Chương 1 VĂN HOÁ VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. Văn hoá và phạm trù văn hoá Văn hoá là đề tài rộng lớn nên từ xa xưa, từ các bậc hiền triết đến những người bình thường đã bàn luận khá nhiều về nó và đưa ra những định nghĩa khác nhau về văn hoá. Loài người từ khi hình thành mang nhiều tư chất khác hẳn các loài động vật, trong đó nổi lên ba tư chất chính: trí tuệ, ngôn ngữ và lao động. Trong quá trình thích ứng và chinh phục tự nhiên để tồn tại và phát triển, con người đã sử dụng ba tư chất đó để tạo nên hàng loạt công cụ sản xuất, thức ăn, vật dụng thường ngày: quần áo, nhà ở,… cũng như tạo nên hàng loạt các nguyên tắc ứng xử, quan hệ với nhau,… để tạo nên xã hội loài người , cái “thiên nhiên” thứ hai của họ.
Và dần dần, trong cái thiên nhiên thứ hai đó, do nhu cầu phát triển không ngừng của sản xuất, trao đổi, không ngừng nâng cao cuộc sống, phát huy những tài sản quý giá vốn có của mình, duy trì xã hội ngày càng ổn định, con người đã tạo nên những chuẩn mực đạo đức, những tục lệ, những truyền thống, những phương thức để giữ gìn và nâng cao kiến thức thu nhận được thông qua lao động sản xuất, phát minh, sáng chế, thích nghi, cải tạo tự nhiên để phục vụ bản thân mình, cũng như các hình thức quan hệ giữa các cộng đồng, giữa các lớp người khác nhau. Tất cả những gì do con người tạo ra như vậy, ít hay nhiều đều có tác dụng (tích cực hoặc tiêu cực) đối với cuộc sống của họ - ngoại trừ những hành vi vô thức,… nghĩa là ít hay nhiều đều có những giá trị nhất định, hoặc vật chất, hoặc tinh thần. Như vậy, văn hoá chính là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển của lịch sử. Văn hoá là vấn đề rất lớn, nó bao gồm cả văn học nghệ thuật, khoa học, triết học, phong tục, tôn giáo,… Thậm chí khi xã hội phát triển thì nó còn xuất 6 z hiện thêm một số thuật ngữ: văn hoá gia đình, văn hoá ngôn ngữ, văn hoá giao tiếp, văn hoá dịch vụ, văn hoá quản lý,… Những khái niệm gắn liền “văn hoá” với một lĩnh vực, một mặt nào đó trong hoạt động của con người ngày càng nhiều, và được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ xã hội như là một yêu cầu bức thiết đòi hỏi về chất lượng, về sự hoàn thiện, về tính nhân văn trong mọii hoạt động của con người, và ở ngay bản thân con người.
Văn hoá là một khái niệm được hình thành, khái quát thực tiễn xã hội và gắn liền với sự phát triển của thực tiễn xã hội. Từ cội nguồn, văn hoá đã khẳng định năng lực sáng tạo của con người, quyền uy của con người cho tự nhiên và nó còn được quan niệm, xác định tuỳ thuộc vào năng lực, trình độ sáng tạo, cả yêu cầu, định hướng xã hội cho sự sáng tạo của con người trong những xã hội khác nhau, trong những thời đại khác nhau, trong những quy mô giao tiếp xã hội rộng hẹp khác nhau. Ở châu Âu, tuy khái niệm văn hoá ra đời tương đối muộn (từ thế kỷ XVII), thời mà người ta gọi đó là thế kỷ Ánh sáng chói lọi trong lịch sử văn hoá của nhân loại. Khái niệm văn hoá không còn bó hẹp chỉ gắn với việc cày xới, chăm bón đất đai để trồng trọt, và cả giáo dục, giáo hoá con người, mà lúc này, khái niệm văn hoá đã được “nâng cấp” nhằm chỉ toàn bộ những thành tựu của con người một cách phong phú, đa dạng, đối lập với tự nhiên.
Và con người chính là đấng tạo hoá của những sáng tạo đó. Quá trình tích luỹ tri thức đã đưa đến những phát kiến to lớn trong khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất phát triển, một mạng lưới thương nghiệp rộng lớn, những dòng giao thương hàng hoá sôi động giữa các quốc gia được mở ra. Trên cơ sở thực tiễn xã hội đó, đã khẳng định sự phát triên nhanh, mạnh của khoa học, văn chương, hội hoạ,…. trong đó đã công nhận năng lực, tư duy, tìm tòi, phát hiện, nhận thức của con người đối với tự nhiên, đối với xã hội.
Qua đó, cũng khẳng định những thành tựu con người đạt được là thành quả của hoạt động tinh thần và công sức lao động của chính mình. 7 z Như vậy là, dưới ánh sáng của chủ nghĩa nhân văn, con người bừng tỉnh sau thời kỳ Trung cổ, họ đã tự nhận thức được năng lực, vai trò và vị trí của mình trong thế giới. Con người chứ không phải là một đấng sáng thế nào mang vầng hào quang sáng tạo. “Con người chính là chủ thể của văn hoá, là một sinh thể hữu hạn (về mặt thể xác) nhưng có thể vượt qua tính hữu hạn đó bằng hoạt động nhận thức và sự sáng tạo của chính mình” Ngoài ý nghĩa là “phát hiện ra con người” thì đến giai đoạn sau, yếu tố được nhận thức là yếu tố quyết định của văn hoá đó là khoa học.
