Tổng quan nghiên cứu

Ngành dệt may Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2008 ghi nhận tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân ấn tượng đạt 20%/năm và chính thức vươn lên vị trí dẫn đầu cả nước về giá trị xuất khẩu vào năm 2009. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của ngành luôn đóng góp ổn định từ 12% đến 14,04% trong tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia giai đoạn 2014 - 2017, cụ thể đạt 13,6% vào năm 2017 với giá trị xuất khẩu đạt 9.066 triệu USD. Tuy nhiên, ngành dệt may đang đối mặt với nút thắt lớn về sự phát triển thiếu bền vững khi giá trị nhập khẩu nguyên phụ liệu chiếm tới 57,92% kim ngạch xuất khẩu trong năm 2017, đồng nghĩa tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt mức xấp xỉ 42%. Đa số doanh nghiệp vẫn hoạt động dưới hình thức gia công cắt - may - hoàn thiện (CMT) với biên lợi nhuận thấp và tính tự chủ chuỗi cung ứng hạn chế.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ thực trạng, các rào cản và cơ hội trong hoạt động liên kết kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Mục tiêu cụ thể nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về liên kết kinh doanh, đánh giá toàn diện các chuỗi liên kết dọc, liên kết ngang và liên kết hỗn hợp, từ đó định vị năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp may Việt Nam trên thị trường quốc tế. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp dệt may trên lãnh thổ Việt Nam với trọng tâm dữ liệu giai đoạn 2013 - 2018. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp các luận cứ khoa học giúp doanh nghiệp vượt qua bất lợi về quy mô, giảm thiểu rủi ro thị trường và chuyển dịch mạnh mẽ sang các phương thức sản xuất tạo giá trị gia tăng cao hơn như FOB, ODM và OBM.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên nền tảng lý thuyết liên kết kinh doanh hiện đại và lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu. Liên kết kinh doanh được xác định là mối quan hệ phối hợp hoạt động kinh tế tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi giữa các thực thể kinh tế độc lập nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động. Luận văn vận dụng ba mô hình liên kết chính:

Mô hình liên kết dọc thể hiện sự kết hợp giữa các mắt xích kế tiếp nhau trong cùng một chuỗi giá trị từ cung ứng nguyên phụ liệu (sợi, dệt, nhuộm), sản xuất may mặc đến khâu logistics và phân phối sản phẩm ra thị trường, bao gồm cả tích hợp ngược và tích hợp xuôi. Mô hình liên kết ngang là sự hợp tác giữa các doanh nghiệp có cùng vị thế trong chuỗi cung ứng nhằm gia tăng quy mô kinh tế, chia sẻ đơn hàng và giảm áp lực chi phí tiếp thị. Mô hình liên kết hỗn hợp kết hợp linh hoạt cả chiều dọc và chiều ngang dưới các cấu trúc tập đoàn hoặc nhóm doanh nghiệp có sự gắn kết tài chính.

Bên cạnh đó, khung lý thuyết tích hợp các dạng thức hợp tác chuyên sâu như liên minh chiến lược (liên doanh, liên minh có vốn và liên minh phi vốn), hợp đồng gia công ngoài (outsourcing), li-xăng theo Điều 141 Luật Sở hữu trí tuệ và nhượng quyền thương hiệu. Luận văn kế thừa quan điểm của Wood và Grey (1991), Spekman và các cộng sự (1998), Weaver và Lawton (2002) về quan hệ đối tác tự nguyện chia sẻ nguồn lực; nghiên cứu của Asiedu và Freeman (2007) về vai trò nâng cao năng suất doanh nghiệp vừa và nhỏ; cùng nghiên cứu của Ngoc và Thang (2009) về vai trò của mạng lưới liên kết trong việc cải thiện năng lực tiếp cận tài chính tại các nền kinh tế mới nổi. Cơ chế tổ chức liên kết cũng được đối chiếu với khung pháp lý thực tế như Nghị định 56/2009/NĐ-CP và Quyết định 22/NQ-CP về hỗ trợ phát triển cụm doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk research) để thu thập và tổng hợp dữ liệu thứ cấp đa nguồn. Dữ liệu được trích xuất từ các báo cáo thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), Hội Dệt May Thêu Đan Thành phố Hồ Chí Minh (AGTEX), Bộ Công Thương và các tổ chức quốc tế.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu toàn diện của hơn 3.500 doanh nghiệp dệt may trên toàn quốc, trong đó tập trung phân tích mẫu đại diện gồm 2.450 doanh nghiệp may và 840 doanh nghiệp dệt may phân bổ tại 35 tỉnh, thành phố trọng điểm như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Đà Nẵng. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng theo vùng địa lý (62% doanh nghiệp tại miền Nam, 30% tại miền Bắc, 8% tại miền Trung) và theo loại hình sở hữu giúp phản ánh trung thực bức tranh ngành. Luận văn lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian 2013 - 2018 và phân tích cấu trúc chuỗi giá trị. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm đảm bảo tính khách quan, hệ thống và phát hiện chuẩn xác các đứt gãy thực tế giữa các mắt xích công nghệ, nguồn lực và thể chế quản trị trong chuỗi cung ứng dệt may.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng liên kết ngành dệt may Việt Nam cho thấy bốn phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, cơ cấu ngành dệt may mất cân đối nghiêm trọng giữa các phân ngành, gây khó khăn cho việc hình thành liên kết dọc nội địa. Trong tổng số 3.500 doanh nghiệp năm 2017, các doanh nghiệp chuyên về may mặc chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 70% (2.450 doanh nghiệp), phân ngành dệt và may chiếm 24% (840 doanh nghiệp), trong khi các doanh nghiệp sản xuất phụ liệu chỉ chiếm vỏn vẹn 6% (210 doanh nghiệp).

