Chương 1: Học thuyết Vô vi của Lão Tử Chương 2. Vận dụng học thuyết vô vi của Lão Tử vào việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vấn đề con người phải hòa hợp với tự nhiên và thích ứng với tự nhiên đã được đặt ra từ rất sớm trong tư duy nhận thức của các triết gia, nhà tư tưởng, đặc biệt là các triết gia phương đông: như Trang Tử: Trang Tử trí tuệ của tự nhiên đã đề cập đến lối sống hài hòa với tự nhiên không làm trái quy. luật, sống hải hòa với tự nhiên được đặt ra từ Lão Tử.
và các học trò của ông, phát triển như: Dương Chu, Doãn Văn, Thận Hào,. Trong “Minh triết phương Đông và Triết học phương Tây” của Erancois Jullien, (NXB Đà Nẵng, 2004) đã phân tích, giải nghĩa cụm từ Vô vi để người đọc có cách hiểu đúng đắn trong từng trường hợp cụ thể khi nói đến Vô vi. Vô cũng là thực tại, Vô vi không mờ ảo, không cần thượng để hay tạo hóa giải thích, không có sự vượt siêu cũng như phép lạ ở đây. Đến với “ Triết lý trong văn hóa Phương Đông” Nguyễn Hùng Hậu, (NXB Đại học sư phạm, 2006) tác giả đã đem Vô của Lão Từ so sánh với Không trong đạo Phật.
Cả hai đều thâm trằm, huyền ảo. Tiếp đó tác giả đề cập Vô vi tức là không làm gì nhưng không gì không làm, tức là không làm nhưng. lại làm tắt cả. Thánh nhân dung Vô vi mà xử sự, tức dùng bắt ngôn mà dạy dỗ để cho vạn vật nên mà không cản, tạo ra mà không biết chiếm đoạt, làm ra mà không cậy công, thành công mà không ở lại.
Bậc thánh nhân làm mà không. nói, khi việc thành thì lánh đi nên dân không hay. Hành động một cách vô vi là hành động theo đạo, hành động một cách tự nhiên, giống như cá đưới nước. mà không hề thấy nước làm một với nước.
Hoa nở nhờ mặt trời, mặt trời dường như không làm nhưng không đâu là không thọ ánh dương của nó. Mặt trời chiếu xuống vạn vật mà không hay mình chiếu. Vạn vật thọ ánh sáng mặt trời mà không hay mình thọ lãnh. Đó là hành động tự nhiên, là hành động Vô Vi.
Qua đây tác giả đã nêu bật được tư tưởng Vô Vi và hành động như thế nào. thì được gọi là Vô vi, Vô vi rất cần cho bậc thánh nhân, cho mọi hoạt động, sống của con người không đi trái lại với tự nhiện, với quy luật Trong * Lão Tử Tỉnh Hoa” của Thu Giang - Nguyễn Duy Cần (NXB văn học, 1991) đã đề cập 97 chữ Vô vi. Vô của Lão Tử là Vô dục, Vô trí, Vô ưu, Vô tư.Và đăc biệt những tư tưởng về chính trị về trị nước, tư tưởng về 'Đạo.Vô vi được đề cập một cách sâu sắc và xác đáng. Vô vi là hành động trở.
về với cội nguồn, từ bỏ những gì phiền phức đa đoan của văn minh giả tạo, về với thuần phác của tự nhiên. Vô vi không phải không làm gì mà làm một cách kín đáo đem cái tự nhiện mà giúp một cách tự nhiên, không dư tâm, vị kỉ, người thi ân không biết là thi ân, người thọ ân không biết là thọ ân. Bậc trị nước mà dung đến cái đạo Vô vi đân không hay là mình bị trị, dĩ nhiên được thuên hạ, mà tự mình cũng không bao giờ bị hại. Đúng là những tư tưởng vô giá, thế hệ sau có thể áp dụng ở nhiều lĩnh vực, đi sâu sát vào giáo dục ý thức hệ cho mọi hoạt động trong đời sông.
Trong “Đại cương triết học Trung Quốc” của Doãn Chính - Trương Văn Chung — Nguyễn Thế Nghĩa Vũ Tình (NXB, Chính trị quốc gia, 2002) Các tác giả đã phân tích tình hình cụ thể của bối cảnh lịch sử Trung Hoa cổ đại để đi đến cho ra đời những tư tưởng chính trị, triết học. Tư tưởng của Vô Vi của Lão Tử được ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt và đầy đủ những nhân biến động trong chính trị xã hội con người. Vì thế sự ứng dụng của học thuyết có sức lan tỏa ở mọi lĩnh vực cho mọi thời đại và đặc biệt là thời đại ngày nay, Ngoài ra các sách: * Đại cương Triết học sử Trung Quốc” của Phùng Hữu Lan (NXB, Thanh niên, 1999), “Lịch sử triết học” Bùi Thanh Quất — Vũ Tình (NXB giáo dục) đề cập đến tư tưởng Vô vi và nêu lên các cánh đánh giá khác nhau về Đạo, đường lối xử thế, về lý thuyết chính trị của Lão Từ. Bai bao “ Triét lý Vô của Lão Tử” ( Tạp chí triết học, 1997) của Nguyễn Hùng Hậu đề cập cách hiểu về Vô của Lão Tử, người biết thì không nói, người nói thì không biết, tất cả mục đích là để giải thích cho vô trong quan hệ với vô vi, làm một cách tự nhiên Bài viết “ Tư tưởng Vô Vi của đạo gia và ảnh hưởng của nó đến đời sống.
xã hội ngày nay” trên trang Tailieu.vn (2009) giải thích một cách khái quát về tư tưởng vô vi đồng thời phân tích ảnh hưởng của nó đến các lĩnh vực của đời sống như: Chính trị, pháp luật, kinh tế, đối ngoại, sinh thái, môi trường tự nhiên. Trong “ Bảo vệ môi trường từ góc độ đạo đức” của Nguyễn Văn Phúc. Tác giả xem xét, phân tích vấn để bảo vệ môi trường từ góc độ đạo đức. Theo tác giả, ưu thế của bảo vệ môi trường từ phương diện đạo đức là sự tự giác, đặc biệt là sự tự nguyện của các chủ thể , điều mà các phương diện khác không có được.