Sản phẩm của trí tuệ đã được sử dụng hiển nhiên trong việc hợp lý hoá sản xuất, tăng sức mạnh của con người trong việc khai thác tài nguyên, nắm bắt và chinh phục tự nhiên. Và khi đó, khái niệm văn hoá còn gắn liền với khái niệm phát triển. Văn hoá là những thành tựu vật chất và tinh thần do con người tạo nên. Những thành tựu đó luôn luôn thay đổi theo chiều hướng tích cực, đa dạng hơn, phong phú hơn, đẹp đẽ hơn.
Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, con người lại sáng tạo nên những thành tựu mới đáp ứng những nhu cầu to lớn của xã hội, của con người. Khi đó con người muốn trở thành chủ thể của cái mới, của những sáng tạo mới thì cần phải trải qua một quá trình giáo dục, được đón nhận và tiếp thu những tri thức cơ bản, được đào tạo và phải tham gia vào quá trình văn hoá xã hội của cộng đồng. Thực chất của văn hoá là bồi dưỡng, phát triển, hoàn thiện những khả năng bẩm sinh trở thành những năng lực sáng tạo thực của con người, phát triển con người chính là để phát triển văn hoá. Như vậy, ta có thể thấy khái niệm văn hoá có nội hàm sâu rộng với những ý nghĩa tích hợp toàn bộ hoạt động của con người với tư cách là chủ thể hoạt động trong mọi lĩnh vực của thực tiễn xã hội.
Hạt nhân trung tâm của khái niệm văn hoá là hoạt động sáng tạo, hoạt động hướng đích khẳng định nhân tính của con người với tư cách là chủ thể có ý thức, có trí tuệ, và nó được thể hiện trong cả ba quan hệ tương tác cơ bản: văn hoá và tự nhiên; văn hoá và xã hội; văn hoá và con người. Với cách hiểu về văn hoá như trên thì mới thấy được vai trò, ý nghĩa to lớn của văn hoá cho sự phát triển.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hoá và văn hoá xã hội chủ nghĩa 1.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hoá Các Mác, Ăng-ghen, Lênin đã khẳng định văn hoá là một trong những hình thái ý thức của xã hội, phản ánh thực trạng của xã hội và những quan hệ xã hội. Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, văn hoá có tác động tích cực trở lại đời sống xã hội. Từ đó, các ông cho rằng “lao động được tiến hành trong xã hội và do xã hội” là nguồn gốc của văn hoá.
Trong các tác phẩm của mình, Mác, Ăng-ghen, Lênin đã khẳng định văn hoá là phương thức sản xuất tinh thần, nó phản ánh và chịu sự quyết định của sản xuất vật chất. Bên cạnh đó, những sinh hoạt vật chất của những giai cấp khác nhau trong xã hội đã làm nảy sinh những tư tưởng tình cảm khác nhau. Chính vì vậy, trong xã hội có giai cấp, văn hoá luôn mang tính chất giai cấp. Tư tưởng thống trị trong xã hội là tư tưởng của giai cấp thống trị.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, Mác và Ăng-ghen đã chỉ rõ, trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội. Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần. Các giai cấp cầm quyền đều sử dụng văn hoá như một vũ khí quan trọng để phục vụ và bảo vệ quyền lợi cho họ.
Việc phát triển văn hoá gắn với những lợi ích giai cấp thường bị quy định bởi hệ tư tưởng của giai cấp đó. Do vậy, tính giai cấp của văn hoá luôn gắn với tính đảng. Theo các ông thì tính đảng của văn hoá là ở lập trường tư tưởng, sự nhiệt tình cách mạng ở mối liên hệ mật thiết với quần chúng, mức độ thấm nhuần đường lối của đảng, tinh thần cách mạng tiến công vào hệ tư tưởng tư sản, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Bên cạnh việc khẳng định những tính chất cơ bản của văn hoá, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đề cập đến chức năng xã hội hoá của văn hoá.
Những 9 z chức năng đó là: chức năng giáo dục, chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ, chức năng dự báo. Trong đó, chức năng bao trùm và quan trọng nhất của văn hoá là chức năng giáo dục. Bởi thông qua chức năng này, văn hoá sẽ định hướng cho con người hành động phù hợp với lý tưởng, đạo đức và chuẩn mực của xã hội. Nhờ đó, văn hoá thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội.
Sức mạnh và hiệu quả của văn hoá sẽ được thể hiện ở chỗ nó có thể tác động, huy động được tất cả năng lực, tinh thần của con người hay không. Trong tự nhiên có muôn vàn cái đẹp, con vật cũng biết tạo nên vẻ đẹp. Nhưng con vật chỉ tạo ra vẻ đẹp bằng bản năng, nó được di truyền bằng con đường sinh học. Con vật cũng chỉ tạo ra những sản phẩm theo kích thước và nhu cầu của bản thân nó, còn con người thì có thể tạo ra những sản phẩm theo kích thước của bất kỳ giống loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng, đó là khả năng thẩm mỹ của con người và nó được di truyền bằng con đường xã hội.