Thứ hai, mức độ đứt gãy trong liên kết dọc thể hiện qua sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu. Năm 2017, toàn ngành phải nhập khẩu 4.170 triệu USD tiền vải và 1.081 triệu USD phụ liệu, đưa tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu dệt may lên 5.251 triệu USD, chiếm 57,92% kim ngạch xuất khẩu. Dù tỷ lệ này đã cải thiện so với mức 69,99% của năm 2014 và 64,37% của năm 2016, tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa vẫn còn ở mức khiêm tốn xấp xỉ 42%.

Thứ ba, trình độ tổ chức sản xuất và công nghệ còn chậm đổi mới, làm suy giảm năng lực kết nối mạng lưới. Có khoảng 90% số doanh nghiệp may xuất khẩu vẫn sử dụng phương thức sản xuất bó cổ điển nhiều thao tác thừa và khó kiểm soát hàng tồn; số doanh nghiệp đầu tư chuyền treo tự động hoặc bán tự động hiện đại chiếm chưa đến 10%. Mặc dù sản lượng may sẵn tăng trưởng mạnh từ 923,0 triệu sản phẩm năm 2014 lên 2.503,2 triệu sản phẩm năm 2018, tỷ trọng đóng góp chủ yếu thuộc về khu vực ngoài nhà nước (57%) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (38%), còn khu vực nhà nước chỉ chiếm 5%.

Thứ tư, lợi thế cạnh tranh về chi phí nhân công đang dần thu hẹp trong khi năng suất lao động chưa tương xứng. Chi phí nhân công ngành may Việt Nam năm 2016 ghi nhận ở mức 0,38 USD/giờ, thấp hơn nhiều so với Trung Quốc (0,55 đến 1,08 USD/giờ) hay Thái Lan (1,29 đến 1,36 USD/giờ), nhưng lại cao hơn các đối thủ cạnh tranh trực tiếp như Bangladesh (0,22 USD/giờ - thấp hơn 42% so với Việt Nam) và Campuchia (0,33 USD/giờ). Tình trạng thiếu hụt lao động tay nghề cao diễn biến phức tạp với tỷ lệ chảy máu chất xám khoảng 6% kỹ sư và cán bộ kỹ thuật chuyển ngành mỗi năm.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh một thực tế: tính liên kết giữa các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phần lớn vẫn mang tính tự phát, cục bộ và thiếu tính chiến lược lâu dài. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc vốn đầu tư ban đầu cho một chuyền may 50 công nhân tương đối thấp, chỉ dao động từ 2,8 đến 3,5 tỷ đồng đối với chuyền cổ điển (khoảng 10 tỷ đồng cho doanh nghiệp quy mô 3 đến 4 chuyền), khiến rào cản gia nhập ngành thấp và tạo ra sự cạnh tranh phân mảnh. Các doanh nghiệp may có xu hướng chấp nhận phương thức gia công thuần túy để thu hồi vốn nhanh thay vì liên kết dài hạn với các nhà sản xuất dệt nhuộm trong nước.

Khi so sánh với Trung Quốc - quốc gia chiếm khoảng 28% thị phần dệt may toàn cầu năm 2009 với chuỗi cung ứng khép kín hoàn chỉnh từ sợi, dệt, nhuộm đến thiết kế và xuất khẩu có giá bán cạnh tranh hơn sản phẩm cùng loại của Việt Nam khoảng 20% - điểm yếu liên kết của Việt Nam càng bộc lộ rõ nét. Sự phân tán địa lý khi có tới 62% doanh nghiệp tập trung tại miền Nam cũng tạo ra độ lệch trong việc hình thành các cụm công nghiệp chuyên môn hóa toàn diện.

