Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về xóa đói giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2005. Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2014. Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 1.
Những yếu tố ảnh hƣởng đến sự lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và chủ trƣơng của Đảng bộ 1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo * Điều kiện tự nhiên và xã hội Vị trí địa lý: Thái Nguyên là một tỉnh miền núi – trung du thuộc vùng Đông Bắc Bộ, nằm trong tọa độ địa lý từ 21,19 đến 22,03 độ vĩ Bắc; 105,29 độ đến 106,15 độ kinh Đông; phía bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, đông bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, đông nam giáp tỉnh Bắc Giang, tây bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, tây nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía nam giáp thủ đô Hà Nội. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.541,5 km2, gồm 9 đơn vị hành chính trực thuộc (thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, các huyện Phổ Yên, Phú Bình, Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai) với 181 xã, phường, thị trấn (trong đó có 122 xã, thị trấn thuộc khu vực miền núi, vùng cao). Với vị trí này, Thái Nguyên được xem như một nét gạch nối, là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và miền núi rừng đại ngàn Việt Bắc [2, tr. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, tên gọi và địa giới hành chính tỉnh Thái Nguyên có nhiều thay đổi.
Dưới thời Pháp thuộc, năm 1900, thực dân Pháp tách Thái Nguyên thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Năm 1956, Khu tự trị Việt Bắc được thành lập, thủ phủ đặt tại tỉnh Thái Nguyên. Ngày 21-4-1965, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. Ngày 6-11-1996, Quốc hội khóa IX ra Nghị quyết chia tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên.
Theo đó, từ ngày 1-1-1997, tỉnh Thái Nguyên chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Địa hình Thái Nguyên chia làm 3 vùng: Vùng cao gồm một số xã phía đông bắc huyện Đồng Hỷ và huyện Võ Nhai, địa hình phức tạp, hiểm trở, được chia cắt bởi các con sông, suối nhỏ tạo thành những thung lũng sâu, những cánh đồng hẹp và dài. Giao thông đi lại khó khăn nên đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn. Vùng núi gồm các huyện Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, địa hình đồi núi thấp, giao thông tương đối tốt, kinh tế - xã hội tương đối phát triển.
Vùng trung du gồm thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và các huyện Phú Bình, Phổ Yên, địa hình gồm các dải đồi thấp hình bát úp, xen kẽ giữa những cánh đồng tương đối rộng, giao thông phát triển, dân cư đông đúc, kinh tế - xã hội phát triển khá. Như vậy, vị trí địa lý như trên đã tạo điều kiện thuận lợi để Thái Nguyên giao lưu kinh tế với các tỉnh trong khu vực Việt Bắc, đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc. Đồng thời, kêu gọi các nhà đầu tư khai thác những tiềm năng, thế mạnh của địa phương, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tài nguyên thiên nhiên: Khí hậu và thủy văn của tỉnh Thái Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Theo số liệu của Tổng cục khí hậu thuỷ văn, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 1. Về tài nguyên nước, nguồn nước ngọt của tỉnh chủ yếu do hệ thống sông ngòi cung cấp, có hai sông chính là: sông Cầu và sông Công. Dòng sông được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành hồ Núi Cốc có mặt nước rộng khoảng 25 km2, với sức chứa lên tới 210 triệu m3 nước. Hồ này có thể chủ động điều hoà dòng chảy và cung cấp nước tưới tiêu cho 12 nghìn hecta lúa hai vụ màu, đồng thời cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công.
Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình, có lưu vực 6.030 km2, bắt nguồn từ Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn chảy theo hướng Bắc - Đông Nam, tổng lượng nước khoảng 4,5 tỷ m3, hệ thống thuỷ nông của con sông này có khả năng tưới cho 24 nghìn ha lúa hai vụ. Ngoài ra, Thái Nguyên còn nhiều sông 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhỏ khác thuộc hệ thống sông Kỳ Cùng và hệ thống sông Lô. Địa bàn tỉnh Thái Nguyên có tiềm năng về thuỷ điện kết hợp với thuỷ lợi quy mô nhỏ. Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 354.104,39 hecta, trong đó: đất núi chiếm 43,83%, có độ cao trên 200m; đất đồi chiếm 24,57% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu hình thành trên đất cát kết, bội kết, phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo; đất ruộng chiếm 12,11%, nhưng phần lớn có độ phì thấp; đất chưa sử dụng chiếm 15,11%, khoảng 53.533,6 hecta, là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình tỉnh Thái Nguyên không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du miền núi khác [2, tr.
Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc Nam, thấp dần xuống Phía nam. Bao gồm: Phía Tây Nam có núi Tam Đảo với đỉnh cao nhất là 1.590m, các dãy núi dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam; dãy núi Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam đến huyện Võ Nhai; dãy núi Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Cả ba dãy núi trên đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa Đông Bắc vì vậy Thái Nguyên ít chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa Đông Bắc. Tài nguyên khoáng sản: Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương, hiện có 34 loại hình khoáng sản, phân bố tập trung ở Đại Từ, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Lương, tài nguyên ở Thái Nguyên bao gồm các nhóm chính sau: Nhóm nguyên liệu cháy, gồm: than mỡ, với trữ lượng tiềm năng khoảng 15 triệu tấn, chất lượng tương đối tốt phục vụ đủ cho nhu cầu luyện kim; than đá với tổng trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu tấn.
Thái Nguyên được đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ hai cả nước, đủ đáp ứng nhu cầu cho sản xuất nhiệt điện và các nhu cầu khác. Nhóm khoáng sản kim loại, gồm cả kim loại đen như sắt, mangan, titan và kim loại mầu như chì, kẽm, đồng, niken, nhôm, vonfran, altimoan, thủy ngân, 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khoáng sản kim loại là ưu thế của Thái Nguyên, không chỉ so với trong vùng mà còn có ý nghĩa đối với cả nước. Nhóm khoáng sản phi kim loại gồm: pyrite, barit, photphorit, grapharit, trong đó đáng chú ý nhất là photphorit với trữ lượng khoảng 60.
Thái Nguyên có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng như đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi trong, sét xi măng có khoảng 84,6 triệu tấn. Ngoài ra Thái Nguyên còn có đất sét làm gạch ngói, cát sỏi dùng để xây dựng. Đáng chú ý nhất trong nhóm khoáng sản phi kim loại của tỉnh là đá carbonnat bao gồm đá vôi xây dựng có trữ lượng xấp xỉ 100 tỷ m3, đá vôi xi măng ở núi Voi, La Hang, La Hiên có trữ lượng 222 triệu tấn. Nhìn chung, Thái Nguyên là tỉnh có nhiều tài nguyên khoáng sản, trong đó có nhiều loại tài nguyên có ý nghĩa quan trọng trong phạm vi cả nước như: quặng sắt, than.
Đây chính là những yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản phát triển, mở ra những triển vọng mới cho công tác XĐGN nâng cao đời sống của nhân dân. Dân cư và nguồn lao động: Tính đến năm 2011 dân số của Thái Nguyên là 1.444 người, mật độ dân số là 323 người/ km2, số nhân khẩu tập trung ở nông thôn là 76,59%, lao động nông nghiệp chiếm tới 78,35% tổng số lao động toàn tỉnh. Trong tổng số 257.540 hộ, số hộ nông nghiệp là 73,75%. Tỉnh có 8 dân tộc anh em sinh sống, trong đó người Kinh chiếm 74,37% dân số, còn lại là các dân tộc thiểu số khác như: Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Cao Lan, Hmông, Hoa.
Dân cư trong tỉnh có sự phân bố không đều giữa miền núi và đồng bằng, giữa nông thôn và thành thị, giữa các huyện trong tỉnh. Những nơi tập trung đông dân cư như thành phố Thái Nguyên, các huyện Đại Từ, Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ. Những nơi tập trung ít dân cư là các huyện Phú Bình, Định Hóa, Võ Nhai và thị xã Sông Công. Mật độ dân cư giữa các thành phố, huyện, thị có sự chênh lệch nhau khá nhiều, năm 2000 thành phố Thái Nguyên có mật độ dân số trung bình là 1.250 người/km2, cao 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gấp 2 lần hai lần so với thị xã Sông Công và các huyện Phú Bình, Phổ Yên, trong khi đó mật độ dân cư trung bình huyện Võ Nhai chỉ đạt 72 người/km 2.
/Thái Nguyên có dân số trẻ, theo kết quả điều tra dân số 1/4/1999 số người trong độ tuổi từ 0 - 14 là 38,5%, số người trong độ tuổi từ 15 - 59 là 54,6%, số người trên 60 là 6,9%. Do lực lượng lao động phần lớn ở độ tuổi trẻ, sung sức vì vậy nếu tổ chức đào tạo tốt sẽ trở thành nguồn lực quan trọng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng CNH, HĐH [2, tr. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Hệ thống giao thông là cửa ngõ giao thông của nhiều tỉnh miền núi Đông Bắc, tỉnh có các tuyến quốc lộ chạy qua như: quốc lộ 3, quốc lộ 1B, quốc lộ 19, từ đó thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa giữ các vùng miền trong cả nước. Tuy nhiên hiện nay ở phần lớn các huyện miền núi đường giao thông từ huyện đến các xã còn nhiều khó khăn.
Lưới điện: Năm 2005 toàn bộ tỉnh đã được sử dụng điện lưới quốc gia. Toàn tỉnh có 1 trạm biến áp 220KV và 4 trạm biến áp 110 KV cung cấp đầy đủ nhu cầu sử dụng điện trong tỉnh.