Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế của một quốc gia nông nghiệp trọng điểm khi ghi nhận 64,97% dân cư sinh sống tại khu vực nông thôn và 67,8% lực lượng lao động xã hội hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp theo số liệu thống kê năm 2017. Trong tiến trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, mô hình liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp và nông hộ đóng vai trò then chốt nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hóa tập trung, xóa bỏ tình trạng sản xuất manh mún. Dự án chăn nuôi đại gia súc quy mô lớn của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Phú Lâm tại tỉnh Quảng Ninh với tổng diện tích vùng trang trại 1.035,6 ha, trong đó khu chuồng trại chiếm 117 ha và hướng tới mục tiêu nuôi ổn định 40.000 con bò thịt vào năm 2021, đã tạo ra áp lực khổng lồ về nhu cầu thức ăn thô xanh hằng ngày.

Trước đòi hỏi cấp thiết về nguồn nguyên liệu thức ăn ủ chua chất lượng cao, huyện Đầm Hà, một địa phương có 21.938,43 ha đất nông nghiệp chiếm tới 70,71% tổng diện tích tự nhiên 31.025,02 ha, đã triển khai chuyển dịch cơ cấu cây trồng sang ngô sinh khối. Mặc dù chính quyền địa phương tích cực khuyến khích nông dân tham gia chuỗi liên kết cung ứng cho doanh nghiệp Phú Lâm, quy mô diện tích và tỷ lệ hộ liên kết trong giai đoạn 2017 - 2019 lại có xu hướng sụt giảm rõ rệt.

Luận văn tập trung đánh giá thực trạng, đo lường hiệu quả kinh tế và phân tích các nhân tố tác động đến mối liên kết sản xuất ngô sinh khối giữa Công ty Phú Lâm và người dân tại ba xã Tân Lập, Đại Bình, Dực Yên trong giai đoạn 2016 - 2018. Kết quả nghiên cứu làm rõ các metrics quan trọng: mô hình ngô sinh khối có thời gian sinh trưởng ngắn chỉ 75 - 90 ngày, cho phép tăng vòng quay đất đai lên 3 vụ mỗi năm, đạt năng suất sinh khối xanh từ 40 - 50 tấn trên một hecta và đem lại biên lợi nhuận cao gấp 2,66 lần so với sản xuất ngô lấy hạt truyền thống, đặt nền móng cho các giải pháp hoàn thiện liên kết đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết liên kết kinh tế trong nông nghiệp của các học giả Pearce năm 1999 và Trần Văn Hiếu năm 2005. Lý thuyết chỉ rõ liên kết kinh tế là sự phối hợp tự nguyện giữa các chủ thể độc lập nhằm tối ưu hóa việc phân công lao động xã hội, khắc phục những bất lợi về quy mô sản xuất nhỏ lẻ, giảm thiểu rủi ro thị trường và nâng cao hiệu quả sinh lời cho các bên tham gia.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị nông sản để phân tích dòng vận động của vật tư đầu vào, tiến bộ kỹ thuật canh tác và dòng lưu chuyển sản phẩm qua các mắt xích cung ứng. Khung pháp lý thể chế của nghiên cứu được xây dựng dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật gồm Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng và Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm:

  • Ngô sinh khối: Cây ngô được gieo trồng và thu hoạch toàn bộ thân, lá, bắp tươi ở giai đoạn chín sáp từ 75 - 90 ngày nhằm đạt khối lượng vật chất khô và hàm lượng dinh dưỡng hòa tan cao nhất, đạt năng suất từ 40 - 50 tấn trên một hecta phục vụ làm thức ăn ủ chua cho đàn gia súc.
  • Liên kết dọc: Mối quan hệ phối hợp giữa các tác nhân theo trật tự chuỗi ngành hàng từ cung ứng hạt giống, phân bón, quy trình kỹ thuật canh tác đến khâu thu mua, vận chuyển và chế biến thức ăn chăn nuôi.
  • Liên kết ngang: Hình thức hợp tác giữa các hộ nông dân thông qua các tổ, đội sản xuất hoặc nhóm liên kết nhằm chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ công lao động và tăng cường vị thế thương lượng giá với doanh nghiệp bao tiêu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khung thời gian từ tháng 10/2018 đến tháng 10/2019. Dữ liệu thứ cấp phản ánh giai đoạn 2016 - 2018 được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Đầm Hà, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê, Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện và hồ sơ kinh doanh của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Phú Lâm.