Để biểu diễn trực quan các kết quả này, dữ liệu thực trạng có thể được thiết kế thành biểu đồ cấu trúc hình tròn thể hiện tỷ lệ phân bố doanh nghiệp (70% may, 24% dệt-may, 6% phụ trợ) kết hợp biểu đồ cột chồng so sánh kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu và kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2014 - 2017. Bảng ma trận so sánh chi phí nhân công và năng suất lao động giữa Việt Nam và các nước châu Á cũng sẽ làm nổi bật bức tranh cạnh tranh gay gắt mà ngành dệt may đang đối mặt.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và bối cảnh hội nhập quốc tế với các hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP, luận văn đề xuất hệ thống bốn nhóm giải pháp đồng bộ nhằm củng cố và phát triển liên kết kinh doanh cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam:

Thứ nhất, thiết lập và chuẩn hóa các cụm liên kết ngang (horizontal clusters) nhằm chia sẻ đơn hàng và giảm chi phí vận hành. Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) và Hội Dệt May Thêu Đan Thành phố Hồ Chí Minh (AGTEX) đóng vai trò chủ trì xây dựng cổng thông tin liên kết năng lực sản xuất số, hỗ trợ các doanh nghiệp may nhỏ và vừa hợp tác thực hiện các đơn hàng lớn trên 100.000 sản phẩm. Mục tiêu đặt ra là cắt giảm 15% chi phí logistics nội bộ và tăng 25% tỷ lệ nhận đơn hàng xuất khẩu trực tiếp trong giai đoạn 2020 - 2022.

Thứ hai, đẩy mạnh liên kết dọc tích hợp ngược giữa doanh nghiệp may mặc và doanh nghiệp sản xuất sợi - dệt - nhuộm. Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX) cùng các doanh nghiệp may chủ lực cần ký kết các thỏa thuận đối tác chiến lược dài hạn, cam kết bao tiêu sản phẩm vải dệt và phụ liệu nội địa đạt chuẩn kỹ thuật. Target metric trọng tâm là nâng tỷ lệ nội địa hóa toàn ngành từ mức 42% lên trên 60% vào năm 2025, đáp ứng triệt để quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi của hiệp định CPTPP.

Thứ ba, tái cấu trúc dây chuyền và đổi mới mô hình tổ chức sản xuất. Ban lãnh đạo các doanh nghiệp dệt may cần chủ động đầu tư nâng cấp công nghệ từ chuyền bó truyền thống sang chuyền treo bán tự động và tự động với suất đầu tư khoảng 4.000 USD/trạm. Giải pháp này hướng tới mục tiêu gia tăng 20% đến 30% năng suất lao động, giảm thiểu tỷ lệ lỗi phế phẩm xuống dưới 2% và hoàn thiện lộ trình chuyển đổi trong vòng 3 năm từ 2020 đến 2023.

Thứ tư, hoàn thiện khung chính sách vĩ mô hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng công nghiệp phụ trợ. Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư triển khai hiệu quả các cơ chế ưu đãi theo tinh thần Nghị định 56/2009/NĐ-CP và Quyết định 22/NQ-CP, quy hoạch các khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung có hệ thống xử lý nước thải hiện đại. Mục tiêu thu hút tối thiểu 10 dự án đầu tư dệt - nhuộm công nghệ cao mỗi năm trong giai đoạn 2020 - 2025, giải quyết căn bản điểm nghẽn thiếu hụt nguồn cung nguyên liệu vải trong nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm thứ nhất là các nhà quản trị và ban giám đốc doanh nghiệp dệt may. Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và mô hình liên kết ngang, liên kết dọc giúp doanh nghiệp xác định chính xác vị thế trong chuỗi giá trị, từ đó đưa ra quyết định hợp tác chiến lược, chuyển đổi phương thức sản xuất từ gia công CMT sang FOB và ODM để tối ưu hóa biên lợi nhuận.

Nhóm thứ hai là các nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các cơ quan quản lý nhà nước. Nội dung luận văn cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về tỷ lệ nội địa hóa 42% và sự mất cân đối phân ngành, hỗ trợ việc xây dựng các chính sách ưu đãi phát triển cụm công nghiệp hỗ trợ dệt may phù hợp với các cam kết thương mại quốc tế.

Nhóm thứ ba là ban lãnh đạo các tổ chức hiệp hội ngành nghề như VITAS và AGTEX. Luận văn gợi mở các giải pháp xây dựng quy chế liên kết hội viên, thiết lập mạng lưới chia sẻ thông tin thị trường và điều phối đơn hàng xuất khẩu giữa các doanh nghiệp thành viên một cách minh bạch và hiệu quả.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế quốc tế và Thương mại quốc tế. Đề tài đóng vai trò là khung tham chiếu lý thuyết và phương pháp luận hữu ích về liên kết chuỗi cung ứng trong ngành thâm dụng lao động tại các nền kinh tế đang phát triển.

