng trong việc duy trì bản sắc dân tộc, giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn về nguồn cội và lịch sử của mình. Việc bảo tồn không chỉ giúp gìn giữ các giá trị văn hóa mà còn tạo ra cơ hội cho sự phát triển kinh tế thông qua du lịch và các hoạt động văn hóa khác. Phát huy giá trị di sản là cách để các giá trị này không chỉ tồn tại mà còn được truyền tải và phát triển trong xã hội hiện đại.

II. Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Hà Nội 1998 2014

Giai đoạn từ năm 1998 đến 2014, Đảng bộ Thành phố Hà Nội đã có nhiều chủ trương và chính sách nhằm bảo tồn di sản văn hóa. Các chính sách này không chỉ tập trung vào việc bảo vệ các di sản vật thể mà còn chú trọng đến di sản phi vật thể như lễ hội, phong tục tập quán. Sự chỉ đạo của Đảng bộ đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc phát huy giá trị di sản. Nhiều di tích lịch sử, văn hóa đã được khôi phục và bảo vệ, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa của người dân. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn nhiều thách thức trong công tác quản lý và bảo tồn, như tình trạng xâm lấn đất đai và biến dạng các di sản. Điều này đòi hỏi cần có những giải pháp hiệu quả hơn trong việc quản lý di sản.

2.1. Chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hà Nội

Chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đã được thể hiện rõ qua các nghị quyết và chương trình hành động. Đảng bộ đã xác định rõ vai trò của di sản văn hóa trong việc xây dựng bản sắc dân tộc và phát triển kinh tế xã hội. Các chính sách được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, đồng thời khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo tồn. Sự phối hợp giữa các cấp chính quyền và các tổ chức xã hội cũng đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương này.

III. Đánh giá và kinh nghiệm trong bảo tồn di sản văn hóa

Quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Hà Nội từ năm 1998 đến 2014 đã cho thấy nhiều bài học quý giá. Những thành công trong việc khôi phục các di tích lịch sử, tổ chức các lễ hội truyền thống đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận những hạn chế trong công tác quản lý và bảo tồn, như sự thiếu đồng bộ trong các chính sách và sự tham gia của cộng đồng. Việc nghiên cứu di sản cần được thực hiện một cách hệ thống và có chiều sâu hơn, nhằm đảm bảo rằng các giá trị văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn được phát huy một cách hiệu quả. Những kinh nghiệm từ quá trình này có thể được áp dụng cho các địa phương khác trong cả nước.

3.1. Những bài học kinh nghiệm

Một trong những bài học quan trọng là cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng trong công tác bảo tồn di sản văn hóa. Sự tham gia của cộng đồng không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn tạo ra sự gắn kết giữa các thế hệ. Bên cạnh đó, việc áp dụng công nghệ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản cũng là một hướng đi cần được chú trọng. Các chương trình giáo dục và tuyên truyền về di sản văn hóa cần được đẩy mạnh để nâng cao ý thức của người dân trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 9 tiết luan an 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. QUAN NIỆM VỀ DI SẢN VĂN HÓA, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA 1. Về di sản văn hóa Di sản văn hóa là tài sản, là báu vật của tiền nhân để lại cho thế hệ sau, như các di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc, tín ngưỡng, các di vật, cổ vật, di tích danh lam thắng cảnh, các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Theo nghĩa Hán - Việt, DSVH là tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

Nhìn nhận một cách toàn diện, DSVH là một khái niệm có tính vận động thay đổi theo thời gian. DSVH là sản phẩm của quá khứ nhưng đó là quá khứ đã được lựa chọn theo nhu cầu của xã hội hiện đại, là sự lựa chọn từ dĩ vãng những ký ức, báu vật của con người, thể hiện nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện đại. Luật DSVH của Việt Nam xác định: "Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [123]. Như vậy, DSVH có hai dạng khác nhau đó là DSVH vật thể và DSVH phi vật thể, được con người tạo ra và cũng để đáp ứng hai loại nhu cầu cơ bản của con người đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần.