Về nguồn dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra khảo sát với tổng cỡ mẫu là 120 hộ nông dân canh tác ngô sinh khối trên địa bàn 3 xã đại diện gồm xã Tân Lập, xã Đại Bình và xã Dực Yên. Mẫu khảo sát được phân bổ có chủ đích thành hai nhóm: 90 hộ có tham gia liên kết với doanh nghiệp và 30 hộ sản xuất tự do không tham gia liên kết. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao về điều kiện tự nhiên, địa hình và quy mô diện tích canh tác của từng tiểu vùng. Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu đối với cán bộ kỹ thuật công ty, lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã và các trưởng nhóm liên kết thôn bản.

Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh kết hợp hạch toán kinh tế là nhằm lượng hóa trực tiếp sự chênh lệch về chi phí đầu vào, năng suất thu hoạch, giá bán và tỷ suất lợi nhuận trên mỗi đơn vị diện tích giữa hộ liên kết và hộ tự do, từ đó tìm ra các yếu tố cản trở tính bền vững của chuỗi giá trị.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cây ngô sinh khối chứng minh ưu thế vượt trội về hiệu quả kinh tế và kỹ thuật nông học so với cây trồng truyền thống. Thời gian sinh trưởng từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch của ngô sinh khối chỉ kéo dài 75 - 90 ngày, ngắn hơn ngô lấy hạt từ 20 - 30 ngày. Điều này giúp người dân huyện Đầm Hà tăng vụ canh tác lên 3 vụ mỗi năm, đạt năng suất sinh khối bình quân 40 - 50 tấn trên một hecta. Hạch toán kinh tế khẳng định mô hình trồng ngô sinh khối làm thức ăn chăn nuôi mang lại lợi nhuận cao gấp 2,66 lần so với trồng ngô lấy hạt.

Thứ hai, phương thức liên kết thực tế tồn tại sự phân tầng lỏng lẻo và thiếu tính pháp lý trực tiếp. Mối liên kết giữa 90 hộ dân khảo sát với các trưởng nhóm sản xuất chủ yếu thông qua thỏa thuận miệng dựa trên sự quen biết, trong khi hợp đồng kinh tế bằng văn bản chỉ được ký kết giữa trưởng nhóm với Công ty Phú Lâm. Sự thiếu vắng hợp đồng trực tiếp khiến hơn 70% hộ nông dân liên kết vẫn phải tự tìm mua phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tại các đại lý tự do bên ngoài thay vì nhận gói vật tư ứng trước từ doanh nghiệp.

Thứ ba, quy mô diện tích liên kết liên tục suy giảm trong giai đoạn 2017 - 2019 do những bất cập trong khâu thu mua và thanh toán. Khi ngô bước vào giai đoạn chín sáp cần thu hoạch đồng loạt trong thời gian ngắn, công ty chưa kịp thời điều phối phương tiện chuyên chở, gây ứ đọng sản phẩm tại đồng ruộng. Hơn nữa, thời gian thanh toán tiền hàng của doanh nghiệp kéo dài khiến mức độ chấp nhận giá của nông hộ chỉ đạt tỷ lệ khiêm tốn khoảng 55%, thúc đẩy nhiều hộ tự ý bán ngô cho thương lái ngoài chuỗi.

Thảo luận kết quả

Khi mô tả qua biểu đồ cơ cấu và bảng so sánh chi phí - lợi nhuận, dữ liệu nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm 90 hộ liên kết tiết kiệm được 15 - 20% chi phí phòng trừ sâu bệnh nhờ thời gian lưu gốc trên đồng ngắn, nhưng lại chịu rủi ro lớn từ cơ chế định giá thu mua cố định khi giá thị trường biến động tăng. Sự suy giảm diện tích liên kết bắt nguồn từ việc các bên tham gia chưa thấu hiểu đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Nghị định số 98/2018/NĐ-CP.