Câu hỏi thường gặp

Việc tham gia liên kết dọc mang lại lợi ích cốt lõi nào cho doanh nghiệp may xuất khẩu? Liên kết dọc giúp doanh nghiệp chủ động hoàn toàn nguồn nguyên phụ liệu chất lượng, rút ngắn thời gian giao hàng và đáp ứng quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi của các FTA thế hệ mới. Trong thực tế, khi nhập khẩu tới 57,92% nguyên liệu, việc liên kết với các nhà sản xuất dệt nhuộm nội địa giúp doanh nghiệp chuyển từ gia công CMT sang đơn hàng FOB, nâng cao đáng kể tỷ suất lợi nhuận.

Rào cản lớn nhất đối với các doanh nghiệp dệt may vừa và nhỏ khi thiết lập liên kết ngang là gì? Rào cản lớn nhất là sự thiếu hụt niềm tin chiến lược và nỗi lo bị chiếm đoạt khách hàng hoặc bí quyết sản xuất giữa các đối thủ cạnh tranh cùng ngành. Hơn nữa, việc 90% doanh nghiệp áp dụng phương thức sản xuất bó cổ điển khiến quy trình thiếu tính đồng bộ, gây khó khăn lớn cho việc chia sẻ và phối hợp thực hiện các đơn hàng lớn.

Quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi trong CPTPP tác động ra sao đến chiến lược liên kết ngành? Quy tắc này bắt buộc toàn bộ công đoạn từ kéo sợi, dệt vải, nhuộm đến may hoàn thiện phải thực hiện tại các nước thành viên để được hưởng thuế suất ưu đãi 0%. Do đó, nếu doanh nghiệp may Việt Nam tiếp tục nhập khẩu vải từ các thị trường ngoài khối như hiện nay, họ sẽ bị loại khỏi chuỗi ưu đãi, buộc toàn ngành phải liên kết dọc khẩn cấp để nội địa hóa nguồn vải.

Phương thức sản xuất chuyền treo mang lại hiệu quả vượt trội gì so với phương thức sản xuất bó truyền thống? Chuyền treo tự động giúp luân chuyển liên tục từng bộ chi tiết sản phẩm trực tiếp đến từng trạm thao tác, loại bỏ hoàn toàn các động tác thừa và tình trạng ứ đọng bán thành phẩm trên chuyền. Nhờ đó, phương thức này giúp người quản lý giám sát tiến độ theo thời gian thực, nâng cao 20% đến 30% năng suất lao động và giảm thiểu tỷ lệ sản phẩm lỗi hỏng.

Tổ chức hiệp hội ngành nghề như VITAS đóng vai trò gì trong việc thúc đẩy liên minh doanh nghiệp? Các hiệp hội đóng vai trò là cầu nối trung gian tổ chức các mạng lưới đối tác, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên và đại diện tiếng nói ngành với các cơ quan quản lý nhà nước. Thông qua việc tổ chức các hội chợ xúc tiến thương mại quốc tế và thiết lập quy chế chia sẻ thông tin, hiệp hội giúp các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí tiếp thị và phòng ngừa rủi ro thương mại.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu với các đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật sau:

  • Hệ thống hóa sâu sắc khung lý luận về các hình thức liên kết kinh doanh ngang, dọc, hỗn hợp và liên minh chiến lược trong ngành sản xuất công nghiệp.
  • Nhận diện chính xác thực trạng phân bố của hơn 3.500 doanh nghiệp dệt may và mức độ phụ thuộc nhập khẩu nguyên phụ liệu ở mức 57,92% năm 2017.
  • Chỉ rõ nút thắt công nghệ khi 90% doanh nghiệp may xuất khẩu vẫn sử dụng phương thức sản xuất bó cổ điển lạc hậu.
  • Đánh giá sự suy giảm lợi thế cạnh tranh chi phí lao động ở mức 0,38 USD/giờ trước áp lực cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia trong khu vực châu Á.
  • Đề xuất hệ thống bốn nhóm giải pháp khả thi gắn liền với mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa lên trên 60% vào năm 2025.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là cung cấp khung định vị chuỗi giá trị và lộ trình chuyển đổi từ gia công đơn thuần sang mô hình liên kết hợp tác bền vững cho ngành dệt may Việt Nam. Trong giai đoạn 2020 - 2025, ngành dệt may cần ưu tiên nguồn lực để hiện đại hóa dây chuyền sản xuất, đầu tư các cụm công nghiệp dệt - nhuộm tập trung và xây dựng nền tảng liên kết số. Các nhà quản trị doanh nghiệp cần nhanh chóng từ bỏ tư duy kinh doanh đơn lẻ, chủ động tham gia vào các liên minh chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển vững chắc trên thị trường toàn cầu.