Từ đó, tác giả cho rằng cần thiết phải xây dựng đạo đức môi trường nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong mỗi quan hệ với tự nhiên, thực hiện đạo đức môi trường là bổn phan cia tat cả mọi người, của toàn nhân loại. Trong “Xây dựng đạo đức sinh thái một trách nhiệm của con người với tự nhiên” của Phạm Thị Ngọc Trầm (Tạp chí triết học, 2009) Tác giả nêu lên những đặc trưng cơ bản của đạo đức sinh thái khác với đạo đức xã hội nói chung. Trong quan hệ đạo đức sinh thái, con người bao giờ cũng là chủ thể, còn tự nhiên bao giờ cũng là khách thể; sự tác động giữa chúng chỉ đi theo một chiều là mang lại lợi ích cho con người và xã hội, bỏ quên lợi ích và giá trị nội tại của các khách thể tự nhiên. Vì vậy, con người đã mang lại hậu quả khôn lường cho môi trường sống.
Bài viết đã chỉ ra rằng, đạo đức sinh thái đồi hỏi một sự tự ý thức rất cao. Cuối cùng, bài viết khẳng định, trước vấn đề lợi ích trong nền kinh tế thị trường và thực trạng suy thoái nghiêm trọng của môi trường tự nhiên, vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái càng trở nên bức xúc. Tiến sĩ Phạm Văn Boong nhắn mạnh vai trò của ý thức sinh thái đối với sự phát triển bền vững. Tiến sĩ Vũ Minh Tâm nhấn mạnh đến việc giáo dục văn hóa sinh thái - nhân văn trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dân số.
Phó giáo sư tiến sĩ Phạm Thị Ngọc Trầm đã đề cập đến giá trị sinh thái truyền thống việt nam trong điều kiện kinh tế thị trường, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại, những giá trị sinh thái nhân văn Hồ Chí Minh. Văn hóa sinh thái - nhân văn đạo đức sinh thái. mà các tác giả trên đây đã nói đến đều thuộc phạm trù ý thức sinh thái, đó là những mặt hay những phương tiện cụ thể của ý thức sinh thái, ý thức bảo vệ môi trường. Ngoài các bài báo trên còn có các bài báo khác nghiên cứu về.
các vẫn đề môi trường như: Vũ Minh Tâm. Văn hoá sinh thái, nhân văn và hệ thống. tự nhiên, con người, xã hội. (Tạp chí Khoa học xã hội, 2006), Phạm Thị Ngọc Trầm.
Vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái trong điều kiện kinh tế thị trường. Tạp chí Triết học, số 3, 2002, nêu lên các vấn đề sinh thái liên quan đến ý thức của con người Trần Đắc Hiến với Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay thực trạng và các giải pháp (Tạp chí triết học, 2009) đề cập thực trạng ô nhiễm môi trường, ở nước ta trên các phương diện: ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí đồng thời, phân tích một số nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan dẫn tới sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất, luận chứng một hệ thống các giải pháp nhằm ngăn chặn hiệu quả những hành vi gây ô nhiễm môi trường, hướng tới cải thiện và nâng, cao chất lượng môi trường sống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta Bảo vệ môi trường từ góc độ đạo đức của Nguyễn Văn Phúc (Tạp chí triết học, 2010), Bài viết xem xét, phân tích vấn đề bảo vệ môi trường từ góc độ đạo đức. Theo tác giả, uu thé của bảo vệ môi trường từ phương diện đạo đức là sự tự giác, đặc biệt là sự tự nguyện của các chủ thể điều mà các phương diện khác không có được.
Từ đó, tác giả cho rằng cần thiết phải xây dựng đạo đức môi trường nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong mối quan hệ với tự nhiên; rằng, thực hiện đạo đức môi trường là bổn phận của tất cả mọi người, của toàn nhân loại. Ở phương trời Tây vào thời kì cận đại những nhà duy vật Pháp thế kỉ XVIII da dé cập đi đề con người nhận thức và chỉnh phục giới tự nhiên dựa trên cơ sở hiểu biết va tôn trọng những quy luật của tự nhiên. Tuy nhiên trong giai đoạn này các công trình nghiên cứu chỉ tập trung một chiều là đánh. giá ảnh hưởng của môi trường đến đời sống và phát triển của con người mà chưa chú ý đến tác động của con người đến môi trường.
Sang những năm 70, các nghiên cứu quan hệ tương hỗ giữa môi trường và con người đã thực sự được đặt ra. Nhiều viện nghiên cứu về môi trường được thành lập, nhiều môn khoa học về môi trường đã được thành lập ở các trường đại học, nhiễu tạp chí, sách chuyên khảo về môi trường đã được xuất bản. Các nước đã lần lượt cho ra đời các quy định và chính sách trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Từ nửa sau thế kỉ 20 đến nay, phong trào Hòa bình xanh, là phong trào chính trị xã hội rộng khắp thế giới, tập hợp những.