Di sản văn hóa vật thể bao gồm toàn bộ những sản phẩm do sản xuất vật chất của con người tạo ra như các công trình kiến trúc, công cụ sản xuất và sinh hoạt, đổ ăn và đồ mặc, các phương tiện đi lại. Điều 4, Luật DSVH định nghĩa như sau: "Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia" [27, tr. luan an 8 Di sản văn hóa phi vật thể được Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật DSVH ghi rõ: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [123, tr. Mối quan hệ giữa DSVH vật thể và DSVH phi vật thể là mối quan hệ tương đối, việc phân chia ranh giới giữa DSVH vật thể và DSVH phi vật thể là việc làm không đơn giản vì sự phức tạp của nó.

Chẳng hạn, ngôi đình là kiến trúc dân gian đặc sắc của người Việt, thuộc DSVH vật thể. Tuy nhiên, kiến thức, kỹ năng sáng tạo, nghệ thuật trang trí, chạm khắc. của ngôi đình lại nghiêng về văn hóa phi vật thể. Tương tự như vậy, các sản phẩm thủ công như đồ gốm, đồ thủ công mỹ nghệ.

được coi là văn hóa vật thể, còn bí quyết, kỹ thuật tạo tác sản phẩm, kiểu dáng, nghệ thuật trang trí. trên sản phẩm lại thuộc về văn hóa phi vật thể. Rõ ràng là giữa DSVH vật thể và DSVH phi vật thể luôn có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, đôi khi khó phân biệt rạch ròi. Việc phân chia văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể chỉ mang ý nghĩa tương đối.

Sự phân biệt giữa DSVH vật thể và DSVH phi vật thể sẽ còn là chủ đề gây nhiều tranh luận, đặc biệt khi áp dụng vào công việc bảo tồn. Liệu chúng ta có thể bảo tồn văn hóa phi vật thể mà không tiếp cận văn hóa vật thể, hay ngược lại, bảo tồn DSVH vật thể mà không chú ý đến các giá trị phi vật thể xung quanh nó. Trên thực tế, sự phân biệt hai thể loại DSVH như trên chỉ có ý nghĩa quy ước, chúng có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, khó phân biệt rạch ròi. Cả hai loại này sẽ mất đi nếu không được cộng đồng, cá nhân giữ gìn và phát huy.

Trên cơ sở của những quan niệm, luận giải và phân tích ở trên về DSVH có thể luan an 9 hiểu và khái quát: DSVH là tổng hợp những tài sản văn hóa truyền thống bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể trong hệ thống giá trị của nó, được con người nhận biết, qua đó tiến hành giữ gìn và phát huy nhằm đáp ứng những nhu cầu của con người và đòi hỏi của cuộc sống hiện tại. Về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Bảo tồn theo Từ điển tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên có nghĩa là "giữ lại không để cho mất đi" còn "phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm" [119, tr. Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái. Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm "cải biến", "nâng cao" hoặc "phát triển".

Bảo tồn mang nghĩa rộng hơn, là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, nói cách khác là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu đó. Như vậy, bảo tồn là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của DSVH nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho DSVH và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội. Phát huy, trước hết là sử dụng giá trị tinh thần của DSVH trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng tình cảm; đồng thời, khái niệm "phát huy" cũng đã bao hàm cả các hoạt động khai thác, tuy nhiên, nếu sử dụng từ "khai thác" thay cho "phát huy" DSVH thì sẽ bị hiểu là quá thiên về tính hiệu quả kinh tế trong sử dụng. Có thể nói, phát huy chính là việc khai thác, sử dụng sản phẩm một cách có hiệu quả.

Công việc này xuất phát từ nhu cầu thực tế, con người mong muốn sản phẩm của họ tạo ra phải được nhiều người cùng biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế. Bảo tồn và phát huy DSVH luôn gắn kết chặt chẽ, biện chứng. Đó là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối, ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa. Bảo tồn DSVH thành công thì mới phát huy luan an 10 được các giá trị của di sản.

Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản tốt nhất, lưu giữ những giá trị đó trong ý thức cộng đồng xã hội. Hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa là hai việc khác nhau, tuy nhiên do có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ về nội dung nên hoạt động này đôi khi được gọi một cách ngắn gọn là hoạt động bảo tồn. Bảo tồn không thể tách rời đổi mới và phát triển; bảo tồn không có nghĩa là giữ nguyên hoặc khôi phục lại cả những gì không còn thích hợp nữa, những gì đã bị đào thải. Muốn thế cần có sự chắt lọc, lựa chọn kỹ càng để xem cái gì bảo tồn nguyên vẹn, cái gì cần phải điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện nay.

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Từ xưa đến nay, Hà Nội được mệnh danh là "Nơi lắng hồn núi sông", "Nơi hội tụ và lan tỏa" các giá trị văn hóa của dân tộc. Điều đó mang lại sức hấp dẫn, cuốn hút cho các học giả, các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước về Hà Nội. Nghiên cứu về văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nói chung và của Hà Nội nói riêng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố, dưới góc nhìn của khoa học lịch sử, lịch sử Đảng, văn hóa học, quản lý văn hóa, văn hóa dân gian, xã hội học, văn học, nghệ thuật, mỹ thuật… Liên quan trực tiếp đến luận án, có thể khái quát thành các nhóm cơ bản sau đây. Các nghiên cứu chung về văn hóa, di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Cuốn sách Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại (1996), của Phạm Minh Hạc [68], đã đề cập đến một số khái niệm cơ bản về văn hóa, văn minh; vai trò của văn hóa, quá trình phát triển của văn hóa, văn minh, đồng thời nêu ra vấn đề văn minh và tác phong công nghiệp; vị trí vai trò của văn hóa truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong công cuộc giáo dục con người; đồng thời, phải biết tiếp biến tinh hoa văn hóa nhân loại.

luan an 11 Cục Bảo tồn Bảo tàng, Bảo tàng Hồ Chí Minh (1996), trong Kỷ yếu hội thảo khoa học thực tiễn kỷ niệm 50 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bảo tồn di sản văn hóa dân tộc (23/11/1945 - 23/11/1995 [174], bao gồm những tham luận, báo cáo của các tác giả như: Lưu Trần Tiêu, Đặng Văn Bài, Đỗ Văn Trụ… Các bài viết này đã phân tích, trình bày những thành tựu, hạn chế về công tác nghiên cứu, lưu giữ, phục dựng, trùng tu, tôn tạo và phát huy DSVH dân tộc trong nửa thế kỷ nhân dịp kỷ niệm 50 năm (23/11/1945 - 23/11/1995) ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bảo tồn DSVH dân tộc. Cuốn sách Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc (1997), của Hoàng Vinh [201], đề cập đến những vấn đề lý luận về DSVH dân tộc; về vai trò, chức năng của DSVH đối với việc lựa chọn mô hình phát triển văn hóa dân tộc. Tác giả đưa ra khái niệm DSVH là tổng thể những tài sản văn hóa truyền thống trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết và đưa vào sử dụng nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án tiến sĩ về lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Hà Nội (1998-2014)" của tác giả Trần Bá Tăng, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Thắng Lợi, tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích các chính sách lãnh đạo trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Hà Nội trong giai đoạn từ 1998 đến 2014. Luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp bảo tồn mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của di sản văn hóa trong việc xây dựng bản sắc và phát triển bền vững cho thành phố. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức quản lý và phát triển di sản văn hóa, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn tại các địa phương khác.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh liên quan đến chính trị và văn hóa, hãy tham khảo thêm bài viết Luận án tiến sĩ về văn hóa chính trị trong thời kỳ thịnh Trần, nơi khám phá sự phát triển của văn hóa chính trị trong một giai đoạn lịch sử quan trọng. Bên cạnh đó, bài viết Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong các đơn vị hành chính sự nghiệp tại Hà Nội cũng sẽ cung cấp cái nhìn về cách thức nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị tại Hà Nội, liên quan đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Cuối cùng, bài viết Luận văn về quyền lực mềm và ngoại giao văn hóa trong quan hệ quốc tế của Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của văn hóa trong chính sách đối ngoại, một yếu tố không thể thiếu trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.