Chính quyền cơ sở tại một số xã gần như giữ vai trò thụ động, chưa thực hiện tốt chức năng trọng tài giải quyết tranh chấp kinh tế khi xảy ra hiện tượng người dân vi phạm cam kết hoặc doanh nghiệp chậm trễ thu gom. So sánh với các mô hình liên kết thành công như dự án khoai tây Atlantic của Công ty Orion tại tỉnh Thái Bình đạt sản lượng 25 tấn trên một hecta có bảo lãnh đầu ra, hay chuỗi sản xuất rau an toàn VietGAP quy mô 32 ha tại thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh, chuỗi liên kết ngô sinh khối Đầm Hà thiếu quỹ dự phòng bình ổn giá và thiếu sự tham gia sâu sát của các nhà khoa học trong việc tuyển chọn giống ngô lai kháng bệnh đặc thù cho vùng đất dốc ven biển.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Chuẩn hóa thể chế và nâng cao tính pháp lý hợp đồng: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Phú Lâm cùng Ủy ban nhân dân huyện Đầm Hà chỉ đạo chuyển đổi toàn bộ hình thức thỏa thuận miệng sang hợp đồng liên kết bằng văn bản có xác nhận pháp lý giữa doanh nghiệp, nhóm liên kết và từng hộ nông dân. Quy định rõ ràng mức phạt vi phạm hợp đồng tối thiểu 20% giá trị sản phẩm để giảm tỷ lệ phá vỡ cam kết xuống dưới 5% từ quý 1/2020.
  • Tối ưu hóa hệ thống logistics và kế hoạch thu mua: Doanh nghiệp Phú Lâm đầu tư máy thu hoạch chuyên dụng cơ giới hóa công suất cao và lập bản đồ phân luồng chuyên chở cho từng cụm xã Tân Lập, Đại Bình, Dực Yên theo chu kỳ sinh trưởng 75 - 90 ngày. Doanh nghiệp cam kết thanh toán dứt điểm 100% tiền mua ngô trong vòng 7 đến 10 ngày sau khi cân nhận hàng tại trạm thu gom.
  • Tăng cường chuyển giao khoa học kỹ thuật và đầu tư ứng trước: Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện phối hợp cùng công ty tổ chức tối thiểu 6 lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh ngô chín sáp hằng năm cho 120 hộ dân tham gia mô hình. Doanh nghiệp thực hiện ứng trước 50% chi phí hạt giống ngô lai đạt chuẩn và phân bón hữu cơ vi sinh, khấu trừ vào cuối vụ nhằm bảo đảm năng suất ổn định 45 - 50 tấn trên một hecta.
  • Xây dựng mô hình Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới: Chính quyền huyện Đầm Hà xúc tiến thành lập 3 Hợp tác xã hoặc Tổ hợp tác chuyên trách sản xuất ngô sinh khối giai đoạn 2020 - 2025. Hợp tác xã đứng ra làm đầu mối pháp nhân đại diện người dân ký kết bao tiêu, quản lý chất lượng và tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ các ngân hàng thương mại.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý Nhà nước và cơ quan khuyến nông: Đội ngũ lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Nông nghiệp cấp huyện và cán bộ Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp có thể khai thác khung phân tích thể chế và bài học kinh nghiệm để xây dựng quy hoạch vùng nguyên liệu 21.938,43 ha đất nông nghiệp, triển khai hiệu quả các chính sách theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP.
  • Doanh nghiệp chăn nuôi đại gia súc và chế biến thức ăn chăn nuôi: Ban điều hành các công ty nông nghiệp quy mô trang trại trên 1.000 ha tham khảo mô hình tổ chức chuỗi cung ứng khép kín, thiết lập cơ chế chia sẻ lợi nhuận, chia sẻ rủi ro và xây dựng hệ thống thu mua ngô ủ chua đạt năng suất cao.
  • Ban quản trị Hợp tác xã và các nông hộ sản xuất: Các hộ nông dân và trưởng nhóm sản xuất có thể nắm vững quy trình kỹ thuật canh tác ngô sinh khối 3 vụ mỗi năm, kỹ năng đàm phán hợp đồng kinh tế và nhận thức rõ quyền lợi kinh tế gia tăng gấp 2,66 lần khi tham gia chuỗi liên kết bền vững.
  • Giảng viên, học viên sau đại học và nhà nghiên cứu: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp khảo sát 120 mẫu thực địa, quy trình phân tích hiệu quả kinh tế chuỗi giá trị và bộ số liệu tham khảo chuyên sâu cho các đề tài phát triển nông thôn khu vực trung du miền núi ven biển.

Câu hỏi thường gặp

  • Cây ngô sinh khối có đặc điểm kỹ thuật và giá trị kinh tế nào nổi bật so với ngô hạt? Ngô sinh khối được thu hoạch toàn bộ cây ở giai đoạn chín sáp sau 75 - 90 ngày gieo trồng, ngắn hơn ngô lấy hạt từ 20 - 30 ngày. Đặc điểm này cho phép gieo trồng 3 vụ mỗi năm, đạt năng suất sinh khối xanh từ 40 - 50 tấn trên một hecta và mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp 2,66 lần ngô lấy hạt.

  • Tại sao tỷ lệ nông dân liên kết với Công ty Phú Lâm lại sụt giảm trong giai đoạn 2017 - 2019? Nguyên nhân xuất phát từ việc hợp đồng liên kết chủ yếu là thỏa thuận miệng thiếu ràng buộc pháp lý, công tác thu mua bị ùn ứ vào cao điểm và công ty chậm thanh toán tiền hàng. Khi giá thị trường tự do tăng cao, nông dân dễ dàng phá bỏ cam kết để bán ngô cho thương lái tự do nhằm thu tiền ngay.

  • Việc khảo sát cỡ mẫu 120 hộ dân tại huyện Đầm Hà được thực hiện theo tiêu chí nào? Cỡ mẫu 120 hộ được chọn ngẫu nhiên phân tầng tại 3 xã trọng điểm là Tân Lập, Đại Bình và Dực Yên, bao gồm 90 hộ tham gia chuỗi liên kết và 30 hộ canh tác tự do. Cách phân bổ này đảm bảo phản ánh khách quan sự khác biệt về chi phí, năng suất và lợi nhuận giữa hai phương thức sản xuất.

  • Mối liên kết 4 Nhà tại huyện Đầm Hà đang gặp phải rào cản lớn nhất ở mắt xích nào? Rào cản lớn nhất nằm ở vai trò điều phối trung gian của chính quyền cấp xã còn mờ nhạt và sự tham gia chuyển giao khoa học kỹ thuật của các viện nghiên cứu chưa sâu sát. Nông dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm tự phát và chịu nhiều áp lực rủi ro thời tiết khi thiếu các gói bảo hiểm nông nghiệp hỗ trợ.

  • Giải pháp căn bản nào giúp doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu ngô sinh khối ổn định? Doanh nghiệp cần chuyển sang ký hợp đồng văn bản trực tiếp với Hợp tác xã nông nghiệp đại diện nông dân, đầu tư ứng trước 50% chi phí giống và phân bón. Đồng thời, công ty phải cơ giới hóa khâu thu hoạch và cam kết thanh toán dứt điểm trong 7 đến 10 ngày sau thu mua.

Kết luận

  • Hệ thống hóa sâu sắc các luận cứ lý luận và thực tiễn về mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp bao tiêu và nông hộ trong chuỗi giá trị nông sản hàng hóa.
  • Khẳng định giá trị kinh tế vượt trội của cây ngô sinh khối tại huyện Đầm Hà với năng suất 40 - 50 tấn trên một hecta, chu kỳ canh tác 75 - 90 ngày và lợi nhuận cao gấp 2,66 lần ngô hạt.
  • Nhận diện chính xác các hạn chế cốt lõi trong chuỗi liên kết của Công ty Phú Lâm gồm hợp đồng thỏa thuận miệng lỏng lẻo, thu mua cơ giới hóa chưa đồng bộ và cơ chế thanh toán chậm.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao về chuẩn hóa pháp lý hợp đồng, tối ưu logistics vận chuyển, chuyển giao kỹ thuật giống ngô lai và thành lập hợp tác xã kiểu mới.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy hỗ trợ công tác quy hoạch 21.938,43 ha đất nông nghiệp Đầm Hà và nhân rộng mô hình liên kết đến các địa phương lân cận.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương và Công ty Phú Lâm hoàn thiện khung pháp lý hợp đồng mẫu trong năm 2020 và nhân rộng mạng lưới hợp tác xã chuyên canh ngô sinh khối đến năm 2025. Các cơ quan quản lý nông nghiệp, doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi và nhà khoa học hãy chủ động hợp tác chặt chẽ để xây dựng chuỗi giá trị ngô sinh khối bền vững, góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển thịnh